Có lẽ hình ảnh Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (600-664) đi thỉnh kinh là một trong những hình ảnh gây nhiều ấn tượng sâu sắc và in sâu vào tâm thức của đa số người Việt Nam chúng ta nhất. Con người ấy đã vì pháp quên mình, cô thân chích ảnh, trải bao hiểm nguy, băng ngàn vượt suối, đến tận đất Phật, trong thời buổi đường đi chỉ là những lối mòn hoang sơ đầy bất trắc, để tìm thầy học đạo suốt 17 năm trời, rồi thỉnh về nước 657 bộ kinh Phật bằng tiếng Ấn Độ. Sau khi về nước, không để mất thời giờ, Huyền Trang liền bắt tay tổ chức việc phiên dịch ra chữ Hán. Bản thân Pháp sư, ròng rã suốt 19 năm trời, để lại cho hậu thế 75 bộ Kinh Luận, gồm 1335 quyển, trở thành một trong hai nhà dịch Kinh Phật kiệt xuất nhất trong lịch sử phiên dịch Hán Tạng (Vị kia là Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập). Qua kinh nghiệm thực tế tại dịch trường, Pháp sư đã đề ra 5 nguyên tắc dịch Kinh Phật gọi là “Ngũ chủng bất phiên” (Năm trường hợp không phiên dịch), được xem là những nguyên tắc rất thiết thực để làm chuẩn mực cho các nhà dịch Kinh Phật làm cơ sở. Và ít có người Phật tử Việt nam nào là không thuộc nằm lòng bản “Tâm Kinh Bát Nhã”, do Pháp sư phiên dịch, được xem là bản dịch cô đọng và độc đáo nhất trong số 6 bản dịch của các dịch giả khác nhau.
Thế nhưng, ngoài công trình Tây hành cầu pháp, phiên dịch Kinh điển, Pháp sư còn để lại tập sử liệu rất đặc sắc, “Đại Đường Tây Vực ký”. Trong tập bút ký này, Huyền Trang đã ghi chép về 138 nước, mà phần lớn Pháp sư đã từng đặt chân đến, rồi dùng ngòi bút của một sử gia chuyên nghiệp, ghi chép rất cẩn thận. Nội dung tổng hợp cả tính chất Lịch sử, Địa lý và đầy đủ các giá trị Văn hóa của từng nước. Có thể nói đây là một tư liệu văn hiến rất trọng yếu dùng để nghiên cứu lịch sử Phật giáo, lịch sử giao lưu giữa các nước vùng Tây Nam châu Á. Gần đây, các nhà khảo cổ tìm hiểu lịch sử Phật giáo, khai quật những di tích đã được ghi chép trong Bút ký, đã công nhận những tư liệu này đều chính xác. Và chính nhờ sự miêu tả của Đại Đường Tây Vực ký mà tiểu thuyết gia Ngô Thừa An đã soạn thành bộ tiểu thuyết trứ danh Tây Du ký, rồi đạo diễn Dương Khiết chuyển thể thành kịch bản phim cùng tên, đưa lên màn ảnh, minh họa sống động cuộc thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang.
Trong những năm qua, Tiến sĩ Nhuế Truyền Minh, giáo sư Sử học đang giảng dạy tại trường đại học Khoa học Xã hội Thượng Hải, đã dành nhiều thời giờ tìm tòi, tra cứu, rồi gia công chú thích sách Đại Đường Tây Vực ký rất công phu, đồng thời dịch lại theo thể văn mới dễ hiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu về những tư liệu cổ xưa.
Thế là nhân duyên đã hội đủ, Ban Phật giáo Việt Nam thuộc Viện Nghiên cưu Phật học Việt Nam quyết định lên chương trình chuyển ngữ tác phẩm này sang tiếng Việt. Hưởng ứng sự đề xuất của Ban, Tiến sĩ Lê Sơn phát tâm hoan hỉ đảm nhận công việc khó khăn này, rồi tiến hành thực hiện. Trải qua thời gian gần hai năm, thì bản thảo hoàn tất. Với bút pháp điêu luyện, lời văn lưu loát, từ ngữ súc tích mà dễ hiễu, chuyển tải khá trung thực nội dung bản gốc, dịch giả đã chinh phục người đọc khi muốn tiếp cận tìm hiểu về hành trình Tây du thỉnh Kinh nổi tiếng của thầy Đường Tăng. Thiết nghĩ, công trình này không những là một cống hiến rất quý báu đối với Phật giáo Việt Nam, mà còn làm phong phú thêm cho kho tàng văn học nước nhà, tạo ảnh hưởng tốt đẹp trong mối giao lưu văn hóa với các lân bang.
Hoan hỉ được đón nhận một công trình vừa thành tựu, tôi xin chân thành tán thán công đức của dịch giả, và trân trọng giới thiệu dịch phẩm Đại Đường Tây Vực ký với chư Tôn Túc Tăng Ni, các Phật tử xa gần, cùng độc giả bốn phương.
Thiền Viện Vạn Hạnh, ngày 22-12-2006
Tỳ Kheo THÍCH PHƯỚC SƠN
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|