Dù ai nói ngược nói xuôi thì với tôi thế hệ nhà văn chống Mỹ vẫn để lại những ấn tượng khó phai nhòa. Cuộc chiến tranh Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào (thơ Hồ Chí Minh) đã qua lâu rồi, đủ độ lùi cần thiết để chúng ta đánh giá khách quan về thế hệ nhà văn này qua những sáng tác trước và sau năm 1975 của họ. Đóng góp của thế hệ cầm bút chống Mỹ vào nền văn học nước nhà được bao nhiêu về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có thành tựu gì và hạn chế ra sao là những câu hỏi cần được trả lời. Phần việc ấy, theo tôi nghĩ, trước hết thuộc về các nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học, sau đó tới các nhà văn và bạn đọc. Riêng tôi, trong bài viết này chỉ đề cập tới dấu ấn và ảnh hưởng của thế hệ nhà văn chống Mỹ đối với mình trong cảm thức và sáng tác văn học như thế nào mà thôi.
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Quảng Bình tuyến lửa, tuổi học trò của tôi gần như đi suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Tuổi thơ tôi tận mắt chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh; rất nhiều bom rơi đạn nổ, rất nhiều đổ nát tan hoang, rất nhiều chết chóc thương vong. Làng tôi, vốn hiền hòa xinh đẹp nằm ở cuối sông Gianh chẳng còn nổi một ngôi nhà nguyên vẹn, ít có gia đình nào không có người thân ngã xuống vì bom đạn giặc. Tôi cũng chứng kiến lòng dũng cảm đánh trả máy bay Mỹ của bộ đội hải quân, bộ đội cao xạ, dân quân tự vệ. Tôi từng thấy những con thuyền gỗ bé nhỏ bất chấp bom đạn ra khơi đánh cá hay đến Hòn La chở lương thực thực phẩm từ tàu Hồng Kỳ (Trung Quốc) để tiếp tế cho chiến trường. Phà Gianh, đường 1A, cầu Khe Nước, đường Ba Trại...là những trọng điểm đánh phá của máy bay tàu chiến Mỹ. Xa hơn một chút là Trường Sơn xanh mờ mà dù lúc ấy đang tuổi học trò tôi cũng biết bộ đội ta hành quân qua đây để vào miền Nam đánh giặc.
Kỳ lạ, là lòng yêu văn chương của đám học trò chúng tôi lúc ấy thật mãnh liệt. Cơm độn áo vá, đầu trần chân đất, đi bộ ngủ hầm...thế mà, chúng tôi mê văn thơ đáo để. Nói không ngoa đâu, tôi mê văn thơ đến mức nghiện nó. Cảm giác rằng, nếu không có những bài thơ ấy, truyện ngắn, tiểu thuyết ấy và cả những bài hát ấy nữa...chắc chúng tôi sẽ khó tồn tại được trong hoàn cảnh khốc liệt như thế. Sách báo không có nhiều, nhưng với thơ thì đứa này đọc được cố học thuộc để còn đọc lại cho đứa khác nghe, với văn xuôi cố nhớ cốt truyện để kể cho nhau nghe. Nói thật, trong thời chiến tranh, những bài thơ đánh giặc có sức truyền cảm vô cùng lớn, nó như là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Thơ ca công hưởng vào xã hội, xã hội cộng hưởng vào thơ ca, hài hòa và mạnh mẽ lắm. Tâm hồn chúng tôi được nuôi dưỡng bằng những bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết nồng nàn lòng yêu nước, yêu lý tưởng, yêu cuộc sống và sự lạc quan lãng mạn. Thời ấy, tôi thực sự mê thơ Phạm Tiến Duật, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Khoa Điềm, Giang Nam, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Đình Cánh, Trần Vàng Sao...Sau này, yêu thêm thơ Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Văn Lê...Thời bom đạn, tôi đã đọc Hòn đất của Anh Đức, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Phù sa của Đỗ Chu...Tôi gần như thuộc lòng truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu và đã đọc lại cho bọn bạn trong xóm nghe...
Bây giờ, qua sàng lọc của thời gian có những tác phẩm thời chống Mỹ đọc không còn hay nữa nhưng cái vẫn đọng lại trong tôi là trách nhiệm của người cầm bút. Sự gắn bó giữa nhà văn với Tổ quốc và Nhân dân là vô cùng thân thiết. Tính công dân, chất chiến sĩ luôn được đề cao trong thế hệ nhà văn chống Mỹ. Âm hưởng chủ đạo của dòng văn học chống Mỹ là anh hùng ca, tính chất xuyên suốt của nó là cổ vũ lòng yêu nước. Đấy là những vấn đề lớn của văn học mà bây giờ đôi khi người ta do tuyệt đối hóa cái tôi đã cố tình hay vô tình lãng quên, đánh mất. Thật là không nên, không phải chút nào khi người ta vin vào những cái đó để chê bai thơ văn chống Mỹ thiếu cá tính, thiếu bản sắc.
Viết cho cái chung, vì cái chung không hạ thấp văn chương. Tại sao bài thơ Thần thời Lý, Hịch tướng sĩ thời Trần, Bình Ngô đại cáo thời Lê, Truyện Kiều thời Nguyễn...vẫn còn được Nhân dân ta yêu quý, trân trọng cho đến hôm nay? Những tác phẩm xuất sắc của thế hệ nhà văn chống Mỹ chắc chắn vẫn còn có giá trị lâu dài. Đọc kỹ ta vẫn thấy có những lấp lánh trong đó. Văn thơ hay không bao giờ cũ cả.
Có thể nói rằng, với tôi, văn thơ chống Mỹ đã khơi lên tình yêu và cảm hứng sáng tác nghệ thuật. Khởi đầu con đường sáng tác của tôi bắt đầu từ đó. Tôi tiếp nhận từ thế hệ đàn anh ngọn lửa văn chương ấm áp.Tôi đã học được từ thế hệ nhà văn này những điều bổ ích. Đây là thế hệ nhà văn thân thuộc nhất đối với tôi, trong cuộc sống cũng như trong sáng tác.
Sau năm 1975, như để bù lại phần thiếu hụt của mình trong các tác phẩm, thế hệ nhà văn chống Mỹ đã có những “quẫy đạp” đáng quý. Họ viết về chiến tranh với biên độ rộng hơn và có chiều sâu. Cái nhìn về đồng đội và đối phương cũng khác. Trên mẫu số chung là con người, số phận những chiến binh (ta và địch) cùng với hậu phương của họ được miêu tả chân thật hơn, khách quan và nhân văn hơn. Không có cái xấu hoàn toàn dành cho đối phương và cũng không phải người nào của ta cũng tốt. Không phải trận chiến nào ta cũng thắng và không phải kẻ thù nào cũng khát máu, tàn bạo. Những mất mát đau thương không còn phải giấu kín nữa mà nó được miêu tả phơi bày đôi khi thật trần trụi. Không khó lắm để chứng minh những điều tôi vừa nói trong một số tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Xuân Đức, Trần Văn Tuấn, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Phê, Tô Nhuận Vỹ, Hoàng Minh Tường, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai...trường ca và thơ của Phạm Ngọc Cảnh, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Lê Thị Mây, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu...Những trang viết đầm đìa máu và mồ hôi của con người, giúp bạn đọc nhìn đúng hơn, kỹ hơn, thật hơn một giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc. Nhìn nhận, đánh giá thế hệ nhà văn chống Mỹ nên phải bao gồm cả hai giai đoạn: trước và sau năm 1975 để thấy hết những thành tựu và đóng góp của họ trong tiến tình phát triển của văn học Việt Nam.
Tôi là một người lính nhập ngũ năm 1974, trước cái mốc lịch sử đặc biệt Đại thắng mùa Xuân một năm. Chùm thơ 3 bài đầu tiên của tôi được in báo là trên tờ Trường Sơn do anh Phạm Tiến Duật biên tập thuở tôi còn binh nhì. Bài thơ đầu tiên in Văn nghệ quân đội là năm 1976, in Văn nghệ năm 1985. Năm 1996, tôi được giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội và sau đó 1 năm trở thành biên tập viên của Nhà số 4. Điều tôi thấy may mắn, là đã được quen biết, làm việc với nhiều nhà văn thế hệ chống Mỹ trong đó có những người đã thành bạn vong niên như Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Lê Đình Cánh...Thân quen, nhưng chưa bao giờ các anh chị trở thành những cái bóng che rợp tôi. Tôi quý trọng các anh chị nhưng vẫn chọn lựa lối đi của mình để sau ngần ấy năm đã tạo được giọng riêng không lẫn vào lớp nhà thơ đi trước dù viết về chiến tranh. Tuy vậy, tôi vẫn chưa bao giờ không thừa nhận, thế hệ nhà văn chống Mỹ đã có ảnh hưởng đến mình. Sự ảnh hưởng vào các giai đoạn có sâu nông khác nhau nhưng đều có.
Hiện nay, tôi biết, không phải không có người muốn hạ thấp thành tựu đóng góp của thế hệ nhà văn chống Mỹ vào nền văn học nước nhà. Theo tôi, thì dù còn có những hạn chế nhưng thế hệ nhà văn chống Mỹ đã có những đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử dữ dội. Mảng văn học viết về chiến tranh là thành tựu lớn nhất của họ. Trước và sau năm 1975, nhiều tác phẩm chiến tranh đã được bạn đọc đánh giá cao là của thế hệ này. Có những tên tuổi của thế hệ nhà văn chống Mỹ còn lưu lại rất lâu trong lòng bạn đọc. Đấy là niềm tin vững bền của tôi.
Đồng Xa, cuối tháng 2 năm 2014
Nhà thơ Anh Ngọc không giấu nổi mình
Đại tá Nhà thơ Anh Ngọc sinh năm 1943, tuổi Mùi (cầm tinh con dê). Anh là một trong những nhà thơ được định danh rất sớm của thời chống Mỹ. Chùm thơ viết về Quảng Trị được giải Nhì cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ năm 1973 và hai năm sau trường ca Sóng Côn Đảo của anh lại dành giải A cuộc thi thơ của báo này. Thời ấy, Xuân Diệu đã khen nhà thơ: Anh Ngọc đã để lại ấn tượng. Anh là một thi sĩ. Bạn đọc biết đến khá nhiều tác phẩm của Anh Ngọc trên những thể loại thơ, trường ca, tùy bút, phê bình, dịch thuật và cả...bình luận bóng đá. Theo chỗ tôi biết thì Anh Ngọc có ba niềm đam mê lớn là thơ ca, nhạc Trịnh và môn thể thao vua: bóng đá.
Riêng tôi, trò chuyện với Anh Ngọc là một thú vị bởi tính thẳng thắn và cởi mở của nhà thơ. Đầu năm “Con Ngựa” 2014, chúng tôi có cuộc chém gió vui vẻ với nhau..
Nguyễn Hữu Quý (NHQ): Anh sinh năm 1943, đúng không? Theo năm âm lịch là Quý Mùi. Anh thuộc mạng Mộc là con dê trong đàn. Tôi đọc một cuốn sách có nguồn gốc từ Trung Quốc, người ta viết đại ý rằng: Là con người nhanh nhảu, hoạt bát trong công việc, cứu người không đòi hỏi ân tình nhưng trái lại chuốc điều thị phi. Có của nhưng không giữ được;của đến rồi lại đi...Đối chiếu với anh có đúng vậy không?
Nhà thơ Anh Ngọc (NTAN): Với các loại tướng số, tử vi, bói toán và… tâm linh nói chung mình có thái độ giống như Khổng Tử: “Kính nhi viễn chi”. Mình là người vừa duy cảm vừa duy lý, vừa có thể bị lôi cuốn bởi niềm tin của người khác, vừa luôn đòi hỏi phải “thực mục sở thị”, phải có cơ sở khoa học vững chắc…mình mới thật tin. Nhưng những gì dù mình chưa tin, nhưng mình biết rằng hiểu biết của con người vô cùng hữu hạn, bé nhỏ…nên mình bỏ ngỏ khả năng tin hay không tin, và luôn tôn trọng những điều mình chưa thể khẳng định là không có, do đó mình vẫn tuân thủ những câu các cụ dạy: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Nhưng mình lại hoàn toàn tin vào chân lý này: Sức mạnh tinh thần của niềm tin là hoàn toàn có thực và rất mạnh mẽ. Vì vậy xem ra các điều anh nói ở trên từ Tử Vi của mình có vẻ cũng đúng vài phần đấy: Nét tiêu biểu nhất trong tính cách của mình là tính mâu thuẫn – mình đã từng mượn lời cụ Chế Lan Viên chế biến đi một tý: Cụ Chế trong thơ Di Cảo tự gọi mình là “Thần Bayon bốn mặt dấu đi ba”, thì mình, nếu cũng tự cho là Thần Bayon bốn mặt thì cả bốn mặt đều phơi ra, có điều chúng phơi ra không đều nhau…
NHQ: Anh khá thành công ở nhiều thể loại văn học, nhưng trong cảm nhận của tôi thì thơ vẫn là nổi bật. Mấy năm gần đây, tôi thấy thơ có những chuyển động đáng chú ý, cả nội dung lẫn hình thức. Anh thấy thế nào?
NTAN: Có lẽ anh nói đúng. Dù mình thích đủ thứ (thơ, âm nhạc, triết học, ngoại ngữ, văn xuôi nhiều chất tùy bút, dịch, bình luận thơ văn, bình luận… đủ thứ nhất là bóng đá) nhưng có vẻ tất cả những thứ đó trong thơ đã có cả rồi, nên nếu gọi mình là một nhà thì vẫn phải gọi là “nhà thơ” thôi…
Không phải gần đây, mà từ khá lâu, thơ ta vẫn đang chuyển động, các nhà thơ có tuổi cũng liên tục cựa quậy chứ lớp trẻ thì khỏi nói rồi. Họ theo dõi sự chuyển động của thế giới và…chuyển động theo! Một số (không nhiều) sống và viết trung thực với chính mình, tìm tòi của họ có thể chưa được độc giả hưởng ứng, nhưng họ thích là tốt rồi, trước hết người viết phải tự tin, tự thích và tâm huyết thực sự với công việc của mình, rồi mới hy vọng thuyết phục người khác…Nhưng, bao giờ cũng vậy, số người làm hùa theo thị hiếu, nói quá lên là viết để…lòe nhau, bịp nhau, dọa nhau (cười) cũng lấy đấu mà đong, lấy xe mà chở anh ơi!
Với những người viết chân thành tâm huyết với thứ thơ cách tân của họ thì mình rất tôn trọng, dù thích hay không. Bởi kiểu gì thì thơ cũng giống như món ăn vật chất, một mâm cơm có nhiều món ăn là đương nhiên, ai thích ăn món gì tùy khẩu vị, trừ cửa hàng đặc sản và độc sản thì không nói…
Cho nên, OK! Hãy viết những gì mình tâm huyết, và trung thực với chính mình trước đã, rồi… nếu có TÀI (chữ này vô cùng quan trọng), bạn sẽ làm ra một thứ gì đó mà nó có quyền tồn tại dưới ánh mặt trời, thế thôi!
NHQ: Hiện nay, theo tôi có hai xu hướng sáng tác thơ là truyền thống hoặc đổi mới trên nền truyền thống và hiện đại hoặc hậu hiện đại. Anh nghĩ có nên phân chia ra như thế không? Và hình như đã có sự phân hóa, định kiến giữa các thế hệ, các trường phái sáng tác thơ...
NTAN: Mình thú thật đã đến tuổi mệt mỏi, đôi lúc còn chán nản nữa, nên chẳng mấy quan tâm đên các trường phái, lý thuyết này nọ… Thậm chí bái phục những ông bà suốt đời chỉ chiến đấu cho thơ cách tân không mệt mỏi. Ngả mũ phục họ, và cũng ngả mũ chào lui họ luôn.
Nhưng mình vẫn còn một chút tự tin là hễ đọc bài nào mình thấy có nét hay thật là mình nhận ra ngay – và thực lòng có đôi lúc phải phục một vài nhà thơ thực tài, có những bài, thậm chí những câu thôi không thể phủ nhận là không hay được.
Nhưng thời nay, việc quảng bá, PR như ta vẫn nói, quan trọng lắm, nói “hữu xạ tự nhiên hương” nhưng hữu xạ mà cho vào hòm đậy nắp kín thì tự nhiên hương cái nỗi gì… Nên vấn đề cần những nhà phê bình TÀI NĂNG VÀ CÔNG TÂM trở nên vô cùng quan trọng… Có khi chính các nhà thơ phải xông vào công việc khó khăn này, hỗ trợ các ông bà phê bình một tay vậy.
NHQ: Nhà thơ tài năng xuất chúng cũng như bài thơ hay bao giờ cũng hiếm. Theo anh, sau năm 1975, ở nước ta có nhà thơ tài năng và nhiều bài thơ hay không?
NTAN: Có chứ. Sau năm 1975, nhiều nhà thơ lập nghiệp từ trước 75 nhưng sau 75 mới phát huy hết tài năng, họ là nhịp cầu nối liền thơ kháng chiến và thơ hòa bình. Các ông Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo…và nhiều nhà thơ thế hệ chống Mỹ tiếp tục viết khá sung sức những chủ đề hậu chiến, những chủ đề muôn thuở của thơ ca, mà nhiều năm trước do hoàn cảnh chưa có dịp viết…
Ngay cả quan niệm thơ là đặc quyền của tuổi trẻ cũng chỉ đúng cỡ 60% thôi, có những thứ thơ càng già, càng trải đời thì càng hay. Các nhà thơ Đường đều viết rất hay về kiếp người từ khi đã đứng tuổi. Thậm chí thơ tình yêu của người cao tuổi cũng có cái hay riêng, như gừng càng già càng cay vậy.
Còn với các nhà thơ ra đời sau hòa bình, ai cũng mong các bạn vượt cha anh để đúng câu “con hơn cha là nhà có phúc”, không ai cản đường các bạn đâu. Thơ văn đã phổ biến rồi là rất bình đẳng và sòng phẳng, nói như cụ Hoài Thanh: Người ta có thể lừa một số ít người trong một thời gian không dài lắm, còn không thể lừa một số đông công chúng trong thời gian dài đâu… Nên mọi ý định kiểu chụp giật, dọa rồ nhau bằng các thủ thuật ngôn từ và PR nếu thích thì cứ làm, nhưng khó qua mắt công chúng và thời gian lắm.
Một bài thơ Đường như “Thanh Minh” của Đỗ Mục làm từ 15 thế kỷ trước, giản dị đến không thể giản dị hơn, mà không biết bao lần lang thang trên phố hè Hà Nội, nhất là ngày mưa, rét, dịp lũ lụt hay cuối thu đầu xuân chẳng hạn, nó vẫn làm tôi xúc động lạ thường! Khi bạn đã thấu hiểu đến đáy lòng thế giới hồn người, thơ bạn sẽ chạm được vào đáy lòng nhân thế.
NHQ: Anh từng viết: “Cuộc sống đơn giản hơn ta tưởng rất nhiều / Và phức tạp hơn ta hằng nghĩ”. Không có sự từng trải chắc không viết được câu thơ mang tính chiêm nghiệm như thế. Đến bây giờ, ở tuổi 70, không biết nhà thơ đã “miễn dịch” được trước sự phức tạp của cuộc sống chưa?
NTAN: Biết bệnh thì bước đầu có thể chữa bệnh. Nhưng không phải bệnh nào cũng chữa được. Tôi thú nhận căn bệnh cuối cùng không sao chống nổi, đó là “tự mình chống lại chính mình”… Đôi lúc, trong khi miệng thì cười toe toét, nhưng tâm trạng tôi hoang vắng đến nỗi không biết mình đang ở đâu, xung quanh nườm nượp người mà như không có một ai, đấy là tâm trạng chỉ cách hư vô có một bước…và cảm thấy tất cả sự thảm hại của tất cả lũ người chúng ta, còn khổ hơn cả lũ chim chóc, bướm ong nhởn nhơ kia nữa… đúng như một câu hát của anh Trịnh Công Sơn; “Người ôm lấy muôn loài, nằm trong tiếng bi ai”. Nói thẳng ra như thế thì đã không còn thuộc phạm trù lạc quan hay bi quan gì gì nữa đâu…
NHQ: Tôi không ngần ngại gọi Anh Ngọc là nhà thơ của tình yêu khi anh viết ra những dòng đầy thổn thức như thế này: “Anh lục tìm trong tận đáy hành trang / Gặp giấc mơ cuối cùng còn sót lại / Cơn mưa bụi trắng trời hôm ấy / Mắt em buồn như một buổi chiều đông” và khẳng định: “Sau tất cả chỉ tình yêu không mất...”. Ở chỗ khác, anh lại đồng cảm, đồng tình cái “chất” Thị Mầu trong tình yêu: “Những khát vọng nằm sâu trong mỗi trái tim người / được sống đúng với lòng mình thực chất / những xiềng xích phết màu sơn đạo đức / mấy trăm năm không khóa nổi một Thị Mầu..”. .Nhưng anh ạ, xã hội lắm người nhiều ma bây giờ đâu dễ cho ta được sống đúng với lòng mình thực chất...
NTAN: Vâng, nói một cách có vẻ văn hoa nhưng rất thật là: Trên đời này chỉ có Tình Yêu là có thể chiến thắng được Cái Chết mà thôi. Tình yêu là một trong ba đề tài vĩnh cửu của Văn học nghệ thuật muôn đời: Tình Yêu, Thiên Nhiên và Lẽ Sống Chết!
NHQ: Anh Ngọc là người trẻ lâu. Trẻ không chỉ ở diện mạo, vóc dáng mà chủ yếu ở tâm hồn, suy nghĩ và hành vi. Thơ và đặc biệt là tùy bút hay bình luận bóng đá của anh vẫn đầy cảm xúc hồn nhiên tươi mới. Chưa nói đến anh vẫn rất hăm hở chơi fb...kết bạn với hàng nghìn người trên mạng. Tuy vậy, tôi thấy anh không có nhiều bài thơ viết về mùa xuân, mùa khởi đầu của một năm mà ta vẫn thường ví với tuổi trẻ...
NTAN: Tôi gần với nỗi buồn hơn niềm vui, gần với mùa Thu hơn mùa Xuân, nhưng thực ra tôi cũng có đôi ba bài, hoặc đoạn thơ về mùa xuân, nhưng mùa xuân của tôi… hơi buồn:
“Chao ôi mưa bụi, ôi mưa bụi
Chữ nghĩa vô duyên lỡ hẹn rồi
Ước gì trở lại Xuân năm cũ
Để được “làm mưa tan giữa trời” (chữ của TCS)…
….
“Mùa Xuân
Mùa Xuân đã cho anh tất cả
Và lấy đi tất cả của anh…”
Đại loại thế.
NHQ: Tôi thử đoán thế vận của anh năm 2014, năm con ngựa nhé! Mọi sự thuận thông may mắn. Thuận buồm xuôi gió. Song cần một lòng đừng thay đổi thất thường mà xôi hỏng bỏng không để rồi thở vắn than dài. Vẫn phải sống chung với bệnh tật. Lạ, là vẫn còn điều thị phi trong khi anh hiền lành chừng mực như thế. Anh nghĩ sao điều tôi vừa nói?
NTAN: Tôi không có lấy “xôi” và “bỏng” từ tay ai, mà do mình hì hục cày cuốc mà có chút ít, nên câu…“dọa” của anh không làm tôi sợ đâu nhé (cười)… Tôi và tất cả chúng ta đều được hưởng lợi và đồng thời là nạn nhân của tính cách của mình. Còn cái chuyện mình trước sau không động đến chân lông một ai mà vẫn…có thể có người không ưa thì đành nhún vai. Còn nhớ, bạn tôi, anh Trương Đăng Dung ở Viện Văn khi nghe tôi tâm sự điều này, đã nói một câu chí lý: “Riêng cái việc anh sống khác người ta là đủ cho người ta ghét anh rồi”! Giỏi!
Và có mấy câu thơ của ông Raxun Gamdatốp mà tôi dịch có thể thay lời kết về cái nghịch lý này nhé:
“KHÔNG ĐỀ
Có bà thày bói nọ
Tiên đoán số phận tôi
“Mục đích đời anh thì cao đẹp – bà ta nói –
Song trong đời anh sẽ không ít kẻ thù”
Thôi đi, bà ơi, đừng phí lời vô ích
Chẳng cần lời bói của bà mọi sự cũng đã hiển nhiên
Khi con người có mục đích thiêng liêng
Hắn sẽ có rất nhiều thù địch”
Đời là thế mà, ở đâu cũng vậy!
NHQ: Chúc anh và gia đình trong năm nay an lành may mắn.
NHQ thực hiện
nguyenhuuquy.vnweblogs |