Hào 6 âm
Rồng chiến ngoài nội, máu chảy đen vàng. NHL giảng: Hào 6 âm đi đến cùng cực, âm thịnh đến cực điểm, tất xung đột với Dương, nên sát phạt nhau, tượng là rồng chiến ngoài đồng, hai bên đều bại, máu chảy, sắc đen vàng là sắc âm, sắc dương, tượng cả âm lẫn dương đều bị tổn hại.
Toán Hà Lạc giải: Ngôi âm thịnh đến cực điểm, xảy tai họa.
MHC: Làm tướng lãnh ra trận lập được công, nhưng quân sĩ chết nhiều. Hoặc chức vụ cao thì hay vượt quyền tiếm vị. Hoặc ở thế chênh vênh thì tác uy tác hại.
MKHC: Hung bạo, ngược ngạo đối với cấp trên, thích làm lớn, ham lập công, ý kiến không nhất định. Xấu nữa thì làm người lính gian nan tân khổ, hoặc bị hình thương chém giết, hoặc nữa khổ vì kiện tụng, hình ngục.
Vận Năm- Giới Quan: Bị hình hại, bị phạt. Giới Sĩ: Ngòi bút vẫy vùng nhưng rất khó tránh khỏi tổn hại, buồn phiền. Người thường: Phải tranh đấu rắc rối, có khi đi đến phá hại, nguy vong.
Người xưa có thơ rằng:
Có danh không có thực
Mưu toan nhiều thắc mắc
Việc làm chưa gì nên
Tụng, bệnh, lắm hình khắc
3- THỦY LÔI TRUÂN
1 0 0 0 1 0
(Difficulté primitive)
Truân là Nan (Khó khăn nhưng rồi có cơ hội). Truân còn nghĩa là Đầy (lúc âm dương giao hòa, vạn vật mới sinh sôi, nẩy nở đầy khắp), khi ấy còn chưa lấy gì làm hanh thông, nên còn khốn khó. Tượng quẻ là Mây Sấm.
Gặp lúc gian truân, có thể rất hanh thông (nguyên hanh), nếu giữ vững điều chính (trái với tà) và đừng tiến vội, mà tìm bậc hiền tài giúp mình.
PBC giảng: Quẻ Truân sau quẻ Càn và Khôn, phản ánh Thời vạn vật mới sinh ra, vận trời mới tạo dựng, còn hỗn mang, mờ tối, nên là Truân. Quẻ Ngoại là Khảm, Khảm thì hiểm; quẻ Nội là Chấn, Chấn thì động. Trong lúc hiểm mà hành động được phải là người mạo hiểm, có chí, có tài. Nhưng ở thời Truân, có tài đức chưa đủ, còn phải nhờ bạn hiền tài giúp đỡ. Tượng quẻ Ngoại là Mây, quẻ Nội là Sấm. Trên trời có Mây có Sấm là chưa có mưa, cơ trời còn đang vận động, nên là Truân.
Lời Tượng: Mây Sấm là quẻ Truân (Rối ren, gian truân). Người quân tử xem đấy mà sửa sang việc chính trị (Như việc hệ thống hóa các đường tơ để dệt vải trên khung cửi).
Toán Hà Lạc giải: Quẻ Truân (sau quẻ Càn và Khôn), phản ánh thời kỳ vạn vật mới sinh ra, vận trời mới tạo dựng. Tượng quẻ là trên trời có Mây có Sấm là chưa có mưa, cơ trời còn đang vận động. Tượng ấy vận dụng vào cuộc sống là đang buổi truân nạn cần có người giỏi việc tổ chức, sắp xếp việc quốc gia, việc xã hội, thiên hạ đang mong chờ. (Người xưa ví như việc sắp xếp, hệ thống hóa các đường tơ để dệt thành tấm vải – gọi tắt là kinh luân. Kinh là phân chia sợi, luân là dệt sợi). Người quẻ Truân là người ham hành động, mạo hiểm, có chí có tài. Nhưng họ biết đang thời Truân, tài đức chưa đủ, còn phải nhờ bạn hiền tài giúp đỡ. Tên quẻ thì xấu nhưng tượng quẻ rất tốt. Người quẻ Truân là người biết chờ đợi thời cơ, ra sức rèn luyện mình, có tài gỡ rối, sắp xếp tổ chức cuộc sống, liên kết với bạn bè tốt để gây dựng sự nghiệp. Châm ngôn người quẻ Truân chính là 2 chữ Kinh Luân. Quẻ Hỗ của quẻ Truân là Sơn Địa Bác. Bác là Tiêu mòn. Người quẻ Truân không những gian truân, còn bị tiêu mòn cái đức người quân tử, phải thận trọng từng bước tiến lên, có lộc không hưởng hết, để dành làm cái phúc về sau. Người quẻ Truân giao kết bạn bè nhưng cũng khó tránh khỏi cảnh quý nhân cô đơn của thời Bác vẫn tiềm ẩn trong số phận. Nguyệt lệnh thuộc tháng 6. Những tuổi Canh: Tý, Dần, Thìn; Mậu: Ngọ, Thân, Tuất được quẻ này rất tốt. Lại sinh vào tháng 6 là cách công danh, phú quý. Sinh từ tháng 2 đến tháng 8 cũng được hưởng phúc dày. Những tháng khác thì kém. Tuổi Thân, Thìn được quẻ Truân là cách quý hiển Thỏ Ngoạn Ngân Thiềm (thỏ ngắm vầng trăng bạc).
Người xưa có thơ rằng:
Ra tay gỡ mối kinh luân
Trước nguy sau vững gió xuân ôn hòa.
|
Hào 1 dương
Dùng dằng, lợi ở giữ điều chính. Lợi ở xây dựng các đơn vị nhỏ thuộc quyền đơn vị lớn (Ngày xưa là nước chư hầu).
Theo PBC: Dùng dằng, là do hào Dương, có chí nhưng địa vị còn thấp, bị 4 hào âm phía trên chèn ép, lại chưa đủ tài, phải thu thập bạn bè, xây dựng đơn vị nhỏ hơn, muốn tiến lên mà chưa được nên dùng dằng, quanh co chứ không phải do dự. Trong sử nước ta, khi Quang Trung bắt được Nguyễn hoàng Đức người của Gia Long, đã dắt lên ngủ cùng giường với mình, đó chính là tượng của hào 1 quẻ Truân.
Toán Hà Lạc giải: Thời buổi khó khăn, tiến thì làm việc dân việc nước. Lui thì giữ phận mình.
MHC: Xứng đáng ngôi vị lớn. Chỉ ngại rằng không phải thời thái bình thì hay bị kẹt vào nơi hiểm trở.
MKHC: Nên giữ mình, làm điều chính, tất cũng có uy quyền, được trọng vọng. Nhưng khi giải quyết công việc thường có tính ngờ vực, hoặc chậm chạp, thiếu quả quyết.
Vận Năm- Giới Quan: Được lựa chọn; tu nghiệp tiến bộ. Giới Sĩ: Gặp quý nhân; làm sáng tỏ nghĩa lý. Người thường: Nên thủ phận, nghĩ kỹ, đừng hành động càn mà rắc rối. Mệnh Nữ: Tốt, gây dựng nếp nhà hưng thịnh.
Người xưa có thơ rằng:
Giữ gìn thì được
Cầu danh chưa ra
Tính gần thì đặng nơi xa
Quý nhân gặp gỡ la đà bến sông.
Hào 2 âm
Khốn đốn ư! Khó tiến ư! Cưỡi ngựa dùng dằng ư! Không phải kẻ cướp mà là người muốn kết hôn với mình (hào 1 dương ở liền bên dưới), giữ chính, đừng chịu, mười năm sẽ thành (kiên tâm đợi hào 5). Theo PBC: Hào 2 được cả Chính lẫn Trung lại có Hào 5 chính ứng với mình cũng Chính Trung, xứng đáng quá. Nhưng ngặt có Hào 1 Dương mạnh mẽ ngay cận kề cũng cầu thân. Trong thời Truân nên càng khó xử, vì vậy mà dùng dằng, tiến lui đều khó. Cần biết: đó chẳng phải giặc cướp, người cầu thân đấy. Muốn thoát khỏi tình trạng đó, chỉ có cách giữ gìn chính đáng, kiên tâm chờ, mười năm là cùng (thời gian tượng trưng). Tuy là chuyện nam nữ nhưng suy ra tình bạn bè, thày trò đều có thể như vậy.
Toán Hà Lạc giải: Trong tình trạng tiến lên thì sợ phiền lụy, nhưng vẫn có đường tốt để theo.
MHC: Trước cô đơn, sau không; trước khốn đốn, sau không. Trong xóm làng là người hiền sĩ. Nơi hang núi, vẫn giữ được tiết nghĩa của bậc nữ lưu, của kẻ sĩ nghèo.
MKHC: Quên nơi gần, nhớ nơi xa, tránh người thân, tin người sơ, dù được nơi tin tưởng thu dùng cũng bị kẻ dưới ngờ ghét.
Vận Năm- Giới Quan: Được sắp xếp lên hạng bậc, đề bạt lên chức. (Mức ngang Ngũ Mã, Ngự Bình ngày xưa). Giới Sĩ: Tiến thủ gian nan. Người thường: Việc hôn nhân tuy dùng dằng rồi cũng vui vẻ. Số xấu gặp hào này thì xảy ra liên can kiện tụng, đường đời trở ngại, tiến thoái truân chiên.
Người xưa có thơ rằng:
Truân chiên đâu có lợi
Đường đi đâu có nhanh
Mọi việc nên thong thả
Hôn nhân rồi cũng thành.
Hào 3 âm
Đuổi hươu mà không người dẫn đường thì chỉ lạc giữa rừng. Người quân tử biết thời cơ ấy, chi bằng bỏ đi, tiến nữa sẽ hối thẹn.
NHL giảng: Hào 3 là âm, ở vị trí Dương, bất chính bất trung, tính chất đã không tốt mà ở thời Truân, hào 6 chính ứng ở trên cũng âm nhu không giúp gì được. Vậy mà cứ muốn làm càn, chẳng khác nào người ham đuổi hươu mà không có thợ săn giúp, chỉ vào sâu trong rừng mà thôi. Bỏ đi thì hơn. Toán Hà Lạc giải: Đừng đi liều, mua lấy khổ.
MHC: Biết thời cơ, cố thủ, liệu chiều mà xếp việc giữ yên, để tránh cơn hiểm nghèo. MKHC: Dễ phiêu lưu, mạo hiểm.
Vận Năm- Giới Quan: Bị hạch hỏi, điều tra vì tham nhũng. Giới Sĩ: Bị đình đốn, bôi nhọ. Người thường: Bị tai ương, giam cầm. Thủ phận, giữ yên phận là hơn.
Người xưa có thơ rằng:
Người quân tử biết thời cơ
Chẳng nên vọng động mà dơ dáy đời.
(Vọng động: hành động càn rỡ)
Hào 4 âm
Cưỡi ngựa dùng dằng ư! (Không lên được với hào 5) Quay xuống cầu kết bạn (với hào 1 Dương) thì tốt, không gì là không lợi.
Theo PBC: Hào âm ở vị trí 4 là âm nhu đắc chính, tính chất vẫn là người hiền, nhưng vì tài kém, mà gặp thời Truân, không thể chỉ cậy sức mình mà tiến tới được. Tuy thân cận với hào 5 nhưng hào 5 đã chính ứng với hào 2 rồi. Muốn tiến lên mà sợ hào 5 không cần dùng đến, nên dùng dằng là thế. Hào 4 nếu là người sáng trí, biết mình biết người, thì chớ nên cầu với 5 mà quay xuống cầu với hào 1, vừa là hào Dương cương, tính chất hiền tài, vừa là chính ứng, tất sẽ tâm đầu ý hợp, cùng gánh vác việc đời, không việc gì là không lợi.
Toán Hà Lạc giải: Đi cầu người hiền tài để ra tay cứu buổi gian truân và được hài lòng.
MHC: Người hiền tài, gặp được thủ trưởng sáng suốt, được vinh thăng. Không phải cầu cạnh ai mà người ta tìm đến mình. Mệnh Nữ: Chồng sang con quý.
MKHC: Ly hương lập nghiệp. Vì tính nhu nhược nên dù gặp quý nhân mà cũng chẳng làm nên công trạng gì.
Vận Năm- Giới quan: Được thăng thưởng. Giới Sĩ: Có cơ thành đạt, dịp may tự nhiên đến. Người thường: Nhân tình hòa hợp, mưu việc toại ý, bạn bè kết giao, giúp đỡ.
Người xưa có thơ rằng:
Vó câu mỗi bước dùng dằng
Gặp người cầu chuyện xích thằng xe tơ
Quý nhân giúp đỡ từ giờ
Tiến lên mọi việc có thừa hanh thông.
Hào 5 dương
Thời truân chiên, đến sự ban ơn huệ cũng vướng, không làm nổi, dù ở vị trí cao cả. Chỉnh đốn việc nhỏ thì tốt. Chỉnh đốn việc lớn thì xấu. NHL giảng: Hào 5 dương vừa chính vừa trung, ở địa vị chí tôn, đáng lẽ tốt, nhưng giữa thời Truân, lại ở giữa quẻ ngoại Khảm, hiểm, nên chỉ tốt vừa thôi. Hào 2 tuy ứng với nó, nhưng là âm nhu, không giúp được nhiều. Lại thêm hào 1 dương ở dưới, tượng người có tài đức, uy quyền gần như lấn hào 5, trong khi đó ân trạch của hào 5 không ban bố khắp nơi được. Cho nên hào 5 phải lần lần chỉnh đốn việc nhỏ trước, đừng vội làm việc lớn mà hỏng. Xem thế, có tài đức, có địa vị, nhưng cũng phải đợi có thế, có thời nữa. PBC chỉ rõ thêm: Đối chiếu sử nước ta thấy thân phận vua Lê thời Lê Trịnh ứng với hào này. Lê Cảnh Hưng là một ông vua hiền mà phải ngồi lặng 40 năm dưới áp lực của chúa Trịnh. Đến Lê Chiêu Thống muốn ức chế Trịnh phục hồi nhà Lê, nhưng không gặp thời, không có thế, đến nỗi nước mất nhà tan, đó là việc lớn không xong (đại trinh hung).
Toán Hà Lạc giải: Dù có đức cũng khó xem xét hết bên dưới. Sự nghiệp không phát triển được.
MHC: Dù có lòng muốn ban ơn cứu giúp người cũng chỉ đạt được kết quả nhỏ thôi.
MKHC: Chỉ thích làm lớn, lập công to, càng thêm tai họa.
Vận Năm- Mọi Giới: Mọi việc không nên nóng nẩy làm liều, phải suy xét dần thì mới tránh được tai nạn.
Người xưa có thơ rằng:
Hướng tây nên cầu vãng
Thu đông sẽ hết truân
Đừng nên do dự nữa
Gắng sức tự kinh luân.
(Được hào này đi về hướng Tây có lợi. Đến Thu Đông sẽ hết truân)
Hào 6 âm
Cưỡi ngựa dùng dằng, như khóc ra máu mắt, chảy đầm đìa.
Theo PBC: Hào này trên hết quẻ Truân, phản ánh thời Truân nạn đã đến cực điểm. Tuy có hào 3 chính ứng nhưng cũng là âm nhu cả, không ứng viện cho nhau được, ở thời Truân nạn mà không thày, không bạn. Hào âm, tài hèn, nhu nhược, lại ở địa vị khốn cực, nên lấy tượng người cưỡi ngựa không biết rẽ lối nào, khóc chảy máu mắt đầm đìa, không mong gì lâu dài nữa.
Toán Hà Lạc giải: Tiến lên thì chẳng biết đi đâu, lo sợ vô cùng.
MHC: Trước tiến sau lùi, chí chẳng kiên trì, thông kim bác cổ mà chẳng toại công danh. Cuộc sống buồn bực, già khổ.
MKHC: Thân thích bị hình thương. Hôn nhân xung khắc. Đương vinh liền thấy nhục. Vận Năm- Giới Quan: Phòng bị dèm pha. Giới Sĩ: Phòng bị hạ nhục. Người thường: Phòng tổn thiệt. Xấu nữa thì tổn thọ. Có tang cha mẹ.
Người xưa có thơ rằng:
Truân chiên đến thế thì thôi
Ngọn đèn ra gió, đường đời hỏi chi?
4- SƠN THỦY MÔNG
0 1 0 0 0 1
(Developpement inachevé)
Mông là Muội (còn non, ngu tối, cần được hướng dẫn). Mông còn là non yếu, mù mờ. Tượng quẻ: Dưới núi, suối mới chảy ra.
Trẻ thơ được hanh thông. Không phải ta tìm trẻ thơ mà trẻ thơ tìm ta. Hỏi (bói) một lần thì bảo cho, hỏi hai, ba lần là nhàm, nhàm thì không bảo. Hợp với đạo chính thì lợi (hanh thông)
NHL giảng: Theo tượng quẻ thì trên có núi (Cấn), dưới chân núi có nước sâu (Khảm), có nghĩa là tối tăm. Lại hình dung dưới chân núi có suối nước trong, như trẻ nhỏ (suối thì nhỏ, sông mới là lớn) gọi là "đồng mông", cho nên gọi quẻ này là Mông. (Mông là non yếu). Đặc biệt quẻ này chú trọng vào hào 2 và hào 5. Hào 2 là Dương cương đắc trung, làm chủ quẻ nội, đáng làm người thày cương nghị, mở mang cái tối tăm cho trẻ. Hào 2 ứng với hào 5 âm nhu thuận mà cũng đắc trung, là tượng học trò ngoan. Vậy là thày trò tương đắc, sự học hành tất có kết quả tốt, nên quẻ này có tính hanh thông. Tư cách của thày là cương, của trò là nhu, cho nên thày không phải cầu trò, mà trò phải cầu thày. Và khi dạy, trò hỏi một lần thì bảo. Hỏi 2, 3 lần thì là nhàm, không bảo. Bảo là nhàm trẻ thơ. Giữ được đạo chính thì có lợi, thành công. Theo Trình Di: Hỏi còn có thể hiểu là bói. Mới bói, thì thành tâm đến cầu để giải sự mờ tối, nên lấy đạo cương trung để mở mang cho. Bói 2, 3 lần là phiền nhiễu, là không thành tâm, là nhảm nhí khinh nhờn, không nên bảo nữa. Bảo họ, họ cũng không thể tin, nhận, là làm nhàm lẽ trời của họ. Cả người hỏi, người bảo đều phiền, nhàm. Lời Tượng: Dưới núi, suối mới chảy ra là quẻ Mông (trẻ thơ). Người quân tử xem đấy mà giữ nết cho quả quyết, nuôi đức cho cao. PBC phụ chú: Lời tượng này chỉ cho ta cách nuôi dưỡng thời trẻ thơ (Mông), phải “quả hạnh dục đức” (giữ nết nuôi đức) mới nuôi được trẻ thơ, mà thành được sự nghiệp của Thánh. Nhưng cội gốc là ở hai chữ Dục đức. Đức là cội gốc ở phía trong; Hạnh là nhánh lá ở phía ngoài. Đức có bồi dưỡng được dày, thời Hạnh mới quả quyết (giữ) được. Phép dạy ở các nước văn minh xưa nay chú trọng về Đức dục, sau mới đến trí dục, thể dục, là trùng hợp với ý quẻ Mông.
Toán Hà Lạc giải: Tượng quẻ là dưới núi, suối mới chảy ra, chưa có hướng nhất định. Như trẻ thơ, còn non yếu. Người quẻ Mông chan hòa trong thế giới trẻ thơ, dễ đi sâu vào khoa Nhi đồng, khoa giáo dục, tâm lý học trẻ em, có mệnh làm thày giáo. Người quẻ Mông như đi trong sương mù nên có rất nhiều điều muốn biết, muốn hỏi, muốn bói, người xưa khuyên không nên hỏi nhiều, sinh nhàm. Sương mù sẽ tan và thế giới sẽ hiện ra. Người quẻ Mông như con suối mới xuất hiện dưới núi, còn ngơ ngác trước nhiều ngả đường nên không tránh khỏi sa vào vũng nước quanh co bùn nhơ, tham vàng bỏ nghĩa, bỏ gốc theo ngọn, bỏ chính theo tà, bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc. Nhưng núi trên, suối dưới nên nhất định suối sẽ thành sông, quẻ Mông vẫn hanh thông. Ngưởi quân tử xem quẻ này mà quyết tâm nuôi dưỡng tính tình, đức độ để định hướng cho đời mình. Châm ngôn người quẻ Mông là 4 chữ Quả Hạnh Dục Đức (giữ nết, nuôi đức). Bốn chữ này nữa cũng rất hay: Hòa Quang Đồng Trần (Hòa ánh sáng với bụi đời). Quẻ Hỗ của quẻ Mông là Địa Lôi Phục. Phục là Phản, là Trở lại. Người quẻ Mông cần biết rằng với quẻ Phục, khí dương bắt đầu sinh, tốt lắm, nhưng cần giữ gìn sự yên tĩnh cho khí dương sinh, như người mẹ cần bảo vệ bào thai. Nên tĩnh không nên động. Cảnh giác trước mọi cám dỗ và trở lại với điều thiện, với cái tốt lành. Nguyệt lệnh thuộc tháng 8. Những tuổi Mậu: Dần, Thìn, Ngọ; Bính: Tuất, Tý, Dần được quẻ này rất tốt. Lại sinh vào tháng 8 là cách công danh, phú quý. Người tuổi Dần, Tuất được quẻ Mông là cách quý hiển Hổ Ẩm Thanh Tuyền (hùm uống nước suối trong).
Người xưa có thơ rằng:
Tiến thoái ý chưa quyết
Lòng ngỡ việc chưa thành
Muốn nên danh và lợi
Đợi buổi nhất dương sinh
(ý nói đợi đến tháng 11, lệnh tháng là quẻ Phục. Quẻ này tiềm ẩn trong quẻ Mông).
|
Hào 1 âm
Muốn mở trí ngu tối cho trẻ, có khi phải dùng hình phạt mới được, nhưng chỉ dùng để tháo gông cùm cho khỏi những thói xấu thôi, rồi cảm hóa dần. Chớ đi quá đà sẽ hối tiếc. Theo Trình Di: Gông cùm còn phải hiểu là gông cùm về sự mờ mịt. Theo NHL: Hào âm này ở vị trí thấp nhất trong quẻ Mông là tượng kẻ hôn ám nhất, nên phải dùng hình phạt mới cởi cái gông cùm cho họ được.
Toán Hà Lạc giải: Thuộc lớp người làm rõ đường lối hay phương pháp dạy trẻ.
MHC: Gần bậc tôn quý, chuyên cần đi vào ngành giáo hóa đức nghiệp, không mưu cầu danh lợi, cũng không cần văn bằng, đi vào con đường biên soạn sách giáo dục, xây dựng những điển hình, không cần quyền uy mà vẫn thưởng phạt được. (Quẻ thuộc mệnh nhà giáo).
MKHC: Làm lương dân, người lành đủ ăn đủ mặc, không bị cảnh gian nan.
Vận Năm- Giới Quan: thuộc ngành giáo dục, nhà văn, nhà pháp luật. Giới Sĩ: Bắt đầu thi cử. Người thường: Hay bị vào cửa quan, xích mích với bạn bè, đấu tranh xô sát, dèm pha ám muội. Nhưng sau cũng được giải thoát khỏi hoạn nạn. Số xấu còn bị án hình.
Người xưa có thơ rằng:
Hình phạt mới phá được ngu
Phạt xong lại thả để cho hiểu dần
Hào 2 Dương
Bao dung kẻ mờ tối, tốt. Dung nạp hạng người nhu ám, tốt. Phận con mà sửa trị được việc nhà (ở ngôi dưới mà gánh vác việc trên). NHL giảng: Hào 2, dương cương, đắc trung, cho nên bảo là có đức bao dung; nó làm chủ nội quái, thống trị cả 4 hào âm, cho nên bảo nó dung nạp được các hào âm, nó ở dưới thấp mà lại là hào quan trọng nhất, nên ví nó như người con mà cai quản được việc nhà. Được hào này là tốt. PBC chỉ rõ thêm: Hào 5 ở địa vị tôn quý trong quẻ tức như cha trong nhà, hào 2 ở dưới, như con. Cha nhu nhược, vì là âm, con cương cường sáng suốt, vì là dương, cảm hóa được cha, làm cho cha hết hôn ám, như vậy là con sửa trị được việc nhà.
Toán Hà Lạc giải: Làm đúng đạo thầy thì tốt.
MHC: Là bậc hiền tài lớn, đại lượng, bao dung được mọi việc, giữ hòa khí với mọi người, trung hiếu vẹn toàn.
MKHC: Khởi gia lập nghiệp, vợ đảm, con quý.
Vận Năm- Giới Quan: Nên giữ phận mình. Giới Sĩ: Là học trò, sinh viên nên vào sư phạm. Người thường: Được nhân tình hòa hợp, mọi việc đều thành, hôn nhân tốt lành, sinh nở khỏe mạnh, khi động, khi tĩnh đều bình an.
Người xưa có thơ rằng:
Trăng khuyết rồi lại tròn
Hoa tàn, mọc trái non
Nửa đường chưa tròn việc
Gặp dịp sẽ hay hơn.
Hào 3 âm
Đừng dùng hạng con gái, thấy trai có vàng thì coi thân mình như chẳng có, chẳng có lợi gì cả. (Hào 3 không trung, không chính mà ứng với hào 6 Dương). PBC nhấn mạnh: Hào này lấy tượng con gái đáng chê nhưng không phải chuyên nói về phụ nữ. Nó còn nói về bọn tiểu nhân tham vàng bỏ nghĩa. Xưa có anh Phùng Đạo bỏ vua này thờ vua khác, làm quan trải năm đời vua, là ứng với hào này. Hễ ai có quyền dùng người, hãy nhất thiết bỏ hạng người đó.
Toán Hà Lạc giải: Kẻ yếu hèn, dễ bán rẻ danh phận, không đáng thu dùng.
MHC: Dù là người học rộng biết nhiều, có danh lợi, nhưng cũng là kẻ bỏ gốc theo ngọn, bỏ chính theo tà. Mệnh Nữ: Làm sủng thiếp (thiếp yêu), ni cô, kỹ nữ thì cũng yên thân.
MKHC: Có thói thâm hiểm, khua môi múa mép, nhiều lý thuyết, ít thực hành (Nói nhiều làm ít) bôn tẩu bụi đời, lao lực tâm thần.
Vận Năm- Giới Quan: Tham nhũng, nhục nhã. Giới Sĩ: Bỏ học tránh nghề. Người thường: Dư luận chê bai. Hoặc mang họa tửu sắc. Nên yên tĩnh đề phòng mọi việc.
Người xưa có thơ rằng:
Chẳng nên ham rượu dưới hoa
Cũng đừng thấy của mà lòa mắt tham.
Hào 4 âm
Khốn vì trẻ ngu tối. hối thẹn. NHL giảng: Quẻ Mông chỉ có 2 hào 2 và 6 là Dương cương, có thể cởi mở sự hôn ám được, còn 4 hào kia đều là âm hết. Hào 4 này cũng hôn ám như hào 3 nhưng còn tệ hơn hào 3 vì ở xa hào 2 dương (hào 3 còn ở gần hào 2 Dương), xung quanh toàn âm hết (hào 3 và hào 5 đều âm) như bị nhốt trong vòng hôn ám. Nó phải hối tiếc, xấu hổ vì trong 4 hào âm chỉ một mình nó ở xa các hào Dương, tức phải xa những người hiền minh, càng khốn trong vòng tối tăm. PBC chỉ rõ thêm: Hào 4 tư chất đã khốn nạn, mà lại không chịu học, tất là giới hạ lưu mà thôi.
Toán Hà Lạc giải: Bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc. Cái hại không biết làm thân với người giỏi để học.
MHC: Tuy có tài nhưng khó gặp được người lãnh đạo sáng suốt (minh chủ) cứ thui thủi giữ tiết lấy một mình, uổng tài ở nơi hẻo lánh.
MKHC: Ít giao thiệp, hay khoe khoang, hiếm con cháu, chỉ nên làm tăng đạo.
Vận Năm- Giới Quan: Không người đỡ đầu, không ô dù, hoặc tay chân, chậm thăng thưởng. Giới Sĩ: Không ai đề cử, khó tiến thân. Người thường: Lạnh nhạt nhân tình, kinh doanh trắc trở. Yên tĩnh thì hơn, động càn có hại.
Người xưa có thơ rằng:
Buồn vì cùng khốn, u mê
Tìm người chân chính lắng nghe chuyện đời
Hào 5 âm
Bé con, chưa biết gì, (nhưng dễ dạy, tốt). PBC giảng: Hào 5 âm nhu nhưng đắc trung, địa vị tôn quý, nên biết nép mình tìm người hiền, tín nhiệm hào 2 Dương ở dưới, tượng ông vua biết dựa vào hiền thần. Nhờ có đức nhu thuận, khiêm tốn, dốc lòng nghe thày, lại được thày cương minh như hào 2 nên kết quả tốt.
Toán Hà Lạc giải: Cách dùng người tài phải chí thành thì sự nghiệp trị nước mới có kết quả.
MHC: Trẻ tuổi minh mẫn, đứng tuổi khiêm nhường, dễ thành tài khi còn trẻ, nhờ phúc tổ được chọn ra đảm nhiệm việc lớn, công việc trôi chảy.
MKHC: An phận thủ thường, hòa ánh sáng với bụi đời (hòa quang đồng trần), không điều tiếng gì.
Vận năm- Mọi người đều được vừa lòng, toại ý.
Người xưa có thơ rằng:
Đồng mông có ứng bên đông
Thuận buồm vượt sóng qua sông dễ dàng
(Đồng mông: trẻ thơ non yếu. Người hào này có ứng ở phương Đông)
(còn tiếp)
Nguồn: Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học sắp phát hành.
|