Những bài báo
23.10.2013
Kim Quyên
Chị Năm Lê Giang

- Nhấn chuột vô đây đọc Tiểu sử Nhà thơ Lê Giang


Sinh ra bên dòng sông Gành Hào nơi vùng quê cuối miền đất nước của Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, nhà thơ Lê Giang đã sớm mang trong mình cái tính can cường, phóng khoáng của miệt nắng, gió, biển và rừng Cà Mau nên mới mười lăm tuổi, cái tuổi thiếu nữ còn nhiều mộng mơ nhưng chị đã sớm lên đường tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi từ đó, bước chân xuôi ngược từ Nam ra Bắc với những công tác và nhiều ngành nghề khác nhau. Thời đất nước chia cắt, chị ra Bắc học văn hóa, học chính trị rồi trở về miền Nam chiến đấu từ năm 1963, làm công tác y tế. Trong lúc đang làm nhiệm vụ của ngành y thì hoàn cảnh khiến xui đưa đẩy chị đến với thơ, và sưu tầm, phổ biến thơ ca dân gian ở các tỉnh phía Nam.


Đến với văn chương khá muộn, đời văn chương của nhà thơ giống như đoá hoa nở muộn nhưng không vì thế mà kém sắc phai hương, trái lại hương sắc ngày càng thêm mặn mà, đằm thắm. Suốt chặng đường thơ, giờ đây “ gia tài” của chị thật phong phú, giàu có: 6 tập thơ, 7 tập bút ký, tản văn, 7 tập biên soạn sách dân ca, 7 kịch bản phim tài liệu nghệ thuật, cùng với nhạc sĩ Lư Nhất Vũ soạn 6 kịch bản và lời ca ( nhạc cảnh và hợp xướng), chủ biên cùng chồng và con là nhạc sĩ Lê Anh Trung) 2 tập sách âm nhạc…              


Mới đây, nhà thơ vừa ra mắt bạn đọc tuyển tập thơ, tập tản văn  và bút ký “ừ! Chỉ có vậy thôi”. Cầm hai quyển sách trên tay, tôi không biết đọc quyển nào trước, quyển nào sau vì cuốn nào cũng có vẻ “bắt mắt”, mời gọi.


Tôi “nhâm nhi” quyển thơ trước vì rất thích thơ của chị. Không phải thấy thơ được phổ nhạc nhiều và nổi tiếng rồi “bắt quàng làm họ”, mà dòng thơ của chị có nét đặc thù rất riêng của Nam bộ, dân dã chân chất, sâu lắng, tinh tế, phóng khoáng, hồn nhiên và…có hơi thơ.


“Tuyển tập thơ Lê Giang” dày trên 400 trang với gần 200 bài thơ là những “bài ký thơ”, miêu tả những cảm xúc, những hình ảnh mà nhà thơ từng sống, từng trải nghiệm, gắn bó máu thịt với quê hương, làng xóm, với bạn bè, hàng họ và gia đình.


Cà Mau, quê hương của nhà thơ “Lang thang gió cát”, hơn nửa đời người đi đãi cát tìm…những câu ca dao, hò vè, hát ru của mọi miền đất nước. Đời người nhặt nhạnh, kiếm tìm để dâng cho đời những điệu lý câu hò, những câu thơ chảy ra từ tâm can, máu thịt, đó là dòng thơ trữ tình của người con đất Mũi. Lãng mạn lắm! Thiết tha nghĩa tình quá đỗi!


Một áng mây xa mơn man cuối trời


Một cánh chim xa trập trùng cuối đất


Một đứa con yêu tìm về ký ức


Chân mây chiều đỏ rực ánh hoàng hôn…


Thao thức Cà Mau, ta làm ánh sao khuya


Chong mắt tự tình bờ bãi vắng


Làm cánh nhạn gọi trời yên biển lặng


Nước lớn nước ròng xuôi ngược với sông quê..”


(Thao thức Cà Mau)


Trên suốt dọc dài đường thiên lý, trải bao thăng trầm của cuộc đời, nhà thơ không chỉ nhớ về quê hương của mình mà nơi nào đã dừng chân, chị đều gởi gắm một chút tình riêng:


Nơi xa xôi anh đến


Giữa chiều dứt cơn mưa


Phú Riềng xôn xao lá


Nắng lung linh dát vàng


Khi lòng đất trào dâng


Trắng phau dòng sữa mẹ


Anh yêu em người thợ


Vắt sữa rừng cao su…


(Phú Riềng xôn xao lá)


Lên Phú Riềng thì nhớ người công nhân “Vắt sữa rừng cao su”, về Hậu Giang lại thương từng tên xóm, tên làng:


Mảnh đất này thương lắm, Hậu Giang


Từng tên xóm, tên làng sao mộc mạc


Như Vĩnh Viễn, Lương Tâm, dòng Trong dòng Đục


Mãi êm trôi xanh sắc thắm mây trời!...


Như dáng người chung thủy đứng chờ ai


Năm tháng đợi nghiêng mình soi bóng nước


Hậu Giang đó! Đất miền Tây bát ngát


Nỗi niềm vui trang trải giữa mông mênh!


(Mảnh đất này thương lắm Hậu Giang!)


Ông bà tôi chèo ghe trên sông Hậu, sông Tiền


Bán lá lợp nhà cho người đi khẩn hoang lập nghiệp


Đêm khuya khoắt thả mái dài, mái cụt


Gió đưa con buồn ngủ lên bờ


...Thương cha mẹ ông bà tìm lại bước xa xăm


Qua sông Hậu, sông Tiền, xuống Ô Rô, Rạch Gốc


Theo câu hát của người đi mở nước


Đừng để lòng mình lúc đục, lúc trong…


Còn nhiều bài thơ viết về miền Tây với những cảnh tình khác nhau khiến cho người đọc như chìm vào dòng sông cảm xúc, dạt dào với bao yêu thương quyến luyến mà nơi đó không phải chỉ riêng quê hương của tác giả mà cũng là quê của mọi người ở miệt đồng bằng châu thổ. Dòng thơ của chị đa phần là hoài niệm, là những cảnh sắc thiên nhiên luôn gợi nhớ về  kỷ niệm hay con người. Nói về thơ chị, nhà thơ Vũ Quần Phương nhận định “ …Đọc thơ Lê Giang cần nhập vào tâm trạng tác giả, sống vào hiện thực thơ sẽ đi xa hơn những cảm xúc bà gửi trong câu chữ. Lê Giang thường trực một lòng yêu quê hương xứ sở. Dĩ vãng trong bà như một dây đàn căng, một cảnh một việc của hôm nay đụng tới là ngân nga, xao xuyến…”


Đêm nay mình ngủ đâu là bài thơ tôi rất thích vì tứ thơ gợi lên nhiều điều mà chỉ những người đã dạn dày trong cuộc chiến vừa qua mới thấm hết nỗi gian nan cơ cực của những đôi lứa đang mùa yêu đương mà không có nơi chốn yên bình để tâm tình chia sẻ, cuộc đời luôn bất an từng giây phút, “Sống nay chết mai”, rày đây, mai đó, chưa định được nơi nào là mái ấm gia đình, nên họ thường băn khoăn lo lắng những chuyện tưởng như là bình thường, là vụn vặt:


Chưa biết đêm nay mình ngủ đâu


Có thể Thác Mơ, không chừng Núi Gió


Anh là chồng, còn em là vợ


Cứ hỏi nhau hoài đêm nay ngủ đâu?


Đang gối đầu lên mũi đất Cà Mau


Bỗng se lạnh vầng trăng khuya Bến Giá


Vừa mới cơm chiều với mẹ già Long Phú


Đã xạc xào đồng cỏ Lai Khê


… Cuối Trường Sơn bay bổng tiếng đa đa


Giặt áo cho chồng chiều chiều phơi nắng mót


Đâu cũng thấy đôi ta tuần trăng mật


Đâu cũng khẽ khàng in dấu nụ hôn..


Những câu thơ là những câu hỏi nghe lạ lùng, khó hiểu mà ngẫm  kỹ lại thương đến xót xa.


Tình yêu đối với gia đình qua thơ của tác giả cũng mang đến cho ta bao điều suy ngẫm. Hạnh phúc, khổ đau, yêu thương, hờn giận, bông đùa, cắc cớ… đều thể hiện trong từng ý thơ. Nhà phê bình Hoài Anh đã có câu ví von về đời thơ của tác giả “ Một đời người địu cả trên.. thơ”. Có lẽ vậy, đối với chị, đọc thơ hiểu được người, dù ý tứ có kín đáo thâm trầm, dù văn phong có dùng phép ẩn dụ, xa xa gần gần thế nào, người đọc vẫn cảm được bao nỗi niềm thầm kín.


Tuổi đời đã qua bát thập nhưng giọng thơ vẫn như ngày xưa, trữ tình, lãng mạn, đa cảm… Viết về tình yêu, chị bày tỏ như cô gái còn xuân trẻ lắm:


Anh đi bên em chiều chiều


Càng yêu ánh đèn thành phố


Ước mơ chân trời rộng mở


Cho tình yêu ta bay xa


Một chiều một chiều lại qua


Những chiều tình yêu còn đó


Như bầu trời quê lộng gió


Như dòng sông quê ru êm


Ta là cánh chim báo yên


Ta là mùa xuân đến sớm


Tình ta hóa thành sức sống


Dâng đầy trời cao quê hương…”


(Đi trong chiều tình yêu)


Đa cảm, phóng khoáng với thơ thì ở mảng tản văn cách kể chuyện lại có vẻ bông đùa, hóm hỉnh, đôi lúc đầy tính triết lý sâu xa ẩn bên trong nụ cười để truyền lại cho con cháu những kinh nghiệm quí giá về cuộc sống bằng những trải nghiệm của chính bản thân mình mà không hề có một chút “lên gân, lên cốt” nào. Những tản văn nho nhỏ vui vui đã phác họa được cuộc sống hàng ngày với cách nhìn đời đầy lạc quan, mặc dù cuộc sống riêng tư có quá nhiều thăng trầm, trôi nổi.


“Sau mười mấy năm xa cách, tôi trở về thăm cha mẹ. Nơi ấy có bao buồn vui biến động để cho tôi mang theo trên đường đời thuở tuổi mười lăm, bắt đầu cuộc phiêu lưu đầy may mắn, luôn gợi nhớ quê nhà nơi cha mẹ sinh tôi…Cái mà tôi mang theo ấy, lạ thay- đó là cái mùi bếp núc của má, cái mùi của người đàn bà đảm đang quán xuyến”. (Khói bếp không tan). Nhớ về người mẹ nơi quê nhà, tác giả không nói điều gì cao xa mà chỉ nhắc tới mùi bếp núc và mùi cây trái ruộng đồng mà quanh năm má chăm chút miếng ăn thức uống cho gia đình, nỗi nhớ sao quá gần gũi, thân thương.


Nói về tài nấu ăn với món kho khô quẹt của mình trong những ngày chiến tranh gian khổ, tác giả kể “.. Ngày ở rừng, tôi đã nổi tiếng món kho quẹt đã lừng lẫy nổi danh đến nỗi trong một cuộc họp mặt rất đông anh em, nhạc sĩ H.H đã đứng lên giới thiệu: Xin giới thiệu nhà thơ Lê Giang nổi tiếng nhờ món kho quẹt không thể nào quên. Ăn bữa cơm nhà chị, món kho quẹt bao giờ cũng là món khiến cho người ăn nhớ đời, bữa cơm vừa ngon miệng vừa ấm tình bạn bè, luôn rộn vui tiếng cười tiếng nói, tràn ngập không khí gia đình”.


Những chuyện sinh hoạt hàng ngày trong nhà được chị kể lại với giọng văn hóm hỉnh mà không kém phần tinh tế trong cung cách cư xử giữa vợ chồng “Sáng nào ông Năm cũng tập đi bộ rồi xách nước tưới mấy chậu kiểng mà vợ ông trồng ngoài hàng ba, ông thích ngắm nghía rau cải hoa trái xung quanh nhà. Sau mỗi đêm, ông phát hiện chúng bỏ vòi, nảy mầm, he hé vài chùm bông khế.. ông liền thông báo cho vợ. Tuy nhiên, vợ ông đã phát hiện hết trọi từ lúc ông tập đi bộ, nhưng bà cũng chạy ra cùng ông chỉ trỏ, làm như ông là người đầu tiên nhìn thấy chúng…”(Mật ong ruồi).


Tuy cuộc đời riêng lắm nỗi thăng trầm nhưng nhà thơ luôn là người lạc quan yêu đời yêu người, sống theo cung cách khuyên dạy của bà mẹ “Khóc không cho ai nghe, cười cho mọi người biết”, mọi nỗi ưu tư buồn vui về chuyện nhà, chuyện xã hội chị đều trang trải trên trang giấy với đôi mắt bao dung và tấm lòng vị tha.


Đã vượt qua tuổi 80 nhưng xem ra nhiệt tình và tài năng vẫn  còn sung mãn. Nhà thơ cùng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ vẫn dong duổi trên con đường sưu tầm, thu lượm những tài sản quí báo về văn hóa nghệ thuật dân gian để giờ đây gom góp được một kho vốn quí phi vật thể khá đồ sộ mà khó có người nào làm được.


Người viết bài này không thể nói hết và không có khả năng viết đầy đủ, tròn trịa, chân xác một chân dung nhà thơ nữ như chị Năm Lê Giang.


KQ.


văn nghệ số 42/2013/vanvn.net

trieuxuan.info