Lý luận phê bình văn học
01.08.2009
Bùi Công Thuấn
Bút ký Anh Đức

1.Anh Đức viết bút ký để ghi lại trực tiếp những cảm nghĩ cuả mình về hiện thực, mà những cảm nghĩ ấy khó thể hiện trong truyện ngắn hoặc tiểu thuyết. Bút ký trong tập Bức Thư Cà Mau được viết dưới dạng những lá thư gửi Nguyễn Tuân, nhờ thế Anh Đức có thể đối thoại chia sẻ tâm tình với người đọc. Những bút ký ấy trực tiếp phản ánh cuộc chiến đấu cuả nhân dân Nam Bộ. Anh Đức nói rõ mục đích này: "hẵng cứ gửi cho nhau những thư tín ký sự nói về các nơi chốn ta đặt chân đến, kể chuyện bà con ta ở đó sinh sống và chiến đấu ra sao. Tưởng làm được như vậy cũng đủ làm ta khoan khoái mà tự nhủ rằng dẫu thằng Mỹ có ra sức ngăn cắt, ta cũng cứ ung dung trò truyện như thường”. Những trang bút ký được Anh Đức viết trong tâm trạng hồ hởi phấn khởi, giữa tiếng súng chiến thắng giòn giã cuả quân dân hai miền. Anh Đức tâm sự :”nghe tin các anh đang đổ về hoả tuyến, chúng tôi rất phấn khởi, thật không thể không có sáng tác trong khi trên hoả tuyến cuả cả hai miền Nam, Bắc chúng ta đang nổ vang thì nhịp súng chiến thắng đang hắt lên vòm trời tổ quốc ta ánh hào quang chói lọi cuả chủ nghiã anh hùng CM “(1)


 


Như vậy Anh Đức đã viết bút ký dưới sự thôi thúc cuả cả hai yêu cầu, yêu cầu phản ánh cuộc chiến đấu- như là nhiệm vụ trung tâm cuả nhà văn- và sự thôi thúc cuả trái tim rạo rực cuả một người đang chiến đấu trực tiếp bằng ngòi bút, cùng với nhân dân đánh Mỹ. Anh Đức đang ở trong hào quang cuả chủ nghiã anh hùng CM, ở giưã các em, các mẹ, các chị , các cô bác đang nhất tề xông lên, đâu đâu cũng rộn rã tiếng cười, đâu đâu cũng dòn vang tiếng súng thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị…Anh Đức nhận xét :” Chuyện chiến đấu có nhiều cái vui lắm”, “cuộc chiến đấu ở mũi đất xa xôi này được cái nó trẻ trung, nó tươi đầy, với giặc thì căm thù xốc tới, với ta thì yêu thương trìu mến”, “con rạch, vầng lá hình như cũng nhuộm thắm thêm cái màu lãng mạn cuả cuộc chiến đấu”(sđd). Không khí ấy thể hiện rõ nhất trong bút ký NHỮNG CHUYỆN CHUNG QUANH MỘT TRẬN CÀN HÌNH MÓNG NGƯẠ


 


Tuy vậy, trong tất cả các bút ký, xu hướng chính cuả ngòi bút Anh Đức là miêu tả chiến thắng, miêu tả con người miền Nam chiến thắng, nhất là hình ảnh tuyệt đẹp cuả con người miền Nam ra trận, tươi nguyên và tràn trề sức xuân, vưà ca hát vưà nổ súng xông tới, với sức mạnh không gì cản nổi. Điều đặc sắc khác nữa là, cứ theo dõi thứ tự từng lá thư bút ký ta thấy rõ cuộc chiến đấu cuả nhân dân miền Nam ngày càng sáng ra, càng tiến lên phiá trước, càng hồ hởi , tin tưởng. Anh Đức suy gẫm :”mình càng đánh dai thằng Mỹ càng chết”, “thiệt khốn nạn cho thằng Mỹ, đã sợ chết mà còn dám đến đây”


 


Đây là hình ảnh các mẹ, các chị trong đấu tranh :”các mẹ, các chị, các cô bơi xuồng ào ào ra Cà Mau […] khí thế chính trị cuả ta là ở cái mái chèo vỗ sóng vỗ nước, ở rừng xuồng ghe lao tới như tên bắn, ở sự ung dung cuả các bà mẹ ngồi trên xuồng đi đầu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vưà sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn”(2)


 


Hình ảnh anh du kích trong trận càn Gianxơn Xity làm cho giặc Mỹ vô cùng khiếp sợ. “chúng khiếp sợ vì du kích bám đánh chúng không dứt ra được, du kích cứ như là cây rừng khiến chúng bàng hoàng kinh ngạc là tại sao chúng cho máy bay B52 giập nhiều bom đến thế mà du kích vẫn còn nguyên hết cả”(3)


 


Một hình ảnh khác làm nức lòng người đọc là “dũng sĩ diệt cơ giới Mỹ mọc lên trong rừng Tây Ninh như nấm. Có anh mới giáp mặt lần đầu với xe tăng nhưng một mình đã bắn tan hai chiếc trong vòng năm phút, bản thân anh cũng không dè hoả lực chống tăng cuả mình hiệu quả đến dường vậy. anh vui sướng quá nhảy la vang cả rừng” (Những Chuyện…,sđd).


 


Ở thành phố, chuyện cô T, “tự tay mình đánh diệt ngót trăm tên Mỹ thuộc phái bộ M.AAG cũng thật táo bạo, mưu trí. Tiêu biểu cho vô số những nữ hiệp sĩ cuả thời CM, đánh giặc bằng mìn plastic vang động và lúc cần thì trổ cả quyền thuật ra”(4)


 


Anh Đức đã dành riêng một truyện ký ghi lại lời kể cuả anh Nổi. Đây là bài bút ký miêu tả cận cảnh một cuộc trực chiến. Có lẽ không ở một tác phẩm nào khác, ngòi bút miêu tả cuả Anh đức lại mộc mạc, chân thật, dữ dội, và chạm nổi nhân vật như ở đây. Cũng chưa có trang nào cuả Anh Đức miêu tả cụ thể những cảm giác hết sức tinh tế, sống thực cuả con người phi thường trong cuộc chiến đấu đối diện với sự khốc liệt và cái chết như ở đây. Một mình trong hầm bị thiêu đốt, bị địch chọi lựu đạn như chơi chọi đáo lạc, anh Nổi đã đương đầu với trên hai trăm thằng giặc có cả bầy xe M.113. Chúng đã bị tổn thất nặng, buộc phải rút. Anh Nổi bảo vệ được trại quân y. Sau ba tháng điều trị, sức khoẻ anh lại bình phục. Anh bị mất một tay và hỏng một mắt, vẫn tiếp tục xin làm giao liên. Hình ảnh chị Hồng hy sinh bên cạnh anh, và hình ảnh các thương bệnh binh thuộc trách nhiệm anh chăm sóc luôn luôn là sức mạnh chiến đấu, khiến kẻ địch không thể hiểu nổi.


 


Ký cuả Anh Đức vưà ghi nhận vưà lý giải hiện thực. Anh Đức tập trung lý giải hai điều : Tại sao ta phải cầm súng ? do đâu ta thắng Mỹ và tại sao Mỹ thua ? Anh Đức không dùng ngôn ngữ chính luận, mặc dù đôi chỗ có đưa ngôn từ chính trị vào. Những luận điểm cuả Anh Đức xen kẽ rất tế nhị giữa những câu chuyện kể về sự tích anh hùng, khiến cho chuyện kể trở nên sâu sắc ý nhị. Những luận điểm ấy được nhận thức từ thực tiễn chiến đấu, nên người đọc thấy những điều Anh Đức nói hiển nhiên là vậy, như chính suy nghĩ cuả người đọc.


 


Thực ra, sức hấp dẫn và vẻ riêng cuả bút ký Anh đức là ở cái nhìn trí tuệ sắc xảo, một cảm quan tươi rói về tương lai, và những cảm thức riêng hoà nhập được với cảm thức chung cuả thời đại. Anh Đức nhìn ra sức mạnh vô địch cuả chiến tranh nhân dân trong từng con người cụ thể, nhìn ra xu thế chiến thắng cuả thời đại đánh Mỹ trong từng trận đánh, từng chiến dịch, mà dù kẻ địch được trang bị vũ khí hùng hậu đến đâu, tàn ác đến đâu, cũng phải thất bại. Anh Đức được sống giưã các mẹ, các chị, các anh, và bà con cô bác đánh giặc mọi nơi, mọi lúc, mà khí thế ra trận thể hiện ở cái mái chèo vỗ sóng vỗ nước, ở rừng xuồng ghe lao tới như tên bắn, đó làkhí thế cuả ngàn năm lịch sử dân tộc đánh giặc, nhờ thế ngòi bút Anh Đức có được sự tự tin vũng chãi.


 


Điều thứ nhất Anh đức phát hiện về cuộc chiến đấu cuả nhân dân miền Nam là đấu tranh giai cấp gắn liền với đấu tranh chống xâm lược. Nhân dân miền Nam được CM giải phóng khỏi kiếp nô lệ ngưạ trâu, được CM cấp đất. Chế độ Mỹ Diệm đã cưỡng đoạt đất đai cuả họ, dồn họ vào ấp chiến lược, sát hại người thân yêu cuả họ, thế nên không còn con đường nào khác là phải cầm súng chiến đấu :”Thằng Mỹ ác đến nỗi chúng không để một cái cây vườn nào chỗ chúng tôi được đứng nguyên vẹn. Cây cam bị cắt sát gốc, cây bưởi bị phát ngang, cây gáo vàng mình mang đầy tì vết. Có lần chúng liệng bom bi làm chết gần chục đồng bào Lấp Vò. Tôi chỉ cần ngó quanh chỗ tôi đứng thôi cũng đủ thấy mọi dấu vết căm hờn, nó làm cổ họng tôi nhiều khi phải nghẹn lại. Vì vậy cái ý thức muốn cầm súng giết giặc càng thôi thúc tôi”


 


Anh Nổi đã nói rõ lý do tại sao người dân Nam Bộ lại mau chóng đi theo CM :”Chúng tôi ở nơi đất đai sông rạch, có thể dễ dàng làm ra thóc gạo, tôm cá, nhưng lại luôn luôn có thằng cầm dao đứng chực, doạ mình rằng, nếu mình làm ra được thóc gạo tôm cá mà không cung phụng cho nó thời nó chém.. Như vậy thành ra trong vòng mấy năm, CM dậy lên đều khắp mọi nơi và bà con dân ruộng kể như là theo CM hết”. Anh Đức nhấn mạnh với Nguyễn Tuân điều này :”tôi muốn nhấn mạnh với anh ở đây là sở dĩ tại miền Nam đã đẻ ra những hành động tội ác man rợ nhất, ấy là vì mối mâu thuẫn trong này đã bị dồn tới mức kịch liệt nhất. Bọn điạ chủ phản động và bọn tư sản mại bản làm tay sai cho giặc Mỹ đã để lộ hết thú tính cuả chúng”


 


Anh Đức khái quát cuộc đấu tranh giai cấp với cuộc đấu tranh chống xâm lược trong khái niệm “ĐẤT”, khái niệm chủ đề nòng cốt cuả tác phẩm Anh Đức. “ Khi ta cảm thụ hết cái chữ ’Đất’, ta sẽ không lấy làm lạ khi gặp trên đường những chiến sĩ giải phóng quân quá trẻ, hầu hết là con cái cuả nông dân đang lớp lớp tiến ra trận. Anh nào đôi mắt cũng long lanh sáng rực. Không có gì đáng ngạc nhiên đâu khi ta nghe chuyện những bà mẹ sắm súng và lựu đạn cho con mình lên đường giết giặc . Tất cả những cái đó không ngoài mục đích giành lại sư sống, mà sự sống ở Miền Nam này gần như là 100% trông cậy ở cây luá mọc lên từ các mảnh ruộng “(5) Khái niệm Đất cuả Anh Đức là một khám phá, một sáng tạo độc đáo. Nó chưá đựng được hiện thực rộng rớn cuả đấu tranh giai cấp và đấu tranh chống xâm lược, nó chuyển tải được tình cảm lớn lao cuả người dân với quê hương đất nước và với nghiã tình CM. Nó trở thành một hình tượng văn học vưà gần gũi lại vưà mới lạ. Nguyễn Đình Chiểu từng nói đến việc giữ gìn “tấc đất ngọn rau”, như mục đích chiến đấu cuả người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX, nay Anh Đức đã khái quát hoá lý tưởng chiến đấu cuả nhân dân Nam Bộ lên một tầm vóc cao hơn, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ khốc liệt hơn, vĩ đại hơn nhiều.


 


Phát hiện thứ hai cuả ký Anh Đức là phát hiện về sức mạnh chiến đấu cuả nhân dân Nam Bộ.. Sức mạnh ấy trước hết là sức mạnh “giành lại sự sống”. Sự sống theo cái ngiã cụ thể là sống, quyết sống, không chịu chết trước mũi súng kẻ thù (Truyện Anh Nổi), sự sống còn là độc lập tự do cuả đồng bào đồng chí. “Chúng ta nhiều lần khẳng định rằng độc lập tự do đối với chúng ta là sự sống. Chúng ta có thể hy sinh hết thảy, hy sinh đến người Việt Nam cuối cùng, nhưng độc lập tự do là cái không thể hy sinh” (6)


 


Sức mạnh ấy còn xuất phát từ lòng căm thù cháy bỏng, từ những tình cảm yêu thương đứt ruột. “Lẽ sống ở đây đòi đổi lấy bằng máu, không thể kỳ kèo tiếng một tiếng hai với kẻ thù được”. Anh Giải Phóng Quân ra trận với sức mạnh cuả lòng tin yêu và căm thù :”Mỗi chiến sĩ Giải Phóng Quân ra trận mang theo nhiều sức mạnh diệu kỳ : niềm vui rộn rã khi được biết rằng cha mẹ mình rồi đây sẽ có đất cày và mình cũng không mất phần đất ấy. Khẩu súng hôm nay trên tay họ cũng là khẩu súng tốt nhất giành được cuả Mỹ. Rồi ngoài các thứ đó, mối thù xưa cộng với thù nay cứ ngụt ngụt bốc cao giữa lòng họ. Thù giặc Mỹ vưà dùng các chất độc huỷ hoại các làng ở Trà Vinh, thù chúng lồng lộn ném hàng trăm tấn bom xuống vùng Bời Lời Bến Cát, thù chúng đóng chốt thêm hàng vạn quân Mỹ vào Đà Nẵng Chu lai, thù chúng giết anh Trỗi, anh Dậu, anh Đang. Lại còn cộng thêm mối thù rất lớn nưã là ngày nào cũng nghe chúng leo thang ra Bắc…Mối thù mà Giải Phóng Quân miền Nam mang trong long là mối thù cuả hai miền cộng lại” (Thư Tháng Bảy)


 


Anh Đức cũng ghi được những hình ảnh yêu thương đứt ruột ở xung quanh mình. Thương làm sao hình ảnh năm chiến sĩ hy sinh sau khi đã diệt được 200 tên địch ở cái Nước. Các mẹ, các chị đang


thay quần áo cho anh em, có mẹ nhìn mặt từng anh , nước mắt lã chã, vuốt mắt cho các anh và thì thầm :”ngủ đi con”. Thương làm sao 11 chiến sĩ CM bị địch giết chết quăng xác xuống bàu, bà con, chị em đi kiếm xác các anh đến ngày thứ tám mới thấy, đem về cất giấu trong cái lu mái, đến khi Đồng Khởi mới đem ra truy điệu chôn chung. Cảm động biết bao, trên đường hảnh quân được các mẹ, các chị chăm sóc thương yêu. Một bà mẹ cho 20 trái chanh, và dúi cho tiền mua đường vì sợ các anh GPQ không có tiền. Hình ảnh anh Nổi chăm sóc và bảo vệ thương binh để lại một ấn tượng khó phai. Không hiểu được lòng yêu thương này thì không thể hiểu được do đâu Nổi có thể chiến thắng trong trận chiến khốc liệt với kẻ thù. Anh Đức đã miêu tả thật xúc động lòng yêu thương và chỉ nhắc đến lòng căm thù như những ý niệm.


 


Phát hiện thứ ba cuả ký Anh Đức là những nguyên nhân Mỹ thất bại ở Việt Nam. Anh Đức đã nói một các tự tin và đầy miả mai vào mặt kẻ thù điều này :”rất có thể mách riêng cho bọn Mỹ biết rằng chúng thua trận từ đâu, thua từ bao giờ… hiển nhiên là nay chúng đang đi đến chỗ thua hoàn toàn” (Thư Tháng Bảy )., “ chúng bay thua trên những mảnh ruộng’. Bởi vì ở những nơi ấy chúng đụng đầu với những con người có “sức mạnh diệu kỳ”, chúng đối đầu với những con người chỉ có một con đường sống là vùng lên “giành lại sự sống”, trong trận đaị chiến tranh nhân dân thiên la điạ võng, “một trong những nguyên nhân mà miền Nam đã đánh giặc 20 năm ròng không mệt mỏi, và sẽ còn đánh mãi được đấy “. Nói gọn lại, như lời Anh Đức, giặc Mỹ đã đánh giá sai chúng ta :”rõ ràng giặc Mỹ đang thách thức với cả dân tộc ta, chúng cậy thế bức bách dân tộc ta phải giơ tay lên. Nhưng bọn Mỹ đánh giá sai về chúng ta quá”.


 


Anh Dức nhận định giặc Mỹ : đó là “thứ quân đội quái gở nhất thế giới, vũ khi có 10 mà tinh thần không có lấy một, chúng đánh chác không ra sao, nhưng sự ăn uống chơi bời thì quá đáng”(7). Một đặc điểm khác cuả bọn Mỹ khiến chúng thật bại là :”Bọn Mỹ là bọn vưà chủ quan, vưà ngu, vưà lười biếng”, “đó là những tên lính không có lý tưởng chiến đấu, không có sức mạnh tinh thần”. Chúng không có khả năng chịu đựng gian khổ và “sự tồi tệ cuả lính Mỹ cũng là một trong những nguyên nhân thất bại”. Anh Đức đã kể nhiều chuyện dở khóc dở cười về sự thất bại cuả lính Mỹ và nêu nguyên nhân này :”nguyên nhân chính là vì chúng quá chủ quan, vì chúng đánh quá ‘bài bản’ cuả Lầu năm Góc, những bài bản đó mà đem xài với lối đánh du kích đã đạt tới trinh độ nghệ thuật thiên biến vạn hoá hạng nhất thế giới cuả ta thì chỉ uổng công vô ích”


 


Anh Đức không nói về những nguyên nhân thất bại cuả Mỹ bằng ngôn ngữ lý luận quân sự - chính trị như những chuyên viên quân sự, mà bằng những câu chuyện cuả thực tiễn chiến trường, bằng sự chiêm nghiệm cuả chính bản thân nhà văn, thế nên những lý giải là có cơ sở. Nhưng cần lưu ý, đây là ý nghĩ cuả người nông dân Nam Bộ đánh giặc, họ nhận rõ kẻ thù, biết địch biết ta. Những lý giải cụ thể cùng với tầm suy nghĩ sâu rộng và tình cảm dào dạt làm cho Ký Anh Đức trở nên hấp dẫn.


 


Anh Đức giữ được giọng văn trong trẻo, tình cảm đằm thắm hồn nhiên, màu sắc lãng mạn và vẻ gân guốc dữ dội trong miêu tả cuộc chiến đấu là nhờ “tâm hồn người cầm bút trong cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt ấy vẫn giữ được sự thanh thản lạ thường”(8). Anh Đức đem được ngôn ngữ, cách cảm nghĩ và tâm hồn người Nam Bộ vào trang văn. Đó là thành công đặc sắc cuả Ký Anh Đức trong Bức Thư Cà Mau.


 


2.Bút Ký trong MIỀN SÓNG VỖ là những “cảm tưởng”, “suy tưởng” cuả tác giả sau những chuyến đi như thăm nơi ở cuả Nguyễn Đình Chiểu, thăm Lêningrat, đi dọc miền Trung.


Ngôn ngữ, tính chất văn chương già dặn hơn, điêu kuyện hơn, suy tưởng riêng tư nhiều hơn so với bút ký trong Bức Thư Cà Mau. Cách viết cuả Anh Đức ở đây là từ một vài chi tiết cuả đời sống hiện tại mà “mường tượng” tái hiện quá khứ, suy gẫm về quá khứ, tìm ra những ý nghiã cuả quá khứ trong hiện tại. Những bài tiêu biểu là Hành Hương về Một cánh Đồng, Cảm Tưởng Lêningrat, Ý Tưởng Dọc Một Chặng Đường Miền Trung.


 


Anh Đức đã sử dụng khéo léo một vốn kiến thức tổng hợp để dựng lại quá khứ làm cho quá khứ như sống thực đang diễn ra trước mắt ta. Đó là kiến thức lịch sử, những giai thoại, lời kể dân gian, kiến thức văn chương…về An Đức thăm nơi ở cuả Nguyễn Đình Chiểu , Anh Đức đã nhắc lại việc thằng Bông Sông o bế nhà thơ, suy gẫm về phong trào Tỵ Điạ, suy gẫm về chữ “Đạo”, chữ “Nghiã” cuả Nguyễn Đình Chiểu. Tất cả những tư liệu lịch sử cùng với giai thoại về Nguyễn Đình Chiểu được triển khai trên mạch liên tưởng, suy tưởng thể nghiệm và diễn đạt bằng ngôn ngữ ngợi ca :”Tôi đứng trên cái nền nhà nhỏ hẹp đó, lắm lúc lòng cứ muốn buột kêu lên cái tiếng kêu thán phục thương yêu. Trời ơi, ở vào cái cảnh huống ngặt nghèo bi đát cuả đất nước và cuả thân phận riêng lại có thể có được một con người nghệ sĩ hào hùng đến thế hay sao”


 


Trong bài viết Cảm Tưởng Lêningrat, Anh Đức đã khai thác khối lượng kiến thức văn học và lịch sử thật đồ sộ, dựng lại chân dung, cuộc sống cuả những nhà văn lớn Nga và cả những nhân vật cuả họ như : Pautôpxki, Secnưsepxky, Gôgôn, Biêlinxki, Puskin, TuôcgơNhep, Piot Đại đế, Lep Tônxtôi, Alexit Tônxtôi, lênin, Maiacôpxki…


 


Bài Ý Tưởng Dọc Một Chặng Đường Miền Trung cũng được viết bằng cách ấy. Anh Đức suy tưởng về sông núi, nhớ đến Bác Hồ khi qua Phan Thiết, nhắc đến Bích Khê bị lao chết năm 1945, qua Phan Rí nghĩ về dân tộc Chàm, qua Phan Rang tới Cam Ranh nghĩ về Vịnh Cam Ranh. Đến Nghiã Bình nhắc lại sự kiện Vũng Rô, tới Quy Nhơn ca ngợi người anh hùng Nguyễn Huệ, nhắc đến cây me 200 tuổi và giếng nước do chính Nguyễn Huệ đào…


 


Anh Đức đi đến đâu cũng tìm về quá khứ cuả nơi ấy và đặc biệt chú ý đến những con người lịch sử, nhất là những nhà văn và những con người anh hùng. Chú ý đến nhà văn vì đó là những con người Anh Đức đồng cảm, là người bạn đi trước, mà tác phẩm cuả họ làm cho quá khứ sống cùng với hiện tại. Anh Đức ngưỡng mộ những người anh hùng, vì chính những con người ấy góp phần thúc đẩy lịch sử tiến lên. Nhìn rộng hơn thì trung tâm sự chú ý, tìm kiếm, suy tưởng của Anh Đức là “Con Người” và sự “đổi đời” cuả cuộc sống cũ. Nói cái cũ, con người cũ, cuộc sống cũ để dẫn đến cuộc sống mới hôm nay tốt đẹp. Chẳng hạn, sau khi ca ngợi vùng quê di tích lịch sử cuả Nguyễn Huệ, Anh Đức viết tiếp :” Nhưng kể từ năm 1975, miền quê Tây Sơn mới thật là rạng rỡ trong ánh vinh quang cuả thời đại mới, thời đại có mắt nhìn sâu, có lòng hiểu thấu”


 


Những bài bút ký trong Miền Sóng Vỗ không viết về những vấn đề cuả hôm nay. Tâm tưởng Anh Đức luôn sống với quá khứ. Hiện tại luôn “có ý dẫn ngược tôi về quá vãng “ (Lời Anh Đức-Ý Tưởng Dọc Một Chặng Đường…, sđd) .Quá khứ chống Mỹ cùng với những miền đất đẫm máu bao người đã hy sinh vẫn đang sống trong Anh Đức, trở thành tác phẩm Anh Đức. Cuộc sống hiện tại (sau1975) , là cuộc chiến đấu mới, Anh Đức chưa thâm nhập, chưa trải nghiệm nó, nên khó viết về nó. Anh Đức thú nhận :”Tôi phải thú thật rằng trận đánh đó tôi chưa từng biết”


 


Sức hấp dẫn cuả những bài bút ký tron Miền Sóng Vỗ không toát ra từ hiện thực được phản ánh, mà từ sự rung động cuả trái tim Anh Đức, lan toả sang trái tim người đọc. Anh Đức sử dụng hai thủ pháp nghệ thuật chính là :những suy tưởng trùng điệp về nhiều tầng lớp ý nghiã cuả hiện thực, suy nghiệm cuả chính bản thân ; và thủ pháp tương phản được dùng rất biến hoá. Chẳng hạn, trong Thành Phố Này Phải Đi Tới Muà Xuân là một loạt tương phản ; hoặc đặt cái xấu cạnh cái tốt, cái phi nghiã bên cạnh cái chính nghiã, đặt sự khó khăn thiếu thốn, eo hẹp, thúc ép cuả điều kiện sống bên cạnh cái cao cả, kỳ vĩ và sự phong phú cuả tâm hồn, đặt cái cũ bên cạnh cái mới, cái lạc hậu bên cạnh cái tiến bộ, cái căm thù bên cạnh cái yêu thương trân trọng.. Thủ pháp tương phản cuả Anh Đức luôn mở ra về phiá ánh sáng, vươn tới cái cao cả tốt đẹp, hướng về tương lai với niềm tin bền vững . Anh Đức nói : “ rõ ra cái điều đáng ghét để cho ta nồng nàn với cái nên yêu”. Đó chính là cái “chất Anh Đức” làm nên giá trị trang văn cuả ông.


 


3.Như vậy bút ký trong Bức Thư Cà Mau và Miền Sóng Vỗ có những khác biệt cơ bản, khó có thể sắp chung với nhau như một mạch sáng tạo liên tục.


 


Có thể nêu một vài nét chung về Ký cuả Anh Đức : Ký Anh Đức là những suy nghĩ, nhận thức và cảm xúc trực tiếp cuả Anh Đức trước hiện thực và lịch sử. Ngôn ngữ ký Anh Đức xâm nhập vào ngôn ngữ truyện cuả ông, nhất là những đoạn suy tưởng bằng câu văn trùng điệp trữ tình ngợi ca. Ký Anh Đức hấp dẫn là ở những phát hiện tinh tế cuả một trí tuệ sắc xảo, một trái tim đôn hậu, một lý tưởng sống gắn bó với lịch sử và CM. Trung tâm sự chú ý cuả Ký Anh Đức là Con Người và lịch sử , đặc biệt là người anh hùng và người yêu thương. Ký Anh Đức giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn truyện và tiểu thuyết Anh Đức. Tuy vậy ký Anh Đức chưa đạt đến tính độc đáo thể loại và thành công như truyện ngắn cuả ông.


_________________________________________________


 


(1).Thư tháng bảy


(2).Bức Thư cà Mau


(3).Những Chuyện Chung Quanh Một Trận Càn


      (4).Dưới Một Vầng Ánh Sáng Đục


(5).Thư Tháng Bảy


(6).Những Chuyện Xung Quanh… (sđd)


(7).Những Chuyện Xung Quanh…(sđd)


(8).Chu Nga, Tác Gia Văn Xuôi Việt Nam, Nxb KHXH.1977.tr.405

trieuxuan.info