Lý luận phê bình văn học
24.04.2016
Lê Văn Thảo
Nhân đọc “Đau đáu sông quê” của nhà văn Nguyễn Thanh



“Sống lặng lẽ, đi và viết…”. Nguyễn Thanh đã nói như vậy trong cuốn Kỷ yếu nhà văn. Và chỉ có bấy nhiêu, một câu, con người anh là như vậy. Hơn năm mươi năm lăn lộn với vùng đất Mũi Cà Mau, trong đó có mười lăm năm trong chiến tranh chống Mỹ. Từng ấy năm sống và chiến đấu, cũng từng ấy năm cầm viết, không thể nói gì hơn về những hiểu biết, gian khổ hiểm nguy anh đã trải qua, đã chịu đựng, tích lũy vốn sống cho ngòi viết của mình.


Cà Mau là vùng đất sản sinh ra nhiều nhà văn tài năng. Chỉ tính văn chương cùng thời, ta đã có Phúc Vân và Phi Vân, Sơn Nam và Lê Vĩnh Hòa… Chuyện kể Bác Ba Phi là ở đây. Cánh đồng Nọc Nạn là ở đây. Hương rừng Cà Mau mãi mãi sáng chói trên văn đàn. Nguyễn Thanh tiếp nối dòng chảy ấy. Và tiếp nữa là Lê Đình Trường, Nguyễn Ngọc Tư, Bích Ngân, Phan Trung Nghĩa, Đỗ Tuyết Mai, Quang Thắng, Lê Minh Nhựt, Huỳnh Thúy Kiều, Lê Minh Hiền, Nguyễn Thị Việt Hà… Dòng chảy dường như là bất tận. Vẫn biết văn chương là con người – con người tác giả và con người miêu tả - nhưng cảnh sắc, con sông, cánh đồng, phong tục tập quán không phải không góp phần quan trọng cho sáng tác. “Mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc”, câu nói khuôn sáo ta cứ nghe nhắc lại mãi, nhưng vẫn cứ nhắc, bởi nó luôn mang ý nghĩa không chỉ vị trí địa lý, còn là quá trình khai phá, chinh phục từ Bắc xuống Nam của cha ông, là nơi cha ông đã dừng lại ở đó, công cuộc vỡ hoang còn in dấu trong rừng U Minh, rừng đước, rừng mắm. Chỉ riêng điều đó thôi cũng là đề tài lớn cho các nhà văn khai thác.


Nguyễn Thanh đã viết hơn mười quyển sách trong đời mình: Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Truyện vừa, Bút ký, chưa kể nhiều bài báo đăng tải trên các Báo, Tạp chí địa phương và Trung ương… Đã miệt mài cày xới, giờ ở tuổi thất thập quí giá bỗng có ý muốn tuyển chọn một tập bài viết về người thật việc thật, vốn rất đắc dụng trong chiến tranh, thời bình cũng rất được ưa chuộng. Với một người đã một thời máu lửa, sống chết với mảnh đất thân yêu của mình, những bài viết về người thật, việc thật của anh không chỉ là những trang văn, mà còn là máu thịt, nghĩ tới là dạt dào yêu thương, là chảy nước mắt.


Tập ký “Đau đáu sông quê” gồm hai phần: Phần một viết về thời bình (sau năm 1975). Phần hai viết trong chiến tranh chống Mỹ (1960-1975). Đó là những vùng đất anh từng đi qua, ngay tên bài ta đã đọc thấy: Hòn Khoai, Cầu Tắc Thủ, Đồng Phong Thạnh, Lung Trích, Xóm Đìa, Bến tập kết Sông Đốc… Đó là những con người thân yêu, bạn bè, đồng chí, có tên và không tên, văn nhân và anh hùng, ta đọc thấy vị Chủ tịch huyện, nhà báo, nghệ sĩ sân khấu Nguyễn Hải Tùng, nhà văn Nguyễn Đình Thi, anh hùng Phan Ngọc Hiển, anh hùng Nguyễn Việt Khái, chị Ba Bay, ông già Bá Đỏ…


Xin được điểm qua một số bài của anh:


Đau đáu sông quê (một bài Bút Ký lấy tên cho Tập sách): Thật đặc sắc, chân tình, giản dị, viết về chính quê anh, về con sông trước cửa nhà anh, về người mẹ của anh. Đó cũng là quê, con sông, người mẹ của tất cả chúng ta. Cả không khí chiến tranh “bom đạn đầy trời”, chiếc xuồng chở đầy gia đình cha mẹ, con cái đi tản cư: Ba tôi uể oải cắm cây sào, giọng khô khốc: “Ta dừng thôi! Đi tới ắt gặp biển”. Má tôi nghe theo... Cuộc tản cư đó dường như ta cũng đã trải qua. Đó là vùng quê y như mọi vùng quê: Từ nhà tôi ở, thả ra vàm rạch, phải qua cái miễu Ông Tà dưới tàn cây mắm, cây cui, gặp ngay con sông Ông Đốc rộng rinh, dân thường gọi là sông Cái…


Hãy nghe một đoạn văn tuyệt hay tả về con sông: Sông Cái nước ròng không bỏ bãi. Vực sông sâu hoắm được dựng lên hai bờ lá dừa nước bịt khù, sừng sững. Mùa sa mưa, nước đầy tràn từ rừng U Minh Hạ đổ ra thay màu sông xanh biếc thành màu đỏ bầm, ngầu đục. Sông bổ nhào thành ngàn con sóng lưỡi búa, trắng dã. Ngược lại, mùa khô hạn, sông nhẩn nha, vướng vất làn sương mỏng tanh, thơ mộng lúc chiều tàn.


Nhưng trang hay nhứt vẫn là viết về người mẹ, như dòng sông nuôi nấng, vỗ về, ôm ấp chúng ta. Thật xúc động biết chừng nào, và cũng đau đớn biết chừng nào, cảnh người mẹ ở quê ra thăm con, sau bao nhiêu năm đi kháng chiến, trở về thành phố vẫn bận bịu với bao việc ở cơ quan, mà chúng ta tưởng là lớn lắm, người mẹ chỉ nhìn con từ xa rồi lên đường trở về, người con lại tiếp tục ra đi, và từ chiến trường xa hay tin mẹ mình đã mất, cũng trên dòng sông trong cuộc sống tảo tần…


Mỗi chúng ta đều có lỗi với mẹ mình!


Vùng biển ấy viết về vùng ven biển Cà Mau, xóm Kinh Năm – Rạch Gốc. Bài viết có nhiều tư liệu quí giá về nơi nương náu của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, trước khi ra Bắc, chuyến đi làm chuyển hướng đường lối cách mạng miền Nam. Đó là nhà ông Ba Pháo, qua lời kể của ông ta thấy hiện lên cả một thời gian khổ, cảnh dân tình chèo từng chiếc ghe nhỏ lấy nước ngọt từ Hòn Khoai đem về phân phát cho cả vùng, cảnh đồng chí Lê Duẩn đêm đêm chong đèn ngồi viết cương lĩnh “Đường lối Cách mạng miền Nam”. Và thật bất ngờ, tuy biết là chuyện thật, nhưng ta vẫn ngỡ ngàng. Ấy là sau khi nghe chuyện, mọi người kéo đi xem nền nhà di tích quí giá ấy, thì thấy không còn gì cả, chỉ là một biển nước mênh mông. Chuyện thường tình thôi, vật đổi sao dời, đất lở hết vậy thôi. Nhưng ta vẫn thấy ngậm ngùi. Nhưng rồi ta hiểu ra là điều tất nhiên. Bao nhiêu năm trôi qua, dấu tích bên ngoài nào có đáng gì, cái chính là cái được lưu giữ bên trong, trong tâm hồn con người.


Viết trên nền đất cũ: Một chuỗi dài hồi ức về đất cũ, xóm cũ nơi làng quê yêu dấu một thời gắn bó xương thịt với tác giả. Dĩ nhiên, những gì vướng đọng, hiện ra, lại là những điều day dứt khiến con tim người già trỗi dậy. Trong niềm vui, hạnh phúc lớn lao đan xen biết bao điều chua chát, nghiệt ngã cho thấy thời gian năm tháng kéo theo sự thay da đổi thịt của xóm làng cùng những thay đổi sâu sắc trong từng thân phận con người, chất người. Nhưng chính những con người ở chốn quê – những nông dân chân chất, tay lấm chân bùn, nghèo, thua thiệt, nhưng giàu lòng nhân ái, vị tha, yêu nước, vượt lên tất cả nhằm góp công sức cho hồn quê ngày thêm lai láng…


Có một bài viết chỉ hơn trang, nhân vật chính không phải là con người mà là một Cây me già, nhưng từng câu, từng chữ thấm đẫm những kỷ niệm cả một thời gian khổ, không thể phai mờ: “Cây me già đã gần tám mươi tuổi. Đứng chống đỡ với thời gian năm tháng, mưa dầm, gió bão, qua mấy đợt B52 rải bom, đương đầu với hàng nghìn lần càn quét, bắn phá, cây me già đã ngã xuống nhưng không chết. Gốc me xù xì giương ra đến ba chồi non, được con người nuôi dưỡng, ba chồi non lớn nhanh thành ba cây me già… đứng hiên ngang màu nâu sẫm, giữa rừng đước, rừng mắm bạt ngàn…”.


Có một người ở cạnh cây me già, xưa là cán bộ lãnh đạo giờ là ông già canh giữ, cả hai nhiệm vụ đều làm với nhiệt tình, mẩn cán như nhau. Như một bức tranh thủy mặc mộc mạc đơn sơ, nhưng dạt dào tình yêu thương.


Rừng cháy và những người đi qua rừng là bút ký viết về công việc bảo vệ rừng của những đội Thanh niên xung phong. Ta đang nói về những bài viết trong thời bình, bài này cũng vậy. Nhưng tác giả đã một thời sống trong chiến tranh, những trang viết không thể không thấp thoáng những hồi ức về bom đạn khói lửa. Có một chi tiết cực hay: một đội thanh niên xung phong còn lưu giữ được một cây đàn ghi-ta làm bằng thân cây mốp, dây đàn bằng dây choại. Đó là cây đàn tự chế của một thanh niên trẻ con người giữ rừng năm xưa trong chiến tranh, đã hy sinh trong chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” của Mỹ. Chi tiết đó không ai nghĩ ra được, chỉ có thể có trong chiến tranh, và chỉ có ở rừng U Minh.


Tập sách có những bài viết về những người thân, bạn bè đồng đội rất đáng quí. Như bài viết về Nguyễn Hải Tùng. Nhiều người trong chúng ta đã trải qua chiến tranh, và cũng nhiều người chúng ta có quen biết anh Út Nghệ (Nguyễn Hải Tùng). Nhưng sống là một chuyện, viết lại là chuyện khác. Giờ đây đọc lại những chuyện về anh Út Nghệ thời còn thiếu nhi, thanh niên, sống gian khổ trong rừng U Minh, ở trong những căn chòi lợp bằng vỏ tràm, chị Út đi bắt con chù ụ về rang ăn trong những ngày mang thai, ta không khỏi bồi hồi xúc động.


Phần hai của tập sách được viết trong những năm chiến tranh, có lẽ đây là đất địa thành thạo nhứt của tác giả. Như bản thân tôi cũng tham gia chiến tranh, tôi đọc thấy lại như in những khung cảnh ấy, những sự việc ấy, những con người ấy. Ví như chuyện về Ông già bá đỏ, tôi gặp không dưới năm bảy ông già như vậy. Và chuyện bám đường vượt lộ trong đêm hôm ấy, “cú bép cộng tròn năm”, tôi trải qua không ít hơn vài trăm lần. Những chuyện như thế cần phải được ghi lại.


Nhứt là những tội ác được kể trong Nhật ký về những con đường mòn thì phải khắc vào đá, ghi vào tâm khảm đời đời của nhiều thế hệ, những tội ác trời không dung đất không tha của một bọn người ác độc không phải thời nào cũng có. Chúng ta từng biết những chuyện như vậy, nhưng giờ đây đọc lại không khỏi rùng mình, không chịu nổi…


Người đọc ngày càng có xu hướng chuộng truyện viết về người thật việc thật. Thế giới cần có niềm tin, những chuyện thật có tên đất tên người cụ thể khiến người ta tin hơn. Tập bút ký của Nguyễn Thanh ra đời thật đúng lúc, cuộc sống xưa và nay vùng bán đảo Cà Mau được dịp sống lại trong lòng bạn đọc.


Tháng 3-2014


LVT.


 


trieuxuan.info