Lý luận phê bình văn học
13.03.2009
Nguyễn Q. Thắng
Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (6)

TRỜI


Theo như trong bài trước, ta thấy con người tưởng rằng các sức lực mạnh hơn con người, có thể làm hại con người được, đều là như có tinh thần riêng như con người vậy. Cho nên con người mới vẽ ra, chạm ra hình người hay là tưởng tượng ông này bà nọ trong óc mình mà thờ. Trong cái tục thờ sóng gió, thờ mặt trời, mặt trăng, thờ sao, thờ cây to, đá lớn, con người lại nghe như mình được trực tiếp, được điều hòa với các tạo vật trong vũ trụ, hiệp làm một với cả vũ trụ. Cái tục cúng thờ đó, nó trúng với cái sự hiểu của thiên hạ, vừa với một cái trình độ kia, lộ ra mình ngó thấy trong cái tục dở đó tuy vậy chớ có một điều hay, là: nhơn loại có rán mà hiểu cả tạo vật.


Cách mấy ngàn năm nay cái hạng suy xa hiểu rộng trong xã hội, tưởng tượng vũ trụ chẳng khác nào nhiều người quê mùa không học thức trong xứ ta ngày nay đâu. Có lẽ nhiều sự dị đoan đương thời, gốc nó là ở trong những sự tưởng tượng rất sai của hạng trí thức xưa truyền lại chăng? Bên xứ Égypte thuở xưa, bên xứ Ấn Độ, bên xứ Grèce, bên xứ Rôma, nghĩa là bên các xứ đã có danh cực điểm văn minh một thời hồi đời xưa, cúng tế gió mưa, cúng đá, cúng ông táo, ông địa, cúng cây cao bóng mát, cúng con thú này con thú kia thành yêu thành tinh, vân vân, chẳng khác nào các dị đoan bên xứ mình ngày nay. Thuở xưa bên Rôma cũng có ông Táo mạnh quyền trong gia đình như bên này. Xưa, tin rằng sau khi chết, linh hồn có thể đầu thai nhập vào xác người hay là xác thú vật: ấy là tin linh hồn bất diệt. Xưa tin rằng người hiền đức thì sanh lại làm con chỗ giàu sang, người làm quấy thì sanh làm người cực khổ. Bên Égypte nói: người hiền nhập vào xác thú hiền, người dữ nhập vào xác thú dữ. Ấy là nhơn loại muốn đem cái vấn đề "thiện, ác" làm cho nó hòa với tạo hóa. Cái tư tưởng của nhơn loại khi xưa cũng không phải lẩn quẩn trên địa cầu này không mà thôi, nhơn loại vượt lên tới các tinh tú kia, những sao chớp chớp kia, đám này giải nghĩa thế này, dân kia giải thế kia. Nhơn loại cách mấy ngàn năm về trước thờ ông này bà nọ, không biết là bao nhiêu thần. Nhưng mà cũng có vị thần lớn hơn hết. Như trong các thần Grèce ngày xưa, Jupiter là lớn hơn hết.


Khởi đầu suy nghĩ: "chỉ có một nguồn gốc cho cả tạo vật mà thôi, dầu thánh thần cũng là tạo vật của nguồn gốc ấy"; rồi chỉ quí trọng, sợ sệt, thờ lạy cái nguồn gốc ấy thôi. Khởi đầu suy nghĩ ra Trời, ấy là nhơn loại đã bước lên trình độ khác. Có lẽ cho rằng nhơn loại đã văn minh hơn từ đây, mà cũng từ đây hết dị đoan u ám như ngày xưa. Ý kiến nầy sau sẽ suy xét lại coi có đúng không? Bây giờ đây mình chỉ muốn biết nhơn loại hiểu :


Trời là gì? Cái tên Trời ấy để chỉ vật gì? Vậy này có hay không?


Nhà triết học Đức Schopenhauer có nói: "Trong các loại thú chỉ có một mình con người biết lấy làm lạ sao lại có mình đây?" Mình đi vô một cái nhà in, thấy những hộc chữ độ ra vừa với sự cần dùng, thấy cái máy in khéo léo, tự nhiên mình tưởng người chế tạo máy in rất khôn, rất khéo. Mình thấy một cái xe hơi chạy, mình coi cả máy móc nó, làm sao cũng không khỏi mình khen anh chế tạo xe hơi là trí là xảo. Chắc rằng có người chế tạo máy khéo léo ấy ra, mà người ấy là khôn khéo; nếu ai dám cãi hai điều này, thiên hạ cho người cãi đó là điên. Vì vậy mà con người càng suy xét về những tạo vật, khoa học càng chỉ thêm những sự khéo léo, những sự lạ không hiểu nổi trong vũ trụ, thì trí não con người càng thêm quả quyết rằng vũ trụ phải có một lực gì sanh ra như hai cái máy kia, lực ấy khôn ngoan, mạnh mẽ vô cùng. Trí não con người hay tìm ra căn nguyên của mọi vật, mọi việc. Nghiên cứu rồi, lại hay so lược những điều học biết của mình lại, kiếm mấy chỗ nó giống nhau đặng thâu nó lại làm một, tìm cho ra một cái lí để giải cả sự học biết của mình, cái lí ấy dùng làm căn nguyên cả các điều mình biết. Nếu gặp mỗi vật chi hay là mỗi chuyện chi, như gặp một cục đá, thấy một cục vôi sôi trong giấm, thấy một hột trái cây hóa ra cây, thấy thú vật sanh đẻ, mỗi mỗi đều nghĩ rằng có một ông thần chế tạo ra, thì trên trời dưới đất phải có biết bao nhiêu ông thần. Rồi còn phải hỏi: ai sanh ra cả mấy vị thần đó? Cho nên cái tư tưởng: "Trời là cái căn nguyên chung và cuối cùng của vũ trụ" là hay hơn hết và tiện hơn hết. Vì vậy cho nên đạo Thiên Chúa nói rằng Đức Chúa Trời sanh ra trời đất muôn vật trong sáu ngày, rồi lấy bùn làm ra một người đờn ông, rồi rút xương sườn của người đờn ông ấy mà làm ra người đờn bà. Đức Chúa Trời dùng phép lạ sanh ra cả mọi vật, như mình lấy đất sét làm ra cái tô cái chén vậy. Vũ trụ là một, Đức Chúa Trời là một. Đức Chúa Trời có trước, vũ trụ có sau, khác nhau, riêng nhau như anh làm chén và cái chén của anh vậy. Vì vậy cho nên, mấy người đạo Thiên Chúa thường vẽ Đức Chúa Trời râu ria um sùm, mắt xanh tóc vàng, bộ tịch như người Âu châu. Ông Trời đó, Tây kêu là Extra Mondain, nghĩa là ngoài vũ trụ.


Đọc đến đây, chắc trong chị em phụ nữ có người muốn hát câu: "Thấy anh hay chữ em xin hỏi thử đôi lời: Lúc tạo thiên lập địa ông Trời ai sanh?" Tôi không biết ông Trời ai sanh. Tôi chỉ muốn tìm ra vì sao con người lại suy nghĩ ra Trời, và trong nhơn loại hiểu ông Trời là thế nào, hiểu mấy cách. Cách trên đó là một cách hiểu. Còn một cách nữa là: ông Trời ở trong vũ trụ; từ vật hết sức lớn cho đến vật hết sức nhỏ, trong cả vũ trụ đều có ông Trời ở trong. Người Pháp kêu là ông Trời Intra Mondain, nghĩa là ở trong vũ trụ.


Thường con người lúc tra ra nguồn gốc mọi vật thì hay suy nghĩ như vầy: 1) Cái chén làm bằng đất sét; đất sét là một thứ đá bị nước làm tan hóa ra đất sét; cho nên có thể nói thứ đá đó là căn bổn của cái chén. 2) Kẹo là đường thắng ra, đường ở trong mía ép lấy ra; cho nên có thể nói cái chất ngọt trong mía là nguyên bổn của kẹo. 3) Cái cây to này trước kia nó là cây nhỏ; cây nhỏ ấy trước kia nó là một cây măng; cây măng ấy là một cái hột hóa ra; hột ấy là căn nguyên của cái cây to. Ba gương ấy chỉ rằng con người tra ra nguyên gốc, thường dùng cách này. Thấy một vật A, tìm ra biết trước khi nó hóa ra A thì nó là B, trước khi hóa ra B thì nó là C, vân vân, tìm cho tới chỗ mình hết tìm nữa được, như tới Ê, thì cho Ê là căn nguyên của A. Nhìn nhận Ê là nguyên nhân cũng là tạm đó thôi. Sau tìm ra tới đâu nữa thì hay tới đó. Nhưng mà nếu như thế thì A-B-C-D-D-E-Ê-G-H-I-K..., vân vân đó, nó còn dài vô cùng, không biết bao giờ nhơn loại nghiên cứu tới tột cùng, mà đời người của mình lại vắn đây. Nếu biết chỉ có một đoạn đường rồi phải chịu đứng đó mà đợi thì cái tâm con người không được yên, chẳng khác nào đánh đu trên vực sâu, trí não không đứng được trên một bờ mé nào cho chắc chắn. Một người nọ muốn đi đến một chỗ kia, sức đã đuối, mà đường trước mắt còn dài thăm thẳm, nếu có ai lấy một bức sơn thủy có hình một xóm nhà treo trên đường ở xa xa mươi thước, rồi chỉ cho người sức đuối ấy mà nói: "đã tới rồi kia", thì người này mang ơn vô cùng. Vì vậy mà phải nói con đường A-B-C-D-Đ-E-Ê-G-H-I-K... vân vân, dắt đi đến Trời là cuối cùng, đi đến căn nguyên chung của vạn vật". Có kẻ còn khôn khéo hơn nữa kia, lại nói: "Trời là cái căn nguyên cuối cùng, không có chi làm căn nguyên cho Trời nữa được, cho nên Trời là một thứ khác hẳn với K,I,H,G,Ê,E..., vân vân kia. Trời là không có điều kiện (Inconditionné), còn A,B,C,D,Đ vân vân, đều là có điều kiện (Conditionné), nghĩa là A phải có B làm điều kiện, mới có A, B phải có C làm điều kiện mới có B, vân vân; cho nên tỉ như A là con người thì A là một vật của Trời sanh ra, không có thể nào lấy tánh chất của mình mà suy ra tánh chất Trời được. Trời đó, là Trời ngoài vũ trụ.


Lấy ba cái gương khi nãy (cái chén, cục kẹo, cái cây to), ta hãy suy nghĩ lại cho kĩ: 1) Một cục đá kia bị nước làm tan hóa ra một cục đất sét, thì cục đá ấy bây giờ nằm cả trong cục đất sét rồi, chớ không phải là cục đá riêng, cục đất sét riêng; cục đất ấy lấy làm ra thành một cái chén, thì cả cục đất sét bây giờ thành ra cái chén rồi, chớ không phải cục đất sét ấy riêng ra, khác với cái chén. Cục đá kia, cục đất sét kia, chỉ "còn" là trong trí nhớ của mình mà thôi, hiện thời chúng nó nằm cả trong cái chén. Cái chén đó là chúng nó; trong vũ trụ không còn cục đất sét và cục đá khi trước đó nữa. 2) Chất ngọt trong mía hóa ra đường thì nằm trọn trong đường; đường đã hóa ra kẹo thì nằm trọn trong kẹo; chớ không còn cục đường nào trong thế giới là cục đường căn bổn của cục kẹo được. 3) Cái hột giống như hột mà hóa ra măng, cây măng mà lớn lần thành cây nhỏ, rồi thành cây lớn; hột giống, cây măng, cây nhỏ, ba vật ấy, bây giờ nó đã hóa ra cây to kia, thì nó "còn" chỉ ở trong trí não mình mà thôi. Vì vậy cho nên cái thuyết mà nói rằng Tạo hóa ở trong cả tạo vật, trong mình ta, trong cây, trong đá, trong nước, mỗi mỗi vật đều có Tạo hóa ở trong: cái thuyết ấy khoa học nhìn nhận được. Ông Trời đó, là ông Trời theo như trong kinh Upanishads, Bagavat Gita nói: Ông Trời đó là intra mondain, nằm trong vũ trụ. Ông Trời này giúp cho nhơn loại tấn hóa nhiều hơn ông Trời kia.


Là vì, nếu quả quyết rằng Trời là ở trong mình đây, thì mình quí trọng mình, mình giữ cho cái phần sức lực của tạo hóa mà mình mang trong mình mình đây càng ngày càng sáng láng, càng cao thượng thêm, làm cho được xứng đáng với cái bực của mình là đứng nhứt trong cả tạo vật.


Cái giọng của tôi nói: "Ông Trời này giúp ích cho nhơn loại hơn ông Trời kia", có thể làm cho nhiều người suy nghĩ rằng tôi nói là không có Trời, cho nên tôi cứ đứng về phương diện lợi ích cho nhơn loại mà nhìn nhận ông Trời này, bỏ xó ông Trời kia. Tôi không nói về vấn đề: có Trời hay không? Tôi chỉ muốn nói rằng trí não con người tưởng tượng ông Trời có hai cách. Một cách đúng với những điều của ta kinh nghiệm hằng ngày. Đối với các hiện tượng (phénomènes) xảy ra hằng ngày trước mắt ta, vũ trụ này chẳng qua là cái hiện tượng lớn hơn hết mà thôi. Cho nên cái cách của ta nghiên cứu những hiện tượng hằng ngày, ta cũng dùng cách ấy mà nghiên cứu vũ trụ được. Khoa học cũng nhìn nhận vậy. Chớ chẳng có chi là huyền bí mà Trời đã dành cho một ít người biết được, như ban ơn riêng đặng để cho cái hạng người này đánh lừa đám ngu. Còn cái cách hiểu ông Trời ở ngoài vũ trụ, là sai lầm, vì cái trí nhớ của ta nhớ vật này nối đuôi với vật kia mà sanh sanh hóa hóa ra, chớ kì thật thì các vật ấy đã nhập cả vào cái hiện tượng đương trước mắt ta đó. Có kẻ bàn: "Sao mà nhơn loại từ xưa đến nay, mấy triệu triệu người cũng sai lầm một cách với nhau mà không biết; bao nhiêu người đã hiểu một cách, làm sao dám nói cách đó là trật". Vậy chớ từ xưa đến nay ta nói mặt trời xây chung quanh trái đất; ngày nay khoa học trương phô đủ các lí mà nói: "trái đất xây chung quanh mặt trời", rồi ta cũng nói theo khoa học. Mà khoa học nói với ta thì chỉ dùng lí lẽ làm cho ta tưởng tượng theo mà tin theo, chớ con mắt ta cũng cứ còn thấy mặt trời xây chung quanh trái đất. Mình có nhiều cái thói quen nó có thể làm cho mình sai lầm; không chắc sự suy thấy của đại đa số là đúng.


Xét cho kĩ: hai cách hiểu Trời đó, tuy là có một cách khoa học nhìn nhận được, nhưng mà cả hai cũng đều là sự tưởng tượng của trí não con người. Cho nên tôi đây, vì mang cái xác con người, tôi cứ đứng về phương diện lợi ích cho nhơn loại làm gốc. Sự tưởng tượng không thể nhìn nhận nó là sự thật một cách quả quyết cho đến đỗi bỏ mình đi, cho đến đỗi vì sự tưởng tượng đó mà làm điều bất lợi cho mình và cho cả nhơn loại. Sự tin tưởng của người đứng về phương diện khoa học là khác; còn sự tin tưởng có Trời của nhơn loại, từ xưa đến nay, chẳng khác nào sự tin dị đoan đã nói trước kia. Vì trong cuốn sách con con này, phải nói tóm tắt, cho nên tôi không nói đến cái tánh chất của ông Trời mà nhiều đạo bày ra dạy các tín đồ của họ.


Khoa học nhìn nhận trong cả vũ trụ có một cái sức lực chưa nghiên cứu ra nổi, mà trong hạng trí thức Âu châu nhiều người kêu là Sự Sống (La Vie) chớ không kêu là Trời như mình (Schopenhauer kêu là Volonté; Bergson lêu là Élan vital). Các nhà chuyên về sanh vật học đều mê trong cái vấn đề đó, mà mình đây là hạng ít học, mình đọc đến những sách nghiên cứu về vấn đề sanh hóa trong vũ trụ, mình cũng thích lắm nữa. Hóa học có giỏi mà chế ra một cái trứng gà giống như thiệt đi nữa, cũng không thể chế nổi cái hột gà sanh con mà lại lưu truyền cái tánh chất riêng đời này qua đời kia. Có một phái trong các nhà sanh vật học (biologistes) nói "Vật lí học (la physiologie) đã chứng ra đủ bằng cớ rằng các hiện tượng về sanh vật học (phénomènes biologiques), thì hóa học (la chimie) và vật lí học (la physique) đều giải nghĩa nổi, không cần phải có một ông Trời có hình thể chế tạo ra, như một anh chủ xưởng nghệ hay là một cái nguyên khí (principe vital) huyền bí kia muốn đi đến một cái mục đích chi chi đó".


Nhìn nhận có Trời như khoa học nhìn nhận cũng là đủ rồi. Bày đặt thêu dệt ra chi nhiều chuyện nữa làm cho trở ngại sự tấn hóa rất còn dài của nhơn loại. Vậy chớ đạo Phật kia không nói đến Trời đó lại sao? Vì đạo Phật không nhìn nhận có vũ trụ, có vạn vật ; nói rằng thế giới chỉ là một cuộc ảo tưởng thôi, thảy thảy đều là mộng tưởng do nơi tâm mà sanh ra. Đạo Phật nói, cho tới ta đây cũng không có nữa kia. Cái thuyết "vô ngã" là cái thuyết đặc biệt của Phật giáo. Mà lấy theo nhiều sự kinh nghiệm của khoa học (như về ngũ quan) thì Phật giáo như có lí. Nói rằng đạo Phật nói không có Trời, nhiều người theo đạo Phật có dè đâu.


Cũng đồng suy nghĩ ra "Trời", mà trong nhơn loại có một phái người nói ông Trời lập vũ trụ trong bảy bữa, sanh đờn ông trước, đờn bà sau, thử lòng cặp vợ chồng đầu hết này, không được vừa ý, đuổi cặp vợ chồng này ra khỏi nhà mình, oán giận cho đến làm khổ luôn tới con cháu của hai người này mãi mãi; ông Trời này là ba người mà ba người là một người, ông sai con ông xuống cứu thế trở lại; đến sau sẽ có ngày phán xét cuối cùng thiên hạ sống dậy cả thảy, chết mấy ngàn ngàn năm rồi cũng không sao; ông Trời này lập thế giới ra, định ra trong ấy có hai pháp luật: những người được Trời chọn lựa thì làm được nhiều điều lạ nghịch hẳn với luật pháp hằng ngày trong thế giới, vân vân. Một phái thì nói ông Trời có ba mặt, một mặt sanh, một mặt diệt, mặt thứ ba bảo thủ. Ông Trời Brahma này tạo ra vạn vật, rồi lại nhồi cả vạn vật lại làm một, như một cục bột kia. Các ngôi sao, cả trái đất này, ông đã sanh ra, ngày kia ông lại nhồi lại làm một, rồi ông sanh vạn vật lại lần nữa. Nên chỉ một mình ông là căn bổn đời đời, còn vạn vật là phù du, sống nhờ cái sự hoi hóp của ông đó mà thôi, vân vân. Một phái nữa lại nói ông Trời lập ra vạn vật nhờ có "âm", "dương" hòa hiệp nhau mà biến hóa vô cùng. Trời định ra phép tắc cho cả vũ trụ, mà cũng định phép tắc để kềm lòng người, vân vân. Lão Tử luận về vũ trụ có câu: "Không tên là mẹ của trời đất. Có tên là mẹ của vạn vật". Lão Tử cho vô hình là gốc của hữu hình, như cái bình tốt đẹp kia xưa là một cục đất vô hình, như ba mươi sáu cây căm xe nhập lại thành một cái bánh xe, như mấy miếng vách kia ráp lại làm thành nhà.


Các sự tưởng tượng khác nhau ấy làm bằng rằng: nhơn loại không nhứt định về vấn đề Trời. Mà bao nhiêu sự tưởng tượng ấy đều do nơi "Cái tánh hay tìm cho ra nguyên nhân mọi vật" của nhơn loại mà ra.


 


THIÊN ÁC


Nếu đứng về phương diện nghiên cứu như Lamarck, như Darwin, như các nhà sanh vật học thì dẫu có như Darwin, thấy rằng vì tranh đấu nhau mà thứ thú nào lấn lướt thứ khác nổi, hoặc giành giết nhau, hoặc dùng chỗ hay của mình mà đánh trôi tụi dở hơn, lần lần sanh hóa lưu truyền những tánh chất hay, mới hóa ra loại này chủng kia. Nếu, như Darwin, thấy rõ ràng rằng sự "tranh sống" là cái nguyên nhân của các chủng loại, thì thấy sao hay vậy, không "thấy mạnh hiếp yếu" mà đau lòng, cực trí.


Một người Âu châu đi săn bên xứ Bà Lai có thuật chuyện lại: "Một bữa kia anh ta ở trong rừng đương ngồi nghỉ, xảy ra tiếng la động, anh ta lẳng lặng lén kiếm coi có chi, thì thấy gần một cái ổ sóc có một con rắn to quấn theo cây nằm yên, miệng hả toác, hai mắt ngời ngó chỉ vào ổ sóc. Con sóc mẹ trong hang chạy ra, quanh quẩn chung quanh cái ổ, bộ kinh hãi, rối lo, như ngây dại. Trong lúc rối lộn trong tâm chạy bậy bạ đó, sao lại xít xít về hướng con rắn hả miệng đợi kia. Con sóc mẹ cứ chạy tới chạy lui dường như bị hai sức lực tranh nhau mà trì kéo nó, một sức ở chỗ con rắn, một sức ở tại ổ con nó. Mà mỗi khi chạy tới chạy lui thì lại càng xít xít lại gần con rắn. Các sóc con trong ổ chiu chít đòi mẹ, mà sóc mẹ không vào hang, cứ chạy vòng, mỗi vòng thì càng thêm gần miệng rắn. Một chập thật lâu, sóc mẹ lại cận bên miệng rắn, như cúm chơn, không chạy được nữa, lết lần vào miệng rắn như vào hang. Rắn nuốt, nằm yên một lát rồi bỏ đi, không đá động đến sóc con. Anh thợ săn không hiểu sóc mẹ vị bị một sức lực lạ thường trong con rắn nó lôi, hay là vì muốn hi sanh mà nạp mình cho con rắn no đủ, mà không đá động đến con mình. Song vì lí nào đi nữa, cái ông Tạo hóa sanh con rắn và bầy sóc đó chẳng phải là ác sao?


Nhơn loại từ xưa đến nay nạp cho ông thần Giặc biết bao nhiêu sanh linh. Cho đến ngày nay các nước văn minh đều quả quyết rằng giặc là một sự vô lí, một cái bằng, rằng nhơn loại còn ngu dại vô cùng, mà rồi cũng còn dùng khoa học giết người đem nạp cho ông thần Giặc cả mấy chục triệu sanh linh mà không tiếc. Ông thần Giặc có khác nào con rắn kia. Còn nhơn loại có khác nào con sóc đem mình vào miệng rắn kia. Ngoài cái nạn Giặc, nhơn loại còn mắc nước lụt, đất sập, ôn dịch, trái trời, vân vân...


Vì vậy mà tôn giáo, không được yên tâm như nhà khách quan nghiên cứu kia. Tôn giáo đã nói rằng có trời sanh ra vũ trụ, như cha của các chúng sinh, cao thượng, rộng rãi vô cùng, tôn giáo đã nói rằng Trời là cái nguyên nhân tuyệt hảo, soi cả lòng người, thưởng thiện phạt ác, mà lại sanh ra một cái thế giới nghịch hẳn với đạo đức của nhơn loại, tôn giáo là làm bối rối, khó làm cho hòa cái "tấm lòng nhơn loại trọng thiện, ghét ác" với "thiên địa bất nhơn" kia. Mà vì tôn giáo là sự tưởng tượng của nhơn loại, cho nên tuy vậy tôn giáo cũng không phải là không phương phân giải, cái lực tưởng tượng của loài người rộng đường tìm ra lí thuyết.


Viết đến đây, nhớ đến một đoạn lịch sử cách mạng tư bản bên Pháp, cuối năm 1792. Nhà cách mạng Saint Just buộc tội vua Louis 16, thấy có người dụ dự không muốn lên án vua, liền lên câu hỏi: "Nếu nhà vua vô tội, thì tội đổ về đâu". Đạo Thiên Chúa không thể nhìn nhận sự sống trên thế giới này là trúng với công bình, trúng với nhơn đạo, xứng với cái danh của Đức Chúa Cha trên trời, mà cũng không thể cho Đức Chúa Trời của mình thờ, đó là quấy. "Nếu vua có tội, thì dân có tội". Nếu Trời vô tội, thì nhơn loại có tội. Vì vậy mà đạo Thiên Chúa mới dạy rằng ông Adam và bà Eva tổ tông của nhơn loại, khi xưa Trời mới sanh ra, cho ở một nơi vui vẻ, đẹp đẽ, sung sướng, hạnh phúc vô cùng. Song vì cái mạng lịnh của Trời, cấm ăn trái táo (pomme) mà phải bị Trời giận dữ hăm dọa, cho thiên thần đuổi ra khỏi thiên đàng, thành ra con cháu của hai ông bà ngày nay mang oan một cái tội tổ tông rất nặng nề. Có người nói rằng Đức Chúa Trời cấm ông Adam và bà Eva ăn trái tân là đặng thử lòng hai con mình coi có vâng lời người sanh tạo mình không, ấy là một lí thuyết dạy luôn con người phải vâng lời kẻ bề trên. Có kẻ lại nói trái tân ấy có phép làm cho người ăn nó sanh ra có tánh tìm tòi hạch hỏi cho biết mọi việc, vì Adam và Eva muốn "biết", cho nên phải bị gánh sự đau khổ lưu truyền cho hết cả con cháu về sau, ấy là lí thuyết dạy luôn con người phải ở trong sự ngu, không nên "tìm biết". Đã giải được một điều mâu thuẫn làm rúng địa vị của Đức Chúa Trời, mà lại còn tập cho nhơn loại được hai đức tốt vâng lời và ngu dốt. Hai đức ấy kẻ mạnh quyền cần truyền rải ra đặng để trị dân, cho nên lần lần về sau các nhà vua đều lợi dụng đạo Thiên Chúa làm một cái phương châm chánh trị. Dân mê tín lí thuyết của đạo Thiên Chúa rồi, thì dầu có sanh ra một trăm Mạnh Tử buộc tội nhà vua đi nữa, nhà vua cũng không lo, bao nhiêu những sự đau khổ, bất bình, khốn nạn, nhục nhã dưới thế này, đều do tội lỗi của Adam và Eva mà ra.


Bọn cầm quyền bên Á đông ngày nay, tuy không bày ra được lí thuyết "Adam,Eva" như vậy, song cũng có dạy dân rằng mọi sự đau khổ ngày nay là tiền định. Trời định có kẻ làm vua làm chúa, coi mạng người như rơm như rác, Trời định có đám dân đen làm thân trâu ngựa cho một bọn ở không. Đối với cái "tội tổ tông" của Đạo Thiên Chúa, dân ta ngày nay cũng còn tin tưởng rằng mình mắc phải sự đau khổ, nhục mạ là vì ông bà mình ngày xưa nhiều tội lỗi.


Cho đến đạo Phật là một cái đạo chỉ nhìn nhận đời là biển khổ, dạy tu luyện cho cảnh ngoại không nhập được vào tâm, tế độ chúng sanh khỏi vòng đau khổ, mà rồi lần lần về sau cập thuyết "nhơn quả" với thuyết "luân hồi", bày ra dạy rằng tội phước đời này đời sau có trả. Cho đến các Phật kia mà mắc tội còn phải lọt trở xuống cảnh trầm luân.


Các thuyết nói rằng đời này là chỗ để phạt những kẻ có tội lỗi về trước, tự nhiên buộc những người biết phận sự mình phải ép xác ép trí làm sao cho mình càng khổ thêm đặng Trời thương mình biết ăn năn mà mau được chuộc lỗi. Cho nên tôn giáo nào nhìn nhận cái thuyết ấy thì nghịch hẳn với sự vui chơi, nghịch với mĩ thuật, nghịch với cái thuyết biểu con người "Phải tận tâm mưu hạnh phước cho nhơn loại, sắp đặt trái đất này lại làm một chỗ sống nhẹ nhàng, vui vẻ, mở mang tâm trí cho nhân loại, đừng hi vọng nơi thiên đàng nào cả, mà cũng đừng tin có địa ngục phạt kẻ quấy".


Cái thuyết "Thiện ác" của nhơn loại lắm khi bị sự thật là hằng ngày nó phá, làm cho thiên hạ khó tin rằng "làm phải, được thưởng, làm quấy, bị phạt", cho nên muốn cứu đức tin "thiện thắng ác" trong tâm người, nhơn loại cần tin rằng có đời sau, và thiện ác có trả đời sau. Dạy như thế làm vững được lòng kẻ yếu, vì không ai tra xét cho ra những việc đời trước đời sau nổi. Muốn cứu luận lí phải bày thuyết nọ thuyết kia. Mà vì con người hiệp làm xã hội cần có trật tự, có luân lí - ít nữa là một trật tự, một luân lí giả dối để che đậy xã hội vô trật tự vô luân lí - cho nên những thuyết bày ra đó được nhơn loại đeo theo hoan nghinh, kẻ khôn bắt đầu mượn dối trá gạt phường ngu quì lạy theo sau.


 


Trên đó nói các tôn giáo đứng về phương diện thiện ác mà đối với thế giới, chớ không phải là bàn về vấn đề "thiện ác".


Vấn đề thiện ác trong nhơn loại thật là tóm tắt, vì nhơn loại, bất lựa là dân tộc nào, bất lựa là xứ nào, từ dã man đến tột văn minh, đều cho: hễ sự nào lợi cho mình là phải, bất lợi cho mình hay là ngăn cản cho mình, làm cho mình mất một điều lợi mà mình có thể được là quấy. Vì vậy cho nên luân lí, là để định sự giao tế của con người, chỉ gồm trong câu "Mình nếu chẳng muốn, thì chớ ra cho người". Mình không muốn cho người ta làm cho mình điều gì, thì mình đừng có làm cho người ta điều ấy. Là đặng mình không làm "quấy". Nếu mình muốn làm "phải", thì cứ trở câu cấm trên đó lại, thành ra: "Việc gì mình muốn cho người ta làm cho mình thì mình nên làm cho người ta". Có kẻ hỏi: "Muốn lợi cho mình thì thế nào cũng lắm khi bất lợi cho người ta". Nhưng mà con người hiệp nhau làm xã hội, nhơn loại càng tấn hóa, xã hội càng văn minh thì con người càng khó mà sống một mình, không nhờ xã hội chút nào hết. Nhà triết học Spinoza có nói: "dầu trong đoàn thể nào, còn dã man cho mấy đi nữa, con người cũng được lợi hơn là sống một mình". Nếu mình muốn điều bất lợi cho người thì người muốn lại điều bất lợi cho mình. Nếu mình làm cho trở ngại sự mở mang tấn hóa của xã hội, mình mưu sự bất lợi cho xã hội thì mình mưu sự bất lợi cho mình, vì mình cũng chung hưởng những sự tấn hóa của xã hội. Vì một cái lợi to hiện tại mà làm hư hỏng một điều lợi to hơn nữa, về sau, cũng là bất lợi.


Trong câu "mình nếu chẳng muốn chớ ra cho người" hay là, nói nghe có giọng cao thượng hơn một chút: "Mình phải thương người như mình vậy" trong câu đó có hai điều: một là "thương mình", hai là "thương người". Cho nên trong nhơn loại mà làm cho hòa được hai điều ấy, mưu cho được hạnh phúc của cá nhơn và hạnh phúc của cả nhơn loại còn đang tấn hóa kia, ấy là đoạt đến cực điểm đạo đức. Chớ như tôn giáo kia buộc quên mình mà làm phải cho người, vì tội lỗi đâu đâu đời nào không biết, buộc phải hành xác thịt, càng mau chết càng vui, buộc như thể ấy, chỉ có một hạng người rất ít làm theo được mà thôi. Hạng người ấy khoa học xem xét nói đều có đau thần kinh hệ. Mà rốt cuộc, việc hành xác của họ bất lợi cho họ mà cũng bất lợi cho xã hội nuôi họ đó. Chín trăm chín mươi chín phần ngàn trong xã hội vì hiểu lợi tư một cách dại dột mà cứ làm điều bất lợi cho người, còn lại một số rất ít thì lại hiểu đạo đức, tu luyện một cách bất lợi cho thiên hạ. Ấy có phải là hai cái cực điểm xa nhau như trời với biển, chỉ giống nhau nơi chỗ bất lợi không đó thôi.


Lão Tử có nói: "trời đất bất nhơn lấy muôn vật làm chó cỏ". Đạo Thiên Chúa cho thế giới này đầy những tội lỗi, cho nên Đức Chúa Trời mới sai Giê su xuống thế chịu chết chuộc tội cho cả loài người. Hiện thời quỉ Satan, là chúa Ác, còn mạnh quyền cai trị thiên hạ. Đến ngày Chúa Trời phán xét cuối cùng thì người lành lên thiên đàng, kẻ dữ sẽ xuống địa ngục đời đời. Đạo Hồi Hồi cũng có thiên đàng, nghĩa là một cảnh tốt đẹp hơn cảnh này. Đạo Phật cho cuộc đời là biển khổ, nên mưu tế độ kẻ trầm luân. Các tôn giáo đều nhìn nhận đời này là xấu. Mà đối với cái đời xấu, các tôn giáo đều hiểu hi vọng nơi đâu, đành bỏ thế giới thúi hèn này cho đến hư đến sập, chớ không một tôn giáo nào biểu người hết sức sửa đổi thế giới lại cho mình và cho con cháu về sau. Thế giới này là khốn nạn, mà người trong thế giới thì ngước mặt ngó lên thiên đàng, người lại nhắm mắt niệm kinh, không ai ra tay sửa đổi, sao gọi là làm lành được. Kẻ biết phải thì làm lơ, kẻ làm quấy lại đắc thế. Thành ra Đức Chúa Trời sanh mọi vật, mà trên trái đất này quỉ Satan lại trọn quyền làm chủ.


Vì vậy cho nên nhà triết học Đức F.Nietzsche mới nói: "Trong nhơn loại từ xưa đến nay chỉ có hai luân lí, một là luân lí của kẻ mạnh, hai là luân lí của kẻ yếu, một là luân lí của bọn làm chủ, hai là luân lí của phường làm nô". Lời ấy nói đúng với sự thật từ xưa đến nay. Pascal có câu: "Sự thật bên này núi Pyrénées, qua bên kia thì cho là sai". Hiện thời đi xứ này qua xứ kia, mình còn thấy những phong tục nghịch với những lời dạy của luân lí thường ngày: không nên giết người, không nên trộm cướp của người, không nên lấy vợ người, vân vân. Những phong tục ấy đều là hoàn cảnh còn dã man nó sanh ra. Tôn giáo lại còn thêu dệt thêm, làm cho nhơn loại khó thấy rõ đường Thiện mà đi, việc Ác mà trừ.


Đối với đạo dức, Lão Tử có ý kiến rằng: "Có ác mới có thiện, cho nên trong nhơn loại còn phân biệt thiện ác là còn ác, ở nơi nào nói hiền đức nhiều, thì chỗ đó là kém hiền đức".


Ngày nay trong nhơn loại hạng người biết suy nghĩ quyết không để cho giọng kèn tiếng uyển của tôn giáo nó làm cho sai lầm như từ xưa đến nay. Cũng nhìn nhận rằng nhơn loại hiện thời là yếu, thế giới này sắp đặt theo ý kiến của quỉ Satan. Nhưng mà không chịu khoanh tay gục mặt, ép xác, niệm kinh. Hết sức gắng công sửa đổi. Cũng thờ phải, cũng hi sanh chẳng kém gì các thánh tử đạo ngày xưa. Quyết làm cho thế giới này không còn nghịch với luân lí, với đạo đức, với nhơn đạo. Làm cho Trời không còn nghịch với Người nữa.


 


LINH HỒN KHÔNG CHẾT


F. Nietzsche có dặn người nghiên cứu về tôn giáo: "Phải đứng về phương diện triết học mà nghiên cứu tôn giáo, rồi đứng về phương diện tâm lí học mà nghiên cứu triết học". "Triết học" có kẻ giải nghĩa là "thái độ của nhà triết học đối với đời. Tôn giáo là triết học, mà tôn giáo có dị đoan nhiều ít là do sự ngu dốt của người mê tín. Tôn giáo nhiều dị đoan hay là ít dị đoan, tôn giáo có dị đoan nghe hay, hay là tôn giáo có dị đoan dốt nát, cả hai cũng là đều "sự tưởng tượng làm lộ cái thái độ của người tín ngưỡng đối với đời". Và trong đám người tín ngưỡng có nhiều thái độ đối với đời, điều đó là do nơi tánh tình của người tín ngưỡng. Cho nên tôn giáo là triết học, mà triết học là tâm lí học. Tâm lí học nghiên cứu về lí luận, ấn tượng, cảm tình, ý thức, triết huệ, bổn năng, vân vân, nói tóm tắt thì tâm lí học là để nghiên cứu về thần kinh hệ (système nerveux), về tánh chất và sự tác động của thần kinh hệ.


Cho nên nói về vấn đề "Linh hồn của con người" là vấn đề của nhà triết học và nhà tâm lí học. F.Nietzscher có câu: "biết rằng mình có, không phải một cái linh hồn, mà một cái thần kinh hệ, ấy cũng là nhiều rồi".


Nhưng mà biết bao nhiêu đó, đâu có vừa lòng người. Nhà khoa học nhờ hiểu biết nhiều, không tin càn được những giả thuyết của các nhà triết học và tôn giáo. Mà lại, nhờ mê và vui trong sự nghiên cứu của mình cho nên dễ yên tâm. Còn người dốt thì không biết đâu mà quay, làm sao mà hiểu, đến đâu mà đợi, càng dốt thì lại vội tin càn, bất lựa là thuyết nào, miễn là yên lòng thi thôi càng dốt thì càng khao khát với vấn đề "hữu ngã" và "linh hồn bất tử lắm". Trong mấy trương trước, nghiên cứu về Trời, ta thấy nhơn loại có cái bịnh "muốn tra cho ra cái nguyên nhân tột cùng của vạn vật". Đến đây ta lại thấy nhơn loại còn mắc một cái bịnh nặng hơn nữa, là mỗi người đều muốn chắc rằng mình có một cái linh hồn, mà lại một cái linh hồn không tiêu, không chết.


Đạo Phật bày ra cái thuyết "vô ngã" (không có ta), là vì đạo Phật cho cái "tâm" của người như cái kiếng trong ấy vũ trụ rọi vào, ngũ quan làm đường dẫn cảnh ngoại nhập vào trí não làm rối làm khổ cho người, cho nên nếu muốn con người hết khổ, phải đập cái kiếng ấy đi. Ấy là mục đích của cái thuyết "vô ngã". Muốn rõ thuyết này xin coi bài kinh nói về Phật Thích Ca và vua Alexandre nước Grèce cãi nhau về vấn đề "vô ngã".


Chỉ có một mình đạo Phật nói rằng không có "ta". Còn trong nhơn loại, cho đến những người đạo Phật chưa đến "nát bàn", ai ai cũng còn mắc trong tư tưởng "có ta". Trong bọn hết lòng binh vực cái thuyết "hữu ngã", có nhà triết học Descartes còn để lại câu: Je pense donc Je suis (tôi tư tưởng, đó là tôi có). Descartes lấy tư tưởng làm cái chứng bằng gốc cho cái thuyết "hữu ngã". Phần đông thì cứ tưởng cái ở trong xác thịt này, nói chuyện có lí lẽ, có đầu đuôi, biết thương, biết ghét, ấy là "ta".


Ông Spinoza trong quyển Ethique có nói: "Mọi vật đều rán hết sức mình mà giữ mình cho còn mãi mãi, sự rán sức của mọi vật đặng giữ mình cho còn mãi mãi, sự ấy không bao gồm một thời gian cố định, mà một thời gian vô cùng".


Vì ta muốn sống đời đời và vì từ xưa đến nay nhơn loại chưa tìm được trái đào "trường sanh bất tử", mà cái xác thịt này lại trong mấy chục năm nay phải thúi phải tiêu, cho nên tôn giáo phải bày cái thuyết "linh hồn" và xác thịt khác nhau, xác thịt thì tiêu tan, linh hồn không tiêu diệt đặng cho vừa lòng người.


Có người binh cái thuyết "hồn xác khác nhau và riêng nhau", dùng lí này: xác thịt của mình là muôn trùng tế bào (cellules) hiệp lại. Những tế bào ở ngoài da chết lần lần, mình tắm rửa, đánh trôi đi. Những tế bào ở trong lần lần ra ngoài, như vậy cho đến chừng hai mươi năm thì xác thịt của mình hai mươi năm trước không còn một chút nào hết. Xác thịt cũ đã mất rồi mà mình cũng còn là mình, ấy có phải là linh hồn không có quan hệ với xác thịt không? "Con người thay đổi ý kiến, thay đổi tánh tình, có khi thay đổi một cách đặc biệt như đã hóa ra một người khác hẳn. Điều này ai ai cũng đã thấy thường. Mà chính mình kinh nghiệm với mình cũng là đủ. Người mất một tay, một chơn, đầu óc, vân vân... cũng còn đổi tánh chút ít. Muốn nói rằng linh hồn với xác thịt không quan hệ thì trước phải nhìn nhận rằng mọi người đều có một cái hồn và một cái xác riêng nhau.


Mà nhà triết học đứng về phương diện khoa học mãi mãi như Ernst Haeckel lại nói: "Linh hồn là một toàn bộ hiện tượng về sự sống (ensemble des phénomènes de la vie) dính với một cái vật chất bổn thể rõ ràng, kêu là psycho plasma vì nó một loại với nguyên hình chất (protoplasma). Không có cái vật chất bổn thể này (substratum matériel) thì không thể nào có linh hồn được".


Các tôn giáo, dạy về linh hồn, khác ý kiến với nhau.


1) Một phái nói rằng cái hồn của con người, lúc trước ở trong xác thịt một con thú, rồi sang qua xác của con người. Các thầy tu ở nước Egypte thuở trước lại có nói rằng hồn của con người phải đầu thai vào xác thịt của các thứ thú cho đến ba ngàn năm mới trở về xác thịt người lại nữa. Mấy ông thầy chùa nói hồn mình, khi mình chết rồi, thì đầu thai lại hoặc làm người ta hoặc làm thú.


2) Một phái khác nói rằng linh hồn ở riêng một mình tại một chỗ kia, sống lờ đờ hoi hóp đó vậy thôi, chờ cho đến ngày thánh thần hay là một con chim to chi đó đến dắt cho nhập vào một cái xác.


3) Còn một phái nữa nói rằng Đức Chúa Trời sanh ra linh hồn sẵn để ở trong một cái ao to nào đó, trong khi con người giao cấu, đem cho nhập vào đặng hóa ra có xác.


4) Leibniz nói rằng các linh hồn đều sanh sẵn hết, từ ngày sanh ông Adam và Eva. Trong các hột giống trong tinh của ông Adam bà Eva, có sẵn hết các hột giống sanh ra con cháu của hai ông bà về sau. Hột này nằm trong hột kia, như một cái hộp lớn đựng một cái hộp khác, hộp này đựng một hộp nữa, hộp thứ ba đựng hộp thứ tư, hộp thứ tư đựng hộp thứ năm, vân vân. Cho nên những linh hồn của các người sanh ra ngày nay và ngày sau đều đã có sanh ra sẵn từ Adam và Eva.


Khoa học kinh nghiệm nói cái trứng (Ovule) của đờn bà và con tinh trùng (spermatozoide) của đờn ông hiệp nhau lại hóa ra một cái tế bào. Cái tế bào này làm căn gốc sanh lần lần ra đủ cả tế bào mà làm cái xác thịt. Cái tánh chất của nó do nơi tánh chất của cái trứng và con tinh trùng. Anh em, tuy một cha mẹ, mà khác nhau chút ít, là vì cái cách của trứng và tinh trùng điều hòa với nhau hiệp làm một, mỗi khi đều có khác nhau chút ít. Còn phần nhiều trong tánh chất là của ông bà lưu truyền từ mấy đời trước. Cho nên con cháu thường giống ông bà nhiều hơn giống cha mẹ, giống về xác thịt và về tánh tình nữa. Như thế thì không thể nào nói được rằng linh hồn ở đâu đâu bay đến nhập vào cái thai. Vì bị sự kinh nghiệm trở ngại ấy mà Leibniz phải bày ra cái thuyết nói trên kia.


Xem quyển "La Chimie et la Vie" (Hóa học với sự sống) của Georges Bohn, thì thấy con tinh trùng như một vị thuốc để làm một cái bao cứu cái trứng cho khỏi hư đó thôi: cho nên hóa học có thể sau kia sẽ dùng một thứ thuốc giống với cái chất của tinh trùng mà cứu cái trứng của con mái của nhiều loại được; rồi trứng ấy cũng sống cũng nở như có trống. Sách ấy nói: trống mái, đực cái, đều là do nơi con tinh trùng có một chất gọi là "chromoxome accessoire" hay không, Georges Bohn nói: "trong tạo hóa không có chi là "tiền định", không thể nói rằng tạo hóa có một cái "mục đích" gì. Tùy theo các chất hòa với nhau thể nào, thì lộ ra tánh này hay là tánh khác, có lợi hay là bất lợi; con sống ấy thạnh hay suy tùy theo đó; không mục đích gì trong tạo hóa mà tìm". Cả vũ trụ, theo cách nghiên cứu ấy, xem ra chẳng khác nào một cái lò chế thuốc lớn, mỗi vật đều như một vị thuốc mà hóa học có thể tra ra tánh chất và cái cách sanh hóa.


Từ cái tế bào rất nhỏ kia cho đến con người, các loại sống đều có thể nói là có hồn được, vì đều biết sướng biết khổ, biết thích thì hiệp với nhau, kị thì xa nhau; lớn nhỏ khác nhau vì số li (nhiều ít) chớ không phải và tánh chất. Cái thuyết nói loại trùng với con người khác nhau, vi trùng không hồn, còn người có, không có gì chứng là đúng; huống chi là nói rằng loài người có hồn, loài thú không có. Các thú cũng có thần kinh hệ, có ngũ quan như ta, có đủ cái máy làm cơ gốc cho toàn cả động lực mà từ xưa đến nay ta kêu gồm vô tiếng "hồn" đó.


Một hồn kia, một hồn không tiêu diệt được, biết chắc có chưa? Mà có kẻ lại còn bày ra tới hai hồn: hồn khôn, hồn dại. Nhưng phần đông trong bọn mê theo tôn giáo thì nói linh hồn là vô hình. Còn một phái, như đạo Thiên Chúa, thì lại nói, đến ngày phán xét cuối cùng, cả thảy đều sống dậy đủ xác thịt như ngày nay, "một sợi tóc cũng không mất".


Vì không chắc rằng linh hồn không chết, cho nên nhiều người tu hành, học hỏi sâu xa, khổ tâm với cái thuyết "linh hồn bất tử" của tôn giáo, mới bỏ công tu luyện từ bé mà ra lập "gia đình kiếm con truyền nối máu mủ về sau, hi vọng nơi "nòi giống bất diệt". Tôi nói đây là nói hạng người quyết chí chơn tu, biết suy biết nghĩ, hết lòng thờ sự thật. Chớ như bọn "đi tu kiếm cơm, theo tôn giáo cầu lợi vật chất", cũng gian xảo, cũng dâm dục, cũng đê tiện không thua gì ai, bọn ấy không cần phải nói đến; người có chút trí khôn, lòng có chút chơn thật thì thấy rõ bọn đó như thấy hạt đậu đen trong gạo trắng. Trong bài sau đây nói về cách lập ra lí thuyết của các tôn giáo, ta sẽ có dịp mà nói phớt qua các hạng lợi dụng tôn giáo.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.


 


 

trieuxuan.info