Nhân 100 năm sinh của thi sĩ Hàn Mặc Tử (22-9-1912 – 22-9-2012)
Viết về giấc mộng, Tản Đà có mấy câu thật hay khiến nhà phê bình Lê Thanh đã không tiếc lời khen ngợi (1) :
Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.
. . . . . . . . . . . . . .
Những lúc canh gà ba cốc rượu,
Vài khi cánh điệp bốn phương trời….
(Nhớ mộng)
Cũng viết về giấc mộng, Hàn Mặc Tử có những câu thật hay :
Nằm gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.
Ngàn tầm bóng liễu trông xanh ngắt,
Cảnh sắp về đông, mắt lệ vơi.
(Buồn thu)
Vì cuộc sống thực tế quá nhiều đau thương nên Tử muốn đắm mình trong mộng cũng là lẽ thường tình.
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới (Quảng Bình), mất ngày 11-11-1940 tại nhà thương phong Qui Hòa (Bình Định), an táng ở đèo Son, sau cải táng về Gành Ráng Qui Nhơn (13-1-1959). Các bút danh đã dùng là : Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử rồi Hàn Mặc Tử (2).
Từ lúc còn nhỏ, khoảng 17-18 tuổi, Hàn Mặc Tử đã làm thơ Đường khá vững vàng, được cụ Phan Bội Châu khen hay và họa ba bài : Chùa hoang, Gái ở chùa, Thức khuya. Lớn lên, thơ Hàn Mặc Tử ngày càng khởi sắc.
Thật đáng khâm phục : con người chỉ sống trên cõi trần này có 28 năm, bỏ đi thời thơ ấu, chỉ còn lại hơn mười năm vừa lo mưu sinh vừa làm thơ mà để lại một khối lượng thơ đáng nể gồm :
1. Lệ Thanh thi tập (Thơ Đường)
2. Gái quê
3. Đau thương tức Thơ Điên, gồm : Hương thơm, Mật Đắng, Máu cuồng và Hồn điên
4. Xuân như ý
5. Thượng thanh khí
6. Cẩm châu duyên
7. Duyên kỳ ngộ (kịch thơ)
8. Quần tiên hội (kịch thơ)
9. Văn xuôi : Chơi giữa mùa trăng
Và rất nhiều văn thơ đăng báo.
Thơ Hàn Mặc Tử ca tụng cái đẹp : vẻ đẹp của thiên nhiên, nét đẹp của các mối tình và cái đẹp của tôn giáo, niềm an ủi của đau thương.
Mùa xuân xưa nay là nguồn thi tứ của biết bao thi sĩ. Hàn Mặc Tử cũng vậy. Khi bóng xuân sang trên giàn thiên lý và những mái nhà tranh lấm tấm vàng dưới nắng mai thì cảnh diễm lệ biết bao :
Trong làn nắng ửng, khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang…
(Mùa xuân chín)
Đà Lạt là một cảnh thiên nhiên kỳ thú, nhất là cảnh dưới trăng. Tử đã say mê cảnh ấy : này đây hàng thông lấp loáng, này đây trăng sao ẩn sau màn sương và này đây sông Ngân hà nổi bật giữa màn đêm huyền bí :
Hàng thông lấp loáng đứng trong im,
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư thực làm sao phân biệt được,
Sông Ngân hà nổi giữa màn đêm.
(Đà Lạt trăng mờ)
Thôn Vỹ Dạ ở Huế có những nhà vườn xinh xắn trồng nhiều cây cối cỏ hoa, và chiếc thuyền đậu bến sông Trăng gợi lên biết bao thi hứng :
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Đây thôn Vỹ Dạ)
Nhưng cũng như Yến Lan, trong thiên nhiên, Tử yêu nhất là trăng. Trong các tập thơ của Tử có hơn mười bài viết về trăng, quả thật là “vầng trăng vẫn luôn luôn ám ảnh các nhà thơ Bình Định”.
Trong một dịp tình cờ, thi nhân đã may mắn gặp được nàng Trăng và ánh sáng của nàng làm bừng sáng cả vùng tiên động và làm cho tâm hồn của thi nhân trẻ lại :
Ta gặp nàng Trăng ở suối trăng,
Nỗi lòng ta mở lẹ như phăng.
Sáng trưng, sáng cả vùng tiên động,
Ta ngắm hồn ta dáng trẻ măng.
(Chơi trên trăng)
Khi viết về nỗi biệt ly, các nhà thơ thường dùng hình ảnh mặt trăng bị xẻ làm đôi để tả cảnh chia phôi như trong Truyện Kiều :
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
để tả cảnh biệt ly giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều. Còn Hàn Mặc Tử thì tả cảnh ấy bằng một nửa mặt trăng :
Hôm nay có một nửa trăng thôi,
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi.
Ta nhớ mình xa, thương đứt ruột,
Gió làm nên tội buổi chia phôi.
(Một nửa trăng)
Tình của Tử là tình nồng nhiệt thiết tha, đến nỗi khi yêu nhau thì bất chấp mọi sự, mặc cho địa cầu vỡ toang ra từng mảnh :
Lúc ấy sóng triều rền rĩ chưa bưa,
Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.
Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt,
Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian
Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa…
(Đôi ta)
Với người yêu, thơ Tử dịu dàng đằm thắm, nhất là khi biết sẽ có ngày chia ly vĩnh viễn nên nhẹ nhàng an ủi, vỗ về :
Anh biết trước sẽ có ngày cách biệt,
Ngó như gần, song vẫn thiệt xa khơi.
Lau mắt đi, đừng cho lệ đầy vơi,
Hãy mường tượng một người thơ đang sống…
(Trường tương tư)
Khi nghĩ đến cái chết sẽ chia rẽ mình với bao người thân yêu, Tử không sao nén được nỗi thương tâm :
Ta còn trìu mến biết bao người,
Vẻ đẹp xa hoa của một thời.
Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng,
Ôi ! Giờ hấp hối sắp chia phôi.
(Trút linh hồn)
Cái chết cứ ám ảnh Tử mãi từ khi chàng biết mình mắc bệnh phong, một bệnh nan y vào thời ấy. Nỗi đau thương cứ dày vò Tử nên chàng thường nhắc đến máu và óc :
Ôi ! Ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa với lượn sóng triền miên.
Khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.
(Biển hồn ta)
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút,
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta.
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,
Như mê man, chết điếng cả làn da.
(Rướm máu)
Là một tín đồ Thiên chúa ngoan đạo, khi nỗi đau thể xác giằng xé đến cực điểm, Tử chỉ còn biết quay về với đạo để tìm nguồn an ủi :
Maria ! Linh hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần tử thấy long nhan.
Run như run hơi thở chạm tơ vàng,
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
(Thánh nữ đồng trinh Maria)
Rồi Tử cầu xin chúa Giê su ban ơn cho mùa xuân hôn phối và tha thứ nếu trong thơ chàng chứa nhiều tội lỗi :
Tôi van lơn, thầm nguyện chúa Giê su
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối.
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng…
(Đêm xuân cầu nguyện)
Như trên đã nói, thơ Hàn Mặc Tử ngợi ca những mối tình rất đẹp, nhưng hầu hết chỉ là tình đơn phương, vô vọng, chỉ có mối tình với Mộng Cầm là gắn bó và đậm đà hơn cả.
Những nàng thơ từng đi qua đời Tử gồm có :
* HOÀNG CÚC : Năm 1933, Nguyễn Trọng Trí vào làm việc tại Sở Đạc điền (Cadastre) ở Qui Nhơn, quen với Hoàng Tùng Ngâm. Ngâm có người chị thúc bá là Hoàng thị Kim Cúc, ái nữ cụ Hoàng Phùng, giám đốc Sở Địa chính. Cô Kim Cúc có bút hiệu Hoàng Hoa, thường làm thơ, viết báo. Cô là một thiếu nữ rất “Huế”, thuộc dòng dõi thế gia ở Vỹ Dạ, một thiếu nữ khuê các, phong thái nhàn hạ, thoáng chút kiêu sa khiến Tử say mê đắm đuối. Đây là mối tình đầu của Tử. Yêu nàng, Tử làm ba bài thơ về hoa cúc :
VỊNH HOA CÚC
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
TRỒNG HOA CÚC
Thích trồng hoa cúc để xem chơi,
Cúc ngó đơn sơ, lắm mặn mòi.
Đêm vắng gần kề say chén nguyệt,
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui.
Bài thứ ba thiết tha, nồng nàn hơn cả :
HỒN CÚC
Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường,
Không dám sờ tay sợ lấm hương.
Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá,
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương.
Ngoài ra, theo Thiện Nam Nguyễn Bá Tín – em ruột Hàn Mặc Tử – thì Tử làm bài thơ Âm thầm trong tập “Gái quê” chính là để thổ lộ tâm sự của mình về Hoàng Cúc như chưa từng bao giờ được giãi bày :
Em có ngờ đâu trong những đêm
Trăng ngà giãi bóng, mặt hồ êm.
Anh đi thơ thẩn như ngây dại,
Hứng lấy hương nồng trong áo em.
Bên khóm thùy dương em thướt tha,
Bên này bờ liễu anh trông qua.
Say mơ vướng phải mùi hương ướp,
Yêu cái môi hường chẳng nói ra…
Lời thơ thật dịu dàng dễ thương, nếu Hoàng Cúc đọc được ắt không khỏi cảm động. Ban đầu Tử định đề tặng cuốn Gái quê cho Hoàng Cúc, nhưng nghĩ có điều bất tiện nên phải giấu kín nỗi lòng.
Sau khi vào Sài Gòn làm báo một thời gian, Tử trở về Qui Nhơn thì gia đình chàng dọn về số 20 đường Khải Định, chỉ cách nhà Hoàng Cúc vài căn phố. Cũng theo Nguyễn Bá Tín thì nhiều hôm Tử ngồi thừ trong chiếc ghế mây, nhìn qua bức mành trúc trước cửa chờ Hoàng Cúc đi qua, trông thật thiểu não. Tử thường tỏ ra bối rối, mất bình tĩnh mỗi khi Hoàng Cúc đi ngang qua nhà. Hoàng Cúc biết điều đó nên về sau kể lại với con gái chị Như Lễ (chị ruột Tử) và nói “nghĩ tội nghiệp anh quá”.
Cái trở ngại lớn nhất giữa hai người là vấn đề tôn giáo. Gia đình Cúc theo đạo Phật rất sùng tín, còn gia đình Tử theo đạo dòng và Tử là một tín đồ công giáo rất ngoan đạo.
Mối tình đơn phương, thầm kín đó cứ kéo dài cho đến năm 1936 thì cụ Hoàng Phùng
về hưu, gia đình dọn về Vỹ Dạ (Huế), tất nhiên Cúc phải đi theo. Tử buồn bã viết :
…Và được tin ai sắp bỏ đi,
Chẳng thèm trở lại với tình si.
Ta lau nước mắt, mắt không ráo,
Ta lẫy tình nương, rủa biệt ly.
(Tình thu)
Vẫn theo Nguyễn Bá Tín thì cũng năm 1936 đó, Tử ra dự Hội chợ Huế, có gặp Hoàng Cúc, cả hai đều rụt rè e thẹn. Tử mang theo cuốn Gái quê để tặng Cúc nhưng lại không dám đưa. Cúc kể lại và ân hận về thái độ rụt rè đó :”Càng tội nghiệp hơn là hôm sau anh xuống Vỹ Dạ đứng trước cổng hồi lâu rồi lặng lẽ bỏ đi”.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua mà Hoàng Cúc vẫn còn giữ được văn chương, bút tích của Tử nên các nhà văn mới có tư liệu về mối tình đầu của Tử.
Năm 1939 bệnh tình của Tử trở nặng, vô phương cứu chữa. Theo Nguyễn Bá Tín thì lúc ấy Cúc có gửi cho Tử một bức ảnh cỡ 6x9 : Cúc mặc áo dài lụa trắng như những cô gái Huế thời bấy giờ, đứng trong vòm cây xanh mát, và Tử đã làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ trong đó có câu “Áo em trắng quá nhìn không ra”.
Nhưng theo Hoàng Cúc thì lại khác. Cúc kể :”Tử có tới gặp tôi hai lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai Tử mạnh dạn lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Gái quê cùng một mảnh giấy nhỏ. Tôi bàng hoàng và cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư”.
Ngày 15-10-1971, Hoàng Cúc viết thư cho Quách Tấn có đoạn như sau :
“….Vào khoảng hè 1939, Ngâm (Hoàng Tùng Ngâm, em họ Cúc) viết thư về Huế cho biết Tử mắc bệnh nan y và khuyên tôi nên viết thư thăm Tử để an ủi một tâm hồn đã vô cùng đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte visite. Trong ảnh có mây, có nước với chiếc đò ngang có cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử mà không ký tên, rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ và một bài khác nữa do Ngâm gửi về.
Tóm lại, ngoại trừ bức ảnh phong cảnh đó và bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ thì Tử và tôi không có thư từ gì cho nhau nữa cả. Ngâm cho tôi biết trước đó Tử có gửi nhiều thơ tặng mà không tới tay tôi….” (3).
Lời kể của Nguyễn Bá Tín và Hoàng Cúc có vẻ mâu thuẫn nhau nhưng không phải là điều khó hiểu nếu ta biết Cúc là con gái nhà nền nếp. Cúc muốn chứng tỏ rằng giữa hai người chỉ có tình bạn chứ không có tình yêu.
Nhận được ảnh của Hoàng Cúc, Tử viết mấy dòng cảm tạ :
Túc hạ,
Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy hàng chữ túc hạ gửi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người bạn năm nao, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong rằng một mùa xuân nào đấy được gặp lại túc hạ mới phỉ tình cho.
Thăm túc hạ bình an và vui vẻ.
Hàn Mặc Tử
Hoàng Cúc nhận được bức thư trên vào tháng 11 năm 1939. Một năm sau, khi được tin Tử qua đời, Hoàng Cúc có vào Qui Nhơn, một mình lặng lẽ đến viếng mộ Hàn Mặc Tử.
Theo Nguyễn Bá Tín thì mùa thu năm Bính Dần (1986) Hoàng Cúc vào Sài Gòn ghé thăm ông thình lình khiến ông xúc động thành thơ :
Chao ôi ! Người xưa đây : Hoàng Hoa !
Bao nhiêu thu rồi chưa phôi pha.
Áo trắng vườn cau thôn Vỹ Dạ,
Thương Hàn Mặc Tử nhận không ra.
Cùng ôn lại chuyện cũ làm cho gia đình tôi vô cùng thương cảm, càng kính trọng chị như người thân bao năm xa cách.
Hoàng Cúc vẫn sống độc thân suốt đời ở Vỹ Dạ, dạy nữ công ở trường Đồng Khánh (Huế) và dốc lòng tu hành cho đến lúc từ trần vào năm 78 tuổi (1912-1989).
Vậy Hoàng Cúc có yêu Hàn Mặc Tử không? Hãy ghi nhận những ý kiến sau đây :
Thi sĩ Quách Tấn viết :”Theo lời Thúc Tề – bạn thân của Tử – và lời úp úp mở mở của Tử thì mối tình của Tử đã thấu Hoàng Cúc và Hoàng Cúc đối với Tử không đến nỗi hững hờ, song cả hai đều giữ gìn mặc dù lòng Tử lắm khi rung động mạnh :
Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường,
Không dám sờ tay, sợ lấm hương.
Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá,
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương (4).
(Hồn cúc)
Nguyễn Bá Tín viết :”Nếu anh biết chị đã qui y, dành riêng một căn phòng ngày đêm hương hoa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà cũng là tình đầu của chị, đang quyện theo trầm hương dâng lên anh nơi miền cực lạc. Nơi đây không còn ngăn cách giáo lương, không còn tham sân si trần tục.
Ôi ! Tình Hoàng Hoa đậm đà biết chừng nào !
Nếu anh biết từ ngày nghe anh đau, chị đã dành dụm một số tiền nhỏ, toan nhờ Ngâm gởi tặng anh thuốc thang, nhưng gia phong nghiêm cẩn không thực hiện được (các con chị Lễ ở Huế đều biết) (5).
Và Hoàng Cúc suốt đời chỉ lo tu hành, không lấy chồng. Tại sao? Câu trả lời thật không khó.
* MỘNG CẦM : tên thật là Huỳnh thị Nghệ, quê Quảng Ngãi, cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu ruột và gọi Ngọc Sương bằng dì ruột. Tình của Mộng Cầm đối với Hàn Mặc Tử như thế nào? Trong bài “Xin tỏ chút lòng để tạ lỗi xưa” của Châu Hải Kỳ đăng trên tạp chí VĂN (Sài Gòn) số 2 (đệ nhị tam cá nguyệt 1967), ông hỏi Mộng Cầm trường hợp nào khiến bà quen Hàn Mặc Tử thì bà trả lời :
“Năm ấy tôi 17 tuổi, học lớp Nhất trường Nam Phan Thiết, nhưng tôi rất ham văn chương. Đêm đêm tôi thường đến học thêm Việt ngữ với cậu Bích Khê tôi. Một hôm đến trường, tôi tiếp một bức thư do nhà dây thép đưa lại. Đó là bức thư đầu tiên Hàn Mặc Tử gửi cho tôi. Trong thư, Hàn Mặc Tử tỏ ý cốt tìm biết để giao thiệp trau luyện văn thơ. Tôi có gặp trên báo tên Hàn Mặc Tử một đôi lần nhưng không biết Hàn Mặc Tử là ai và cũng không biết bằng cách nào Hàn Mặc Tử biết được địa chỉ của tôi.
Tôi bận học thi Tiểu học nên một tháng sau mới trả lời. Bắt đầu từ đó chúng tôi thường có thư từ đi lại cho nhau, nhưng cũng toàn nói chuyện văn thơ…
… Chừng năm tháng sau tôi về Quảng Ngãi, gặp một người bạn học cũ mới hay chính chị bạn tôi quen Hàn Mặc Tử, đã giới thiệu tôi với Hàn và cho Hàn địa chỉ của tôi…”
Mấy tháng sau, Mộng Cầm vào Phan Thiết rồi ra Mũi Né học “cô đỡ” với người cậu là L.Q.T. (anh lớn của Bích Khê). Một chiều thứ bảy, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn ra Phan Thiết và tìm đến bệnh xá Mũi Né thăm Mộng Cầm rồi xin phép cậu Mộng Cầm cho nàng cùng đi đò vào Phan Thiết để nhờ Mộng Cầm giới thiệu Tử với Bích Khê, người mà Tử ước ao tìm gặp.
Châu Hải Kỳ hỏi :
- Như vậy, xin lỗi bà, bà có đi Lầu Ông Hoàng và có gặp mưa không?
- Tôi nhận có đi chơi Lầu Ông Hoàng với Hàn Mặc Tử, có gặp mưa, có ngồi ở nghĩa địa, nhưng không phải vì đó mà Hàn Mặc Tử bị phung như anh Quách Tấn viết. Nếu Hàn Mặc Tử bị phung sao tôi không hề gì cả? Hai người cùng ngồi núp mưa một chỗ kia mà !
Mộng Cầm kể tiếp :
- Một dịp thứ bảy đi chơi Lầu Ông Hoàng, anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi trả lời anh :”Chắc không thể đến chỗ làm bạn trăm năm được. Tôi nói trước để anh đừng hy vọng”.
Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau. Nhưng thật ra vì biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được, ý tôi muốn có một người chồng mạnh mẽ, tráng kiện…
- Tôi xin lỗi hỏi thật bà : bà không muốn tiến tới hôn nhân, nhưng đối với Hàn Mặc Tử, bà có lúc nào cảm thấy yêu không? Và trong những cuộc giao du thân mật, đã có lần nào thi sĩ tỏ thái độ suồng sã với bà chưa?
- Chúng tôi rất mến nhau, nhưng đó là mối tình văn thơ, còn xác thịt thì hoàn toàn không nghĩ tới. Cha mẹ đã cho giao thiệp tự do, chúng tôi phải giữ gìn cho xứng đáng. Vả lại, lúc bấy giờ, tôi tuy đã lớn tuổi nhưng còn khờ lắm…
Đọc đoạn này, Quách Tấn phê phán :
- Người ta hỏi “có yêu không?”, mắc mớ gì đi cải chính về việc “nghĩ tới xác thịt”?
Tình của Tử và Mộng Cầm thế nào? Có thể nói hai người rất gắn bó với nhau. Những chuyến đi chơi, khi thì Lầu Ông Hoàng, khi thì cù lao Mũi Né đã thắt chặt thêm mối tình đó. Vì thế khi nghe tin Mộng Cầm sang ngang, Tử tưởng chừng như đất trời sụp đổ trước mặt và viết nên lời thơ thảm thiết và cay đắng, gọi đích danh người tình :
Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm,
Nhớ thương còn một nắm xương thôi !
Thân tàn ma dại đi rồi,
Rầu rầu nước mắt, bời bời ruột gan.
(Muôn năm sầu thảm)
Rồi Tử mượn rượu để giải sầu như các thi nhân xưa nay vẫn làm, nhưng càng say lại càng buồn thêm :
Đêm nay lại giống đêm nào,
Nhấp xong chung rượu buồn vào tận gan.
Say thôi lại muốn nàng nâng đỡ,
Nhưng nàng xa từ thuở vu qui…
Nhớ thôi lòng những sầu bi,
Lệ rơi vào rượu, hàng mi lờ đờ…
(Say chết đêm nay)
Còn Mộng Cầm thì sao? Nàng cũng có lần nhắc nhở Tử đừng bao giờ quên người tình đã cùng chàng gắn bó :
Rồi có khi nào trong phút giây
Trăng lên khỏi núi, gió đùa mây.
Thì anh nên nhớ người năm nọ
Đã được cùng anh sống những ngày…
Như thế mà bảo vô tình sao được? Cứ theo như bài của Châu Hải Kỳ trên đây thì Mộng Cầm phủ nhận tình yêu của mình với Tử. Quách Tấn viết rằng “tôi nhận thấy Mộng Cầm từ chối tình yêu với Tử như Phê Rô chối chúa”. Rồi ông lại viết :
- Một hôm Châu Hải Kỳ đến chơi, hỏi tôi :
- Mộng Cầm nói chỉ mến Tử chứ không yêu. Anh nghĩ sao?
Tôi đáp :
- Cuộc tình duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm tôi biết rõ lắm. Nhưng tôi chỉ nói những gì có thể nói được, nói những gì có thể giúp cho bạn đọc hiểu thêm tâm hồn Tử, văn chương Tử mà thôi. Và tôi nghĩ đối tượng của các nhà khảo cứu văn học là Hàn Mặc Tử chứ đâu phải Mộng Cầm.
Có lần Quách Tấn hỏi Bích Khê rằng Mộng Cầm có yêu Tử không thì Bích Khê trả lời :
- Không yêu mà chiều thứ bảy nào Tử cũng bao xe từ Sài Gòn ra Phan Thiết để cùng Mộng Cầm đi chơi Lầu Ông Hoàng rồi chiều chủ nhật lại vào. Hai bên giao tiếp thân mật với nhau ngót hai năm trời, nếu không yêu nhau thì chỉ có gỗ đá.
Bích Khê là cậu ruột Mộng Cầm. Khi Mộng Cầm đi lấy chồng, Bích Khê trách nàng là kẻ vô tình, còn Quách Tấn thì cho rằng Mộng Cầm đi lấy chồng là lẽ tất nhiên, không đáng trách. Chỗ đáng trách là Mộng Cầm từ chối sự thật của lòng mình.
Năm 1936, người anh cả của Tử là Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân từ trần vì tai nạn ô-tô, Mộng Cầm đã viết thư cho Tử rằng “hãy coi nàng như một người em dâu chịu tang anh chồng”. Thư viết :
“… Lệ Thanh anh ơi ! Lệ Thanh anh ơi ! Em không thể ra tận ngoài ấy để đưa linh cữu ông anh cả về nơi an nghỉ cuối cùng. Vậy anh cho phép em thành tâm cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh ! Ở trên mấy từng mây, vong linh ông anh cả có linh thiêng nên nhận người em dâu chắc chắn nhất định của ông anh rồi. Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu”.
Lúc này Tử chưa mắc bệnh. Những chi tiết trên cho ta thấy tình của Mộng Cầm với Hàn Mặc Tử như thế nào. Còn việc nàng tuyên bố chỉ mến Tử chứ không yêu chỉ là do hoàn cảnh bắt buộc mà thôi.
* MAI ĐÌNH : Chuyện tình của Mai Đình và Hàn mặc Tử thì rõ ràng minh bạch, chứ không mù mờ như hai trường hợp trên. Đi đến đâu và với ai, Mai Đình cũng công khai tuyên bố rằng mình yêu Hàn Mặc Tử, không hề giấu diếm. Vì thế, viết về Mai Đình dễ hơn là viết về Mộng Cầm hay Hoàng Cúc.
Mai Đình tên thật là Lê thị Mai, sinh năm 1917, quê Thanh Hóa, con một tùy viên làm việc ở Tòa Sứ Phan Thiết. Nàng không đẹp, cũng không có duyên, rất lãng mạn và biết làm thơ. Theo Quách Tấn thì vào khoảng cuối năm 1937, Mai Đình đi ngang qua Qui Nhơn cùng một người bạn là Trần Kiên Mỹ ghé thăm Hàn Mặc Tử. Tử không tiếp, nhưng để đáp tạ tấm lòng người phương xa, Tử gửi tặng tập thơ Gái quê. Ngồi trên xe lửa đọc tập Gái quê, tình thương của nàng đối với Hàn Mặc Tử chuyển thành tình yêu. Nàng quyết gặp Hàn Mặc Tử.
Bài thơ đầu tiên mà Mai Đình viết cho Hàn mặc Tử là bài “Biết anh” :
… Còn anh, em đã gặp anh đâu,
Chỉ cảm vần thơ có những câu
Âu yếm, say sưa, đầy mộng đẹp,
Xui lòng tơ tưởng lúc đêm thâu….
Nhận được bài thơ này, Tử làm bài thơ Lưu luyến :
Chửa gặp nhau mà đã biệt ly,
Hồn anh theo dõi bóng em đi.
Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió,
Lưu luyến bên em chẳng nói gì…
Mùa xuân năm 1938, Mai Đình đi ngang qua Qui Nhơn, ghé thăm Tử mấy lần nhưng Tử không tiếp. Nhận thấy mối chân tình của nàng, hai bà chị của Tử là Như Nghĩa và Như Lễ khuyên Tử không nên xử tệ với ai có lòng chiếu cố đến mình. Vì vậy, Tử vui vẻ ra tiếp Mai Đình khoảng hai lần trong năm 1938.
Năm 1939, Mai Đình đến thăm Tử một lần nữa vào lúc Tử đã mắc bệnh. Lần này
nàng xin phép bà cụ ở lại hai ngày và nàng đã tỏ hết nỗi lòng cùng Tử. Nàng chăm sóc Tử thật chu đáo khiến Tử rất cảm động nên khi nàng từ biệt, Tử tặng nàng một bài thơ, trong đó có những câu :
Cười cho lắm, cho dầm dề nước mắt,
Chết ruột gan mà ngoài mặt như không.
Anh nhìn Mai chua xót nửa tấm lòng,
Không biết nói làm sao cho da diết…
. . . . . . . . . . . . . . . .
Quí như vàng, trọng như ngọc trên đời,
Mai, Mai, Mai là Nguyệt Nga tái thế…
Tử từng nói với Quách Tấn :
- Mai mạnh dạn tỏ lòng yêu tôi. Đã nhiều lần tôi cho Mai biết rằng tôi chỉ coi Mai như một người bạn thiết vì tình yêu của tôi đã giao trọn cho Mộng Cầm rồi. Vì thế nàng có bài thơ phân bì với Mộng Cầm :
Mộng Cầm hỡi ! Nàng là tiên rớt xuống
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay ! Sung sướng biết bao vàn,
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
Rồi Tử kết luận :
- Có lẽ tôi chỉ yêu Mai trong lúc làm thơ.
Năm 1940, khi nghe tin Tử qua đời, Mai Đình rụng rời tay chân, làm bài thơ Tan rã tặng hương hồn Hàn Mặc Tử :
…. Hôm nay bỗng được tin anh mất,
Khắp cả thân em đã lạnh rồi.
Anh chết là hồn em đã chết,
Não nùng chi lắm hỡi anh ơi !
Tử mất rồi, không còn hy vọng gì nữa nên cuối năm 1943 Mai Đình đã lấy chồng và có hai con, nhưng lòng không bao giờ quên Hàn Mặc Tử. Trong thời kỳ tham gia kháng chiến chống Pháp, nàng có làm thơ khóc Tử :
Cũng muốn theo anh dứt nợ trần
Đập tan lưu luyến, thoát phàm thân.
Bay qua muôn vạn tầng không khí,
Hồn quyết tìm cho thấy cố nhân.
Nhưng nàng còn phải sống để làm tròn bổn phận người dân khi đất nước lâm nguy :
Chút nợ ân tình trả chửa xong,
Đành mang tâm sự mãi bên lòng.
Sắt son đã chẳng cùng nhau vẹn,
Em phải đem mình gửi núi sông.
(Trăng cũ)
Sau năm 1975 nàng vào Sài Gòn sống cùng gia đình cho đến ngày tạ thế. Nàng đã ra Qui Nhơn, đến trại phong Qui Hòa thăm nơi Tử nằm dưỡng bệnh và phòng lưu niệm Hàn Mặc Tử, đi dưới bóng những hàng cây râm mát mà trước kia nàng với Tử đã cùng đi và thăm ngôi mộ Tử ở Gành Ráng.
Có người từng hỏi :”Bà đã lấy chồng, có con cháu, nhưng vẫn thờ người tình, vẫn treo ảnh người tình, thế có phải là ngoại tình không? Và ông nhà có ghen không?”
Mai Đình trả lời :”Lúc tôi lấy chồng đã có giao hẹn không được ghen với Hàn, phải chấp nhận cho tôi lập bàn thờ Hàn và phải luôn nhớ Hàn là người yêu lý tưởng của tôi. Có bằng lòng những điều kiện ấy tôi mới chịu kết hôn. Cũng may chồng tôi là người rất phóng khoáng, độ lượng, vui vẻ chấp nhận nên suốt mấy chục năm trời chúng tôi vẫn sống êm thấm, không ai vi phạm lời hứa. Vì thế tôi rất biết ơn chồng tôi”.
Mai Đình đã qua đời ngày 16-10-1999 tại quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh, thọ 83 tuổi. Bà là người tình chung thủy của Hàn Mặc Tử.
* THƯƠNG THƯƠNG : Thương Thương là người thực, tên thực, nhưng chỉ là người yêu giả (trong tưởng tượng) của Hàn Mặc Tử vì lúc Trần Thanh Địch giới thiệu Thương Thương cho Hàn Mặc Tử thì cô bé chỉ mới 12 tuổi và hoàn toàn không biết gì về chuyện này. Thương Thương gọi Trần Thanh Địch là chú ruột và là em ruột của Trần Tái Phùng. Sao lại có chuyện oái oăm này?
Đó là vì Trần Thanh Địch có ý tốt với bạn : sau khi Mộng Cầm khoác áo vu qui, Tử đau khổ như ngây như dại mà Mai Đình không sao thay thế được. Thư nào gửi cho Trần Thanh Địch, Tử cũng than thở về nỗi đau bị Mộng Cầm bỏ rơi. Để an ủi Tử, Trần Thanh Địch bèn mượn tên Thương Thương, giới thiệu là nữ sinh Đồng Khánh rất mê thơ Tử và muốn làm quen. Trong tình trạng tuyệt vọng như người sắp chết đuối vớ được cái phao, Tử vồ vập ngay nàng thơ mới, nhất là nàng có cái “mác” nữ sinh Đồng Khánh và siêng năng phúc đáp thơ nàng. Thật ra tất cả thư từ của Thương Thương gửi cho Tử đều do Trần Thanh Địch thảo ra và nhờ một cô gái viết giúp với nét chữ mềm mại uyển chuyển và tình ý nồng nàn khiến Tử mê tơi.
Mỗi lần nhận được thư Thương Thương, Tử sung sướng đọc rồi giấu kỹ dưới gối, thỉnh thoảng lấy thư ra xem lại rồi tưởng tượng ra dung mạo, cử chỉ duyên dáng, khả ái của người yêu, một nàng con gái có đôi má đỏ au, có bàn tay mềm mại và màu áo lung linh huyền ảo :
Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương,
Má đỏ au lên, đẹp lạ thường.
Bàn tay mềm mại nên thơ quá,
Màu áo lung linh dày tợ sương…
Yêu mà không gặp thì nhớ, nhớ quay quắt, nhớ xót xa đến tàn tạ tâm hồn :
Chiều nay tàn tạ hồn hoa,
Nhớ Thương Thương quá, xót xa tâm bào.
(Nỗi buồn vô duyên)
Với tình yêu Thương Thương nồng nàn cháy bỏng trong tim, Tử hăng hái bắt đầu một thời kỳ sáng tác mới và đã viết nên tập thơ Cẩm châu duyên, hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội. Tập thơ Cẩm châu duyên trước định lấy nhan đề Thương Thương nhưng thấy không tiện nên Tử đổi tên. Thơ trong Cẩm châu duyên nhẹ nhàng, trong sáng, tình thì thơ mộng, thiết tha.
Hai vở kịch Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội lấy khung cảnh ở cõi tiên, không khí trong lành, êm ả, các nhân vật đều là tiên nữ và hai nhân vật chính không ai khác hơn là Hàn Mặc Tử và Thương Thương cũng là tiên.
Khi vở Quần tiên hội (viết chưa xong) gửi ra Huế thì Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng vô cùng lo lắng. Nếu hai vở kịch in ra và Thương Thương lớn lên sẽ bị tai tiếng oan uổng. Sau khi hội ý, Trần Tái Phùng viết thư trình bày tất cả sự thật với Hàn Mặc Tử. Đọc thư, Tử thấy đất trời như sụp đổ trước mắt, bao nhiêu tình yêu và hy vọng đều tan thành mây khói nên Tử bỏ ngang vở Quần tiên hội, bấy giờ mới viết được hai hồi. Về sau, nhà thơ Đơn Phương viết tiếp ba hồi cuối theo đề cương có sẵn của Hàn Mặc Tử và hoàn thành tác phẩm với 700 câu thơ. Đơn Phương đã có công viết nốt vở kịch còn dở dang của Tử, tiếc là không thấy ai nhắc đến ông.
* NGỌC SƯƠNG : Cũng như Trần Thanh Địch, Bích Khê (6) thấy Tử đau buồn trước sự phụ bạc của Mộng Cầm, muốn giúp bạn sống vui trở lại nên năm 1938 Khê vào Qui Nhơn thăm Tử và tặng bạn bức ảnh bán thân của mình chụp chung cùng chị ruột là Ngọc Sương và giới thiệu nàng với Tử.
Ngọc Sương là người có học, cũng am hiểu văn chương, rất thích thơ Tử, dung mạo xinh đẹp, phảng phất giống Khê nên yêu Khê, Tử yêu luôn người chị, nhưng cứ giữ kín trong lòng, không dám nói ra.
Chưa gặp người, chỉ biết người qua ảnh mà Tử đã yêu và ngày càng say đắm nên xúc cảm thành thơ :
Ta đề chữ NGỌC trên tàu lá,
SƯƠNG ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi.
Tình ta khuấy mãi không thành khối,
Nư giận đòi phen cắn phải môi….
(Người ngọc)
Gặp Bích Khê, Tử cố tình đọc mấy câu này cho bạn nghe, nhưng Khê tảng lờ như không hiểu và cũng không nói cho chị hay, nhưng trong lòng rất mừng vì mưu của mình đã thành và Tử đã vui sống yêu đời trở lại.
Một lần Mai Đình ghé thăm Tử, đọc được bài thơ này liền lén cầm ra Quảng Ngãi đọc cho Ngọc Sương nghe, Sương mới biết tình của Tử đối với mình.
Khi gặp Ngọc Sương, Quách Tấn hỏi :
- Nghe Mai Đình đọc thơ, chị thấy thế nào?
Ngọc Sương cười :
- Tôi thấy thèn thẹn.
Biết chuyện, Ngọc Sương yêu cầu Bích Khê và các bạn ngừng ngay trò đùa nguy hiểm này, đừng đổ thêm dầu vào lửa.
Một lần nhà văn Lê Tâm tìm đến Ngọc Sương thăm hỏi và trò chuyện sau khi Tử mất, Sương lặng lẽ đưa cho Lê Tâm xem cuốn sổ tay ghi lại những kỷ niệm giữa bà và Hàn Mặc Tử, Lê Tâm xin phép bà ghi lại vài dòng :
“… Nói đến tình yêu của Hàn Mặc Tử đối với tôi nó rất đơn giản. Không gặp gỡ nhau trao tình gợi ý, không hẹn biển thề non… nghĩa là chúng tôi chưa biết mặt nhau lần nào. Chỉ một tấm ảnh tôi chụp chung với em tôi, thi sĩ Bích Khê, Bích Khê gửi tặng Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử yêu tôi bằng hồn đa cảm, bằng thơ trong đẹp, bằng tim sâu lắng, bằng lòng khép kín… cho nên tôi không hề hay biết. Đến khi Mai Đình ghé thăm Hàn Mặc Tử ở Qui Nhơn, xem trộm bài thơ Người ngọc của Hàn Mặc Tử làm cho tôi. Mai Đình lén lấy bài thơ bay ra Quảng Ngãi, tìm xuống nhà tôi ở Thu Xà, đặt vào tay tôi bài thơ ấy. Và lạ lùng thay ! Mai Đình năn nỉ tôi đáp lại tình yêu của Hàn để an ủi anh trong lúc đớn đau về xác thịt lẫn tâm hồn. Tôi vô cùng ngạc nhiên… Tôi từ chối vì lý do tôi và Mộng Cầm là dì cháu, rồi dối là tôi đã có người yêu (Trích hồi ký của bà Ngọc Sương – bản chép tay).
Ở một đoạn khác, bà ghi tiếp :
“… Năm 1939 tôi phải theo lệnh mẹ chịu lấy chồng. Đúng ngày tôi lên xe hoa, trước hơn một tiếng đồng hồ, Bích Khê gọi tôi với giọng mừng vui :”Anh Hàn Mặc Tử gửi lời chúc mừng hạnh phúc anh chị đây”. Tôi nghe qua và cũng nói qua :”Em gửi thư cảm ơn hộ chị”. Qua năm 1940, sau hơn một năm tôi lấy chồng, bệnh Hàn Mặc Tử đã trở nặng, rồi hồn Hàn Mặc Tử đã “bay bổng tận tầng không”. Kế năm năm sau, Bích Khê nối gót theo Hàn. Sắp xếp chồng thư cũ, tôi bắt gặp tấm danh thiếp của Hàn Mặc Tử gửi chúc mừng ngày thành hôn của chúng tôi. Phía sau tấm danh thiếp là bốn câu thơ bi thiết và vướng máu :
Lại một người yêu đi lấy chồng,
Hồn ta bay bổng tận tầng không.
Máu tim rỉ giọt hoen lồng ngực,
Nhìn xuống xe hoa rực nắng hồng.
(Trích hồi ký của bà Ngọc Sương) (7)
Ngay cả Hàn Mặc Tử cũng không ngờ “Người Ngọc” mà mình yêu lại là một cán bộ cách mạng hoạt động từ những năm ba mươi trong phong trào Mặt trận dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Bà đã bị thực dân Pháp bắt giam và đã trải qua những năm tháng trong các nhà tù của thực dân ở Quảng Ngãi, Phan Rang, Phan Thiết, Qui Nhơn và Nha Trang. Mãi về sau Hàn Mặc Tử mới biết và xúc động thành thơ :
Yêu nước mà sao lại lỗi lầm?
Có gì đè nặng chữ tình câm.
Ghen tuông, trời nỡ đem đi giải,
Yếu ớt, ông đành bắt bỏ giam.
Ôi bọn con đen nhìn bất nhẫn,
Thương cô má đỏ cực vô vàn.
Ai xui cớ sự ra nông nỗi,
Mưa khóc lu bù, gió thở than.
(Tư liệu do bà Ngọc Sương cung cấp cho nhà văn Lê Tâm)
Tháng 6 năm 2002 bà Lê thị Ngọc Sương qua đời, hưởng thọ 89 tuổi (Bà sinh ngày 14-7-1914).
***
Chỉ với những năm tháng ngắn ngủi sống ở trần gian, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã để lại cho chúng ta một gia tài phong phú và quí báu về thơ. Như một lời tiên tri, Hàn Mặc Tử đã viết khi còn khỏe mạnh :
Một mai kia ở bên khe nước ngọc,
Với sao sương, anh nằm chết như trăng.
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc,
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.
(Duyên kỳ ngộ)
Quả đúng như vậy ! Hàn Mặc Tử đã chết trong cô đơn, không có người thân bên cạnh. Nhưng không sao, sau này đã có hàng vạn tấm lòng đến với Hàn Mặc Tử. Xin mượn lời Chế Lan Viên để kết thúc bài này :
“Tôi xin hứa hẹn với các người rằng : mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kỳ mới này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.
HV.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
(*) Thơ Hàn Mặc Tử trong bài “Phan Thiết ! Phan Thiết !”
(1) Lê Thanh khen Tản Đà :”Ta hãy giở các tập thơ của ta từ mấy trăm năm nay, ta tìm thế nào cho thấy những bài thơ như bài “Nhớ mộng”.
(2) Hai chữ “hàn mạc” trong tự điển không có, chỉ có “hàn mặc” nghĩa là văn chương (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam).
(3) Theo cuốn “Bóng ngày qua” của Quách Tấn (NXB Văn Nghệ TP.HCM 2001).
(4) Sđd trang 127.
(5) Nguyễn Bá Tín – Hàn Mặc Tử anh tôi (NXB Văn Nghệ TP. HCM 1991) trang 67.
(6) Bích Khê (1916-1946) tên là Lê Quang Lương, quê Quảng Ngãi, em ruột Ngọc Sương, cậu ruột Mộng Cầm, nhà thơ nổi tiếng, tác giả hai tập thơ Tinh hoa và Tinh huyết.
(7) Tư liệu của nhà văn Lê Tâm. |