CHƯƠNG VII
CÁC VĂN GIA THỜI ĐẠI MỚI (tiếp)
(VĂN CHƯƠNG THẾ KỈ XX)
Phần lớn các nhà văn sinh trưởng từ đầu thế kỉ XX đều hấp thụ một nền giáo dục mới - Pháp học - nhưng vẫn sáng tác, trước tác theo tinh thần truyền thống Việt Nam mà tác phẩm của họ đã góp phần làm phong phú cho thư tịch Việt Nam.
1. NGUYỄN ĐỨC NHUẬN(1) với "Phụ nữ tân văn"
Ông Nguyễn Đức Nhuận là một nhà quản lí báo hơn là một cây bút báo chí, tuy nhiên với khả năng quản lí, ông (cả vợ ông, bà tên là Cao Thị Khanh: 1900-1962) đã làm sống dậy cái hào khí của nhân dân Việt Nam - nói chung - và các nhà báo Việt Nam - nói riêng.
Có thể nói Phụ nữ Tân văn là một tờ báo tập hợp được nhiều nhà văn nổi tiếng nước nhà, mà cũng là một cơ quan ngôn luận gây nên một hiện tượng báo chí Việt Nam trong thời mất nước. Để thấy được tài năng và vai trò Nguyễn Đức Nhuận, chúng tôi xin trích lại đây bài : "BÀI HỌC NGUYỄN ĐỨC NHUẬN" của nhà văn Thiếu Sơn (1908-1978) :
Sách có chữ : "Phú nhuận ốc, đức nhuận thân". Do đó mà nhiều người Việt Nam có tên Đức Nhuận. Trong làng báo, tôi biết có tới ba ông Đức Nhuận cũng họ Nguyễn cả. Ông nào cũng gần tới thượng thọ. Trước hết là Nguyễn Đức Nhuận tự Phú Đức, một nhà văn đã có hồi tên tuổi như cồn do những tiểu thuyết kiếm hiệp của ông. Kế tới là ông Nguyễn Đức Nhuận tự Bút Trà, vừa làm báo, vừa làm thơ.
Sau hết là ông Nguyễn Đức Nhuận, chủ nhiệm tờ "Phụ nữ Tân văn", một tờ tuần báo Phụ nữ nhưng đã phản ảnh được một thời đại quan trọng của lịch sử nước nhà. Số đầu ra ngày 2-5-1929 số chót đề ngày 18-5-1933. "Phụ nữ Tân văn" là một nhân chứng trung thực trong suốt 5 năm là những năm có rất nhiều biến cố.
Nhưng có một biến cố mà tờ Phụ nữ Tân văn không ghi được là cái chết của những người đã khai sanh cho nó và nuôi sống nó để phục vụ xã hội một cách tận tình và đắc lực.
Tôi không bao giờ tưởng tượng được một đám tang mà người đi không đầy một trung đội, không vợ, không con, chỉ vỏn vẹn có hai đứa cháu nội với một số rất ít bạn bè thân quyến.
Tôi biết kẻ quá cố là một người hào phóng hiếu hữu, hay làm nghĩa và hay giúp đỡ mọi người. Cả những người ông không quen biết mà ông thấy nên giúp đỡ là ông giúp. Nhưng tới khi ông nằm xuống thì chẳng mấy ai được biết mà lui tới, mà tiễn đưa. Chẳng qua ông cũng chỉ là một nạn nhân của thời cuộc như bao nhiêu người khác vậy thôi. Phú quý sanh lễ nghĩa. Mà hoạn lạc thất nhân tình.
Ông chết ngày 5 tháng 6 năm 1968 hưởng thọ 68 tuổi. Năm năm trước đây, ông bị đứt mạch máu, chính tôi đưa ông vào nhà thương St. Paul(1). Y học cứu sống được ông, nhưng chỉ cứu được nửa người và suốt trong 5 năm trời ông chịu bán thân bất toại. Cố nhiên trong tình trạng đó, bè bạn lần lần phải thưa bước. Mà thưa là phải khi không còn "phú" để "nhuận ốc", không còn "đức" để "nhuận thân".
Chính tôi đây nhiều khi cũng ngần ngại không muốn ghé thăm một ông bạn già đương lê tấm thân tàn để chờ ngày tắt thở, không còn biết tới sanh, thú là gì, chỉ muốn chết mau mà cứ phải kéo dài sự chết suốt 5 năm trường…
Tôi còn nhớ lần đầu tiên tôi gặp ông ở báo quán Phụ nữ Tân văn tại "Chợ Cũ" đường Vannier ngang hông kho bạc. Ông còn giới thiệu những nhân vật mà tôi chỉ mới được nghe tên chứ chưa từng biết mặt như những ông Đào Trinh Nhất, Trần Quỳ v.v… Hồi đó khoảng năm 1931.
Trước khi viết tôi đã đọc Phụ nữ Tân văn rất nhiều cũng như tôi đã say sưa đọc "Đông Dương Tạp chí" và tạp chí "Nam Phong". Nhưng đọc báo Phụ Nữ tôi thấy khác với hai tờ báo trên nhiều lắm.
Lời lẽ bóng bảy, kém văn chương nhưng chơn thành giản dị và thực tế hơn nhiều. Những biến cố xảy ra ở trong nước được nói tới đầy đủ hơn, thẳng thắn hơn, kịch liệt hơn nên có nhiều khi có những khoảng trắng bị kiểm duyệt.
Điều đó không lạ vì "Đông Dương Tạp chí" và "Nam Phong tạp chí" là những tờ báo có tiền trợ cấp của chính quyền thuộc địa còn Phụ nữ Tân văn là tờ báo riêng của ông bà Nguyễn Đức Nhuận..
Nhưng đừng tưởng rằng cứ bỏ tiền ra làm báo là giữ cho nó được độc lập, không chịu sức thao túng của chánh quyền. Biết bao nhiêu tờ báo của tư nhân đã tự nguyện làm tay sai đắc lực cho thực dân, cho phong kiến, cho nhà Ngô(1)… Ngay trong thời kỳ toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn có những tờ báo hoan hô những thắng lợi của quân viễn chinh Pháp.
Có so sánh như thế mới thấy rõ giá trị của tờ Phụ nữ Tân văn trong thời kỳ thực dân toàn thịnh mà dám đề cao những anh hùng liệt sĩ bị thọ án tử hình ở Yên Bái, dám lên án những vụ oanh tạc có ý tiêu diệt cả làng Cổ Am, dám công khai ủng hộ những nhà chí sĩ ái quốc, dám đăng tải những bài chống chính sách thực dân, dám tiếp đón những cây bút chống công thức.
Phan Khôi, Đào Trinh Nhất và biết bao nhiêu nhà văn khác đã do sự cộng tác với Phụ nữ Tân văn mà nổi tiếng.
Một chính trị phạm bị lưu đày ở Côn Đảo đã nhờ Phụ nữ Tân văn mà giữ lại tên tuổi tới ngày nay. Tôi muốn nói ông B.Đ tức Bửu Đình, tác giả của những bộ tiểu thuyết "Mảnh trăng thu", "Cậu Tám Lọ" v.v…
Cả tới nhà văn Hồ Biểu Chánh tuy đã được độc giả lưu ý nhưng chỉ sau khi có tiểu thuyết đăng trong Phụ nữ Tân văn mà người ta mới thực sự chú ý tới ông.
Trường hợp ông Phan Khôi cũng vậy. Ông đã viết trên tạp chí Nam Phong. Ông đã viết ở Đông Pháp Thời Báo. Nhưng người ta chỉ đặc biệt lưu ý tới ở Phụ nữ Tân văn.
Hồi đó một bài báo được trả nhuận bút 5 đồng là hậu lắm mà Phụ nữ Tân văn đã dám trả cho nhà văn Phan Khôi 100 đồng 4 bài trong một tháng.
Không những đối với ông Phan Khôi, đối với tất cả những người nào đã hợp tác với Phụ nữ Tân văn, hai vợ chồng ông chủ nhiệm đều đối xử trọng hậu nhã nhặn, có thái độ trọng sĩ, chiêu hiền là một thái độ rất hiếm có của nhiều vị chủ báo ngày nay.
Có người nói với tôi : ông Nguyễn Đức Nhuận là người có đầu óc con buôn. Tôi đồng ý là ông rất thông minh. Thực tế trong công việc làm ăn biết nắm lấy cơ hội, lợi dụng cơ hội để tay trắng làm nên sự nghiệp. Nhưng khi bắt tay làm báo, ông không hề lợi dụng tờ Phụ nữ Tân văn để mưu đồ tư lợi. Trái lại, ông tự đặt cho ông một vai tuồng quan trọng muốn tờ báo được phát triển ra ngoài các khuôn khổ của nó.
Có hai việc đáng nêu ra là "Đồng xu học sinh" và "Hội chợ Phụ nữ".
Việc thứ nhứt ông thành công là đã hô hào thành lập một quĩ học bổng để giúp cho học sinh nghèo được xuất dương du học. Với một phần tiền lời của tờ báo, quỹ "Đồng xu học sinh" đã được gởi hai thanh niên ưu tú qua Pháp du học cho tới thành tài. Một người đậu kỹ sư, một người được dự bị thi thạc sĩ.
Đáng lẽ thì hai ông này sau khi thành tài về nước phải hoàn lại học bổng cho những người tới sau. Nhưng ông Nguyễn trong những ngày gần đây thường nói với tôi rằng :
"Các ông không hoàn lại gì cả. Mà cũng chẳng thấy mặt mũi của các ông đâu cả".
Như vậy thì "Đồng xu học sinh" thành công hay thất bại.
Ở đây ta đừng nói tới sự thất bại hay thành công, ta chỉ ghi lại một sáng kiến, một thiện chí hay là một tấm lòng của người quá cố đã sống tích cực và đã chết cô đơn.
Việc thứ hai là tổ chức Hội chợ Phụ nữ vào khoảng năm 1933.
Lần thứ nhứt, 4 vị phụ nữ đã thay nhau lên diễn đàn và đã gây được một phong trào phụ nữ ồ ạt thúc đẩy người phụ nữ phát triển mạnh ở rất nhiều địa hạt. Do đó mà sản xuất ra được một hiện tượng trong làng văn là Manh Manh nữ sĩ.
Cô xuất thân ở Trường Áo tím, là một nữ sinh ưu tú, nhưng còn xa lạ với làng văn. Nhưng sau khi lên diễn đàn được thính giả hoan hô nhiệt liệt thì cô liền hăng say nhảy vào xã hội văn chương như một con lăn, say sưa với tiếng pháo. Cô làm thơ mới, viết văn theo cú pháp của cô, cô diễn thuyết từ Nam chí Bắc rồi từ Bắc vô Nam gây một không khí hào hứng vô cùng. Phe bảo thủ chê cô. Phe cấp tiến khen cô. Nhưng khen hay chê tới nay không còn là vấn đề.
Bà Nguyễn Đức Nhuận đã chết ở bên Pháp cách đây gần 7, 8 năm (1962). Ông Nguyễn Đức Nhuận (năm 1968) đã ra người thiên cổ.
Nhưng hồi sanh tiền, hai ông bà đã điều khiển tờ Phụ nữ Tân văn cho nó thành một tờ báo có địa vị vẻ vang trong lịch sử báo giới xứ này.
Hai ông bà đã gây được một phong trào phụ nữ, tạo nên được nhiều hiện tượng để thúc đẩy phong trào.
Chính bà chủ nhiệm đã viết trong số ra mắt của Phụ nữ Tân văn ngày 2-5-1929 : "Nghĩ vì "cây có cội, nước có nguồn" dân tộc ta sở dĩ không phải là bọn ăn góc biển; ngủ đầu rừng như dân da đỏ ở bên Nam Mỹ, cùng là tối vầy đoàn sớm rẻ bạn như dân da đen ở Tây Phi, chính là vì chúng ta nhờ được nền nếp từ xưa, cội nguồn vững chắc, suốt 4000 năm đã sống vẻ vang trên cõi đất này"…
Người viết ra những câu đó đã minh định lập trường dân tộc, tự hào là dân tộc Việt Nam không phải như dân da đỏ ở Nam Mỹ, như dân da đen ở Tây Phi, nhờ có 4000 năm văn hiến.
Nhưng nếu tác giả còn sống tới ngày nay mà đọc lại những lời đã viết từ hơn 40 năm về trước, tác giả sẽ thấy là lịch sử không đứng yên một chỗ, 4000 năm văn hiến chỉ bồi dưỡng cho chúng ta một phần nào chứ không thể là nền tảng duy nhứt của chúng ta được. Chính dĩ vãng cũng phải cần được tài bồi bằng những mảnh đất phù sa để tạo nên một tương lai rực rỡ hơn, vĩ đại hơn.
Dân Da đỏ ở Nam Mỹ, dân tộc Da đen ở Bắc Phi cũng đã nổi dậy để giải thoát cho mình, ta không có quyền khinh họ nữa.
Nhưng ta vẫn tự hào là đã phất cờ giải phóng trước họ, đem tầm vông vạt nhọn mà đương cự với đại bác chiến xa của thực dân Pháp và khí giới hùng mạnh của Mỹ. Ta tự hào ở chỗ đó.
Phụ nữ Tân văn c ũng có thể tự hào là đã góp phần giác ngộ cho đồng bào thấy rõ số phận của mình mà kiên định lập trường dân tộc và cách mạng.
Trong số những người được Phụ nữ Tân văn giác ngộ lại có con đầu lòng của ông Nguyễn Đức Nhuận là anh Nguyễn Đức Vĩnh. Ngay từ giờ phút đầu tiên, anh Vĩnh đã gia nhập Thanh niên Tiền phong rồi rút luôn ra khu để kháng chiến. Anh đã hăng say chiến đấu và đã hi sinh ở Thủ Dầu Một dưới làn đạn của quân thù ngay từ năm 1945.
Anh đã sống vinh quang, đã chết xứng đáng để thực hiện những lời nói của cha mẹ anh trên Phụ nữ Tân văn.
Cha mẹ anh không dám làm như anh và cũng không bao giờ muốn con mình dấn thân trên con đường nguy hiểm.
Nhưng bây giờ tất cả đã vùi sâu dưới lòng đất mẹ, ông bà đã thấy rằng trước sau có một lần chết thì cái chết hiên ngang và anh dũng của đứa con đầu lòng không phải là vô nghĩa khi Phụ nữ Tân văn mỗi tuần đều đem đến cho người ta những bài học thiết tha về đoàn kết, về hy sinh, về quốc gia dân tộc.
Con ông đã lãnh hội được những bài học đó và đã thực hiện tới mức độ cao quí nhứt, đẹp đẽ nhứt, thiết tha nhứt.
Nó đã minh họa bằng xương và bằng máu lập trường dân tộc của tờ báo Phụ nữ Tân văn.
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.
Nhưng tô điểm bằng phấn son đâu bằng xương máu ? Hơn nữa, có nói phải có làm. Mà anh Nguyễn Đức Vĩnh đã làm. Cha mẹ anh sống trước mà chết sau, khi gặp con ở bên kia thế giới chắc cũng được hài lòng.(1)
2. SONG THU(1) nhà thơ Đường cuối mùa
Bà là nữ sĩ đã nổi tiếng trong giới trí thức Hán học và cách mạng. Có thể xem bà là một người hiếm có trong giới quần thoa văn nghệ mà cũng là bậc nữ lưu uyên thâm Nho học và văn chương ở miền Nam.
Bà nổi tiếng là một nhà nho uyên bác, một nhà thơ Đường sâu sắc, vì bà rất giỏi cả thơ chữ Hán và thơ Quốc ngữ.
Chữ Hán của bà rất đẹp chẳng khác gì "rồng bay phụng múa" mỗi khi bà huơ bút… lòng. Trước năm 1970 ở Sài Gòn bà giao thiệp rộng với các nhà trí thức Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản toàn bằng bút đàm (vì bà không thạo các thứ tiếng trên) với họ.
Thơ bà từ lời ý, tứ, cú… đều thành thục, tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở của những người lành mạnh trong cuộc sống nhân sinh, cho dù là thơ trào lộng
Tự trào
Ta nghĩ khen ta cũng có tài !
Hai bàn tay trắng kém gì ai ?
Gặp cơn nguy biến không hề sợ,
Phải bước phong ba chẳng chút nài.
Tiền của tiêu pha vừa bửa một,
Cháo cơm lếu láo đủ ngày hai.
Phong trần dù đến bao nhiêu nữa.
Son sắt lòng này vẫn chẳng phai.
Hoặc thanh thản tự tại của triết lí Lão Trang nhưng cũng rất người thực khi phải xa lìa nơi nhau rún :
Lìa cảnh cũ
Một bước ra đi một bước ngừng,
Đoái nhìn cảnh cũ lệ rưng rưng.
Nghiêng bầu tâm sự, nghiêng khôn cạn,
Gạt lệ li sầu, gạt khó lưng.
Non nước thương ai màu ủ dột,
Cỏ hoa mến khách vẻ bâng khuâng.
Ô hay cảnh cũng trêu người nhỉ !
Gánh nợ trần ai nặng quá chừng !
3. PHAN HUẤN CHƯƠNG(2)
Ông là một nhà giáo hơn là một nhà văn chuyên nghiệp; tuy vậy trên sinh hoạt văn học hồi đầu thế kỉ XX hai tác phẩm của ông ra đời (Hòn máu bỏ rơi, 1936) và Tan tác (1937) tại Sài Gòn khiến độc giả chú ý đến cây bút không chuyên nghiệp này một cách thiện cảm.
Cuốn Hòn máu bỏ rơi được giải thưởng văn chương của báo Đuốc Nhà Nam ở Sài Gòn trong năm 1937.
Truyện dài Tan tác được giải thưởng văn chương của Tự lực văn đoàn, Hà Nội năm 1939.
Ngoài 2 cuốn tiểu thuyết trên, ông còn có tập thơ nhan đề :
Huấn Chương thi tập và một số bài đăng trên hai tuần báo Tân Văn và Thế giới Tân văn ở Sài Gòn trong những năm 1935-1936.
4. NGUYỄN AN NINH(1)
với "Cao vọng thanh niên"
Nguyễn An Ninh là một chí sĩ hơn là một văn sĩ, tuy nhiên trên đường hoạt động chống kẻ thù, ông đã dùng ngòi bút để cổ vũ đồng chí, đồng bào theo lí tưởng của mình nhằm diệt thù cứu nước thì vai trò văn sĩ và ngòi bút ông trở nên tiêu biểu nhất.
Không cần phải so sánh với các danh sĩ tiền bối, ngay cả những văn thi sĩ đồng thời (Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Hùm, Diệp Văn Kì, Đào Trinh Nhất...) thì bút lực tác phẩm Nguyễn An Ninh có một qui mô, một cái nhìn hệ thống và nhất quán. Nguyễn An Ninh là một trong những người tiêu biểu. Những đồng chí và môn đệ ông tự nguyện lập nên "Hội kín Nguyễn An Ninh" mà người khởi xướng là học giả Mai Bạch Ngọc.(1)
Các tác phẩm của họ Nguyễn không nhiều, nhưng mỗi tác phẩm đều có một chủ đề, một hệ thống nhất quán, một cách nhìn riêng về một đối tượng nhất định nào đó; nhất là có một cứu cánh rõ ràng. Chẳng hạn cùng một thi đề về Sống và Chết của con người trong thế giới tại thế như các thi sĩ khác(2), nhưng với ông thì thực tế hơn, chân chất, nôm na hơn. Trong ý niệm đó ông viết:
Sống và Chết
Sống mà vô dụng, sống làm chi?
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, sống thêm tủi,
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn,
Sống mắt dường đui, dạ thấy kì,
Sống sao cho phải, cho nên sống,
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.
Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài,
Chết đáng là người đủ mắt tai.
Chết được dựng hình tên chẳng mục,
Chết đưa vào sử chữ không phai.
Chết đó, rõ ràng danh sống mãi,
Chết đây, chỉ chết cái hình hài.
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi,
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.(1)
Nhưng ngòi bút Nguyễn An Ninh hiện hữu trên diễn đàn văn học không phải để làm thơ mà ngòi bút ông xông xáo, tung hoành trên mặt các báo chí đối đầu với nhà cầm quyền mong tìm tự do cho nhân dân bị áp bức. Điều đó được thấy rõ qua thực chất Nguyễn An Ninh trên báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) đã một thời khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt :
Thế cho nên, nhân dân "coi ông Ninh như một giáo chủ. Có lần ông Ninh vào một nhà nông thấy có bàn thờ nhang đèn đầy đủ, nhưng trên bàn thờ lại có bức hình của ông". Tuy vậy "Ông không lấy làm đắc chí. Ông tự kiểm thảo và cho đó là khuyết điểm của mình. Có lẽ do hành động của ông, người ta đã thần thánh hóa ông cũng như người ta hay thần thánh hóa người khác."(2) Chính việc làm của ông đã "làm dậy can trường" độc giả Việt Nam.
Sau đây là tuồng hát Hai Bà Trưng và cuốn Tôn giáo của ông :
HAI BÀ TRƯNG(1)
Tuồng hát HAI BÀ TRƯNG xuất bản năm 1928, thuộc danh mục sách cấm. Đây là một cách mượn truyện sử chống xâm lược Trung Quốc của Hai Bà Trưng để vạch cương lĩnh hành động trong toàn Đảng Thanh niên Cao vọng do Nguyễn An Ninh lãnh đạo. Nguyễn An Ninh viết tại Mĩ Hòa. Hoàn thành vào tháng 6 năm 1928. In xong tháng 8 cùng năm.
Đứng vào hạng trí thức trong xã hội Việt Nam thì phải có viết một quyển sách gì, hoặc là một cuốn tiểu thuyết, hoặc là một tuồng hát, hoặc là một tập thơ, hoặc viết luận về triết lí đạo đức, hoặc khảo cứu về khoa học về lịch sử, thế giới lịch sử hay là Việt Nam lịch sử. Năm 1926, tôi có xuất bản - muốn nói cho đúng sự thật thì phải nói: một đám người Việt Nam thừa dịp mấy tiệc trà năm đó có xuất bản giùm cho tôi - một tập độ chừng 60 trương; tập ấy như ở các nước khác thì không dám kêu là một quyển sách, nhưng mà ở trong xã hội Việt Nam kêu đại là một quyển sách cũng được. Một quyển sách ấy cũng đủ cho một thằng dốt tiếng An Nam như tôi được nhập vào làng văn sĩ Việt Nam.
Nhưng mà các văn sĩ Việt Nam nhà nào cũng viết sách nhiều quá, viết đủ thứ sách: tiểu thuyết, tuồng hát, tập thi, triết lí, lịch sử, vân vân. Bên Âu châu mày người làm sách thường một hai năm mới viết được một quyển sách; có người trọn đời viết một hai quyển mà thôi. Bên Việt Nam, nhiều ông làm sách mỗi năm xuất bản tới ba bốn quyển. Nên nếu năm nay là 1928 mà tôi cứ khoe quyển sách xuất bản hồi năm 1926 đặng có quyền đứng vào làng văn sĩ Việt Nam, thì xấu hổ với mấy nhà văn sĩ Việt Nam quá. Vả lại quyển sách ai ai cũng biết rằng có nhiều đoạn dịch của Âu châu. Mà khổ quá! không phương nào dấu mấy chỗ ấy với mấy người đọc sách được. Như mấy bài dịch của Rút xô (Rousseau), không thể nào nói mấy bài ấy là của tôi được, vì ai là có biết nói ba tiếng Tây mà không biết Rousseau, ai là có biết viết ba chữ Tàu mà không biết Lư Thoa?
Bỏi vậy cho nên tôi ráng hết sức viết một quyển sách mà không phải là dịch của Tàu, mà cũng không phải dịch của Tây. Mà quyển sách ấy cho là tiểu thuyết cũng được, cho là tuồng hát cải lương cũng được, nói là luận về triết cũng được, nói là một đoạn lịch sử Việt Nam cũng được. Đặng chi? Đặng cho cũng có đủ với người ta. Quyển sách ấy quyển sách của bà, của ông đương cầm trên tay đây.
Vì sao tôi lại viết tuồng "Hai Bà Trưng"? Vì tôi thấy thiên hạ như hết ưa những tiểu thuyết phong nguyệt. Vì tôi thấy thiên hạ thích xem tuồng cải lương "Trưng Trắc, Trưng Nhị". Người đi buôn muốn cho có nhiều người mua. Người viết sách cũng muốn cho có nhiều người đọc. Người viết sách muốn rải ý kiến lộ tư tưởng của mình, mà cũng muốn bán sách cho nhiều đặng có tiền nuôi thân. Mà lại chuyện của Hai Bà Trưng là chuyện có sẵn, mình khỏi nhọc trí bày ra đặt ra như đặt tiểu thuyết.
Tưởng là viết tuồng "Hai Bà Trưng" là dễ. Ai dè về nhà lật sách sử ra xem, lật hai ba quyển, quyển nào cũng thuật chuyện của Hai Bà Trưng trong năm sáu hàng mà thôi. Đọc đi đọc lại đoạn lịch sử nói về Hai bà thì cũng cứ thấy mấy chữ Mê Linh, Thi Sách, Mã Viện, Lãng Bạc, Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt. Lịch sử nói có bao nhiêu đó sao cho đủ làm một tuồng hát? Chắc là không thể nào xuất bản được một quyển sách như mình muốn. Tôi lấy làm khổ tâm. Nhớ lại lúc ở tại Hà Nội tôi có đến viếng nhà thờ Hai Bà, thì lúc đến viếng nhà thờ ấy nhớ lại cũng không có thấy chi là giúp cho mình đặt cái tuồng này được.
Tức quá, tôi mới tính dùng cái cách hỏi: tại sao? của con nít mà kéo chuyện cho ra dông dài. Tôi mới đọc đi đọc lại cái đoạn lịch sử nói về Hai Bà. Đọc đến chỗ Hai Bà chiêu binh đánh Tàu, tôi hỏi: tại sao? Đọc đến lúc Thi Sách chết, tôi hỏi: tại sao? Đọc đến chỗ nói Hai Bà lấy nước lại được có hai năm mà thôi, tôi hỏi: tại sao? Đọc tới ba chữ: Mã Viện thắng, tôi hỏi: tại sao? Đọc tới đoạn nói về mấy cây trụ đồng, tôi hỏi: tại sao? Nhờ vậy mà tôi thấy cái lịch sử của Hai Bà có thể cho mình kéo dài ra được.
Nhưng mà phải trả lời cho được mỗi câu: tại sao ấy mới là đủ mà làm một cái tuồng hát. Đây mới là bối rối nữa. Làm sao cho người đời này rõ biết được chuyện xưa? Tôi mới kêu một thằng nhỏ chăn trâu, tôi hỏi nó: "Mầy biết ông cố nội của mầy hay không?". Nó hỏi: Ông cố nội là ông gì? - Ông cố nội mầy là cha của ông nội mầy. - Ông nội tôi kia mà tôi còn không biết thay. Ổng chết mất hồi nào không biết, lại hỏi tới ông cố nội thì làm sao biết được? - Không, mà như mầy độ ông cố nội mầy hình dạng thể nào được hay không? - Thì chắc là ổng cũng như mình vậy chớ gì.
Nhờ thằng nhỏ chăn trâu đó mới có cái tuồng hát này. Cũng có nhờ vì tôi có tật hay làm liều. Biết rằng lúc đó chưa có chức Tuần phủ, Án sát, biết rằng người đời đó ăn nói không phải như người đời nay, biết rằng tôi dốt tiếng An Nam lắm; nhưng mà cứ viết liều, không sợ mấy nhà khảo cứu lịch sử trách, không sợ mấy bực văn sĩ cười.
Sự thật khai ngay. Như người đọc tuồng này, có chỗ không bằng lòng, xin dung thứ cho người viết.
N.A.N
1
Trong nhà của Trưng Trắc. Lúc kéo màn lên, lẵng lặng. Trưng Trắc, gần ba mươi tuổi, ngồi khóc tức tưởi, như người bị một cái cảnh đau sầu lớn quá nó làm điếng làm mất tỉnh con người đi. Trưng Nhị, độ chừng 25 tuổi, ngồi ngó chăm chỉ trước mình, buồn nhưng mà tỉnh, suy nghĩ việc chi không biết.
TRƯNG NHỊ Khóc hoài rồi ảnh sống lại được hay sao?
Trưng Trắc lắc đầu, rồi cứ khóc.
Chị khóc hoài, hại cho chị, lại hại đến cháu, vì nó còn bú. Dằn lòng một chút chớ. Trời đã định vậy, phải đành chịu vậy. Từ xưa đến nay, những bực cao thượng đều phải bị đau khổ, bị tai họa vì cái tánh cao rộng của họ. Nhưng mà họ chịu hi sanh tánh mạng của họ cho những ý kiến của họ trọng thờ, vì nếu họ sợ chết thì kẻ tàn ác dùng chỗ yếu đó mà đè mà giết tinh thần của họ đi. Ai gặp cảnh này mà không đau đớn được. Nhưng mà cháu nó còn bú, phận sự của chị là phải nuôi dưỡng nó cho vui người mất rồi. Chị phải tĩnh tâm.
TRƯNG TRẮC vừa khóc vừa nói - Nếu chị không có suy nghĩ như em, thì chị đã tự tử rồi.
Trưng Nhị nghe nói, đau lòng, khóc theo chị. Trong phòng lẵng lặng một hồi lâu.
Đã biết rằng số mạng của con người là Trời định, khóc than cho mấy, đau đớn cho mấy cũng không sửa nổi mạng Trời. Nhưng mà khó dằn lòng được. em ơi. Chết mà chết già, chết mà chết bịnh, thì không có cho chị đau đớn như thế này. Anh Thi Sách chết như vầy, thật là khó cho chị khỏi mang tội trách Trời. Người trung chánh, người cao thượng như vậy, vì lòng cao rộng của mình mà phải bị cái tội hình để trị tội những kẻ sát nhơn, những kẻ phản quốc... Sao cho chị khỏi oán giận kẻ ngoại quốc tàn ác kia? Sao cho chị khỏi muốn trách Trời, em ơi?
Trưng Trắc khóc nữa.
TRƯNG NHỊ - Em chỉ xin chị một điều mà thôi, là xin chị nhớ đến cháu nó còn bú kia. Chị trách ai thì trách, giận ai thì giận. Em không trách giận chị lại đâu. Như chị có trách Trời, Trời thấy sự đau đớn của chị cũng thứ cho chị. Nhưng mà chị thương anh Thi Sách bao nhiêu, thì chị phải lo cho cháu bấy nhiêu. Em rõ trọn sự đau đớn của chị, và em cũng đau đớn trong lòng như chị vậy.
TRƯNG TRẮC - Em cũng chẳng nên đau khổ vì chị. Em đừng rối tăm như chị. Chị chỉ nhờ có một mình em, mà nếu em như chị thì chị biết nhờ ai. Chị yếu tánh, em để cho chị khóc trong một vài ngày thì mới nguôi được. Dằn lòng không nổi, em ơi. Chị cũng biết rằng em thấy chị khóc, em đau lòng. Nhưng mà, một nỗi chồng vì trung chánh mà phải bị tử hình, một nỗi con thơ để lại. Lại thêm trong lòng chị tức giận căm oán bọn dã man. Đau lòng lắm, em ơi. Đau lòng lắm, em ơi.
Trưng Trắc khóc một hồi lâu nữa.
Em là một người đờn bà suy rộng xét xa. Trí thức, tánh tình của em, tuy là em giữ theo cách điệu người đờn bà, chớ chẳng kém gì đờn ông. Vậy chớ có bao giờ em nghĩ rằng không có Trời hay không? Chớ như chị, lúc này chị tưởng rằng không có Trời.
Nín một lát.
TRƯNG NHỊ không muốn trả lời, nhưng mà phải trả lời, nên trả lời nhỏ nhỏ. - Có Trời chớ sao lại không.
TRƯNG TRẮC - Như có Trời, chắc là Trời bất nhơn bạo ác lắm, nên Trời mới để cho con người làm điều tàn ác, mà lại không hình phạt những kẻ tàn ác.
TRƯNG NHỊ - Chị cứ tưởng Trời là như một anh quan tòa, phải sửa phạt lẹ làng cho vừa lòng mọi người. Dầu chị vạch mây xanh đi nữa mà kiếm Trời, chị cũng không thấy được Trời. Trời ở một bên mình. Trời ở trước mặt mình. Thánh nhơn xưa thường nói: Trời ở trong lòng mình. Nếu chị biết Trời ở trong tâm của con người, thì chị không còn nói Trời là bạo ác, là bất nhơn nữa. Chị đi thử từ nam chí bắc, hỏi thử mỗi người Việt Nam coi có ai hay chuyện của anh Thi Sách mà không đau lòng với chị, không tức giận chưởi mắng thằng Tô Định và cả bọn vô liêm sỉ, cả bọn tàn ác khốn nạn của nó.
TRƯNG TRẮC - Có lẽ ai ai cũng đau đớn giùm chị, ai ai cũng một vài lời chia buồn với chị. Nhưng mà cũng có lẽ là họ chia buồn ngoài miệng đó thôi.
Nói rằng lương tâm của con người là cái kiếng của Trời soi, thì có lẽ chị còn tin được. Vì nếu nói như vậy, thì Trời mà ta thấy trong lương tâm đó chẳng qua là cái bóng của Trời mà thôi, một cái bóng vô lực kia vậy mà thôi.
Sách có dạy : Lòng dân là lòng Trời. Mà em nghĩ coi. Mấy triệu đồng bào gục đầu mà chịu những điều ác, những điều nhục đã bao lâu rồi, mà nào có thấy mấy triệu đồng bào làm chi mà hình phạt thằng Tàu, mà chống cự lại với thằng Tàu, hay là lộ lòng tức giận của mình ra đâu. Nếu thật lòng dân là lòng Trời, lòng dân yếu hèn như vậy thì lòng Trời là sao? Chị lại nghĩ: kẻ nào thấy điều ác mà không chống lại là kẻ ác. Dân Việt Nam như đồng lõa với kẻ ác. Mà không thấy Trời giúp sức cho dân Việt Nam, cũng không thấy sửa đổi lòng bạc ác của thằng Tô Định chút nào.
Nếu sống mà không thể nào vuột khỏi sự bạo ác nó đè mình, không chắc rằng có đời nào, có kiếp nào sẽ vuột khỏi, thì sống làm chi?
"Trời đất bất nhơn". Có lẽ cũng là thật.
TRƯNG NHỊ, như nửa trả lời với chị, nửa nói với mình. - Tận nhơn lực mới tri thiên mạng. Chưa hết sức người, không nên vội trách Trời.
Nín một lát lâu.
TRƯNG TRẮC - Chị đau lòng quá, rối trí, như điên, nói bậy bạ, phiền trách Trời vô lối. Xin Trời thứ lỗi cho chị.
Trưng Nhị đứng dậy, lại gần vuốt ve chị, tỏ lòng rất yêu thương chị mình.
Trưng Trắc ngước mặt lên ngó em.
Chị nói bậy. Đừng giận chị, nghe em.
TRƯNG NHỊ - Ai thấy chị mắc phải cảnh này mà không thương chị, huống chi là em.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.
|