Thu đông năm 1982 tôi được học tập ở ngôi trường tại một lâu đài cổ, nằm sâu trong vùng rừng núi phía nam nước Cộng hoà dân chủ Đức cũ. Trong thời gian học tập thường vào những dịp cuối tuần nhà trường tổ chức những cuộc giao lưu với các đoàn quốc tế như Đoàn thanh niên Ba Lan, Đoàn thanh niên Áo...tuần đó chúng tôi đã được gặp gỡ với các bạn thanh niên Đan Mạch. Đó là một buổi tối có tuyết rơi, gió rất lạnh, rừng núi âm u bí ẩn.Chúng tôi cùng ngồi uống trà nóng, tôi nói bằng tiếng Anh với các bạn:
- Tôi đã đọc và rất thích truyện cổ tích Andersen.
Các bạn Đan Mạch lắng nghe giọng nói tiếng Anh không chuẩn của tôi và ngay lập tức cùng reo lên: “Andersen! Andersen!”.
Khuôn mặt của những người bạn Đan Mạch trắng hồng rực rỡ lên, ánh mắt xanh biếc như mầu nước biển và thật là bất ngờ… Buổi tối đó chúng tôi được xem một vở kịch câm diễn truyện “ Nàng công chúa và hạt đậu”. Dường như có một ngôn ngữ kỳ lạ truyền cảm từ ánh mắt, từ những ngón tay, từ một dáng nghiêng nghiêng khiến cho mình vừa bật lên tiếng cười vừa trào nước mắt …một nỗi cảm thông thiêng liêng tràn ngập hồn người khi bước vào thế giới TRUYỆN CỔ TÍCH. Ngay lúc ấy khi nhìn ra ngoài vườn cây đang rung rinh trong mầu trắng xóa của tuyết tôi cảm thấy như có bóng dáng của một người cao gày mặc tấm áo đen vừa lướt qua cửa sổ…Hans Christian Andersen…
Tôi biết đến truyện cổ tích Andersen lần đầu tiên ở một góc nhà trên sàn gỗ ọp ẹp nơi phố cổ Hà Nội. Vào một buổi tối mùa đông mưa rơi mờ mịt đường phố, tiếng gió thổi âm u rào rạt trên cành lá của cây đa cổ thụ bên đền Bà Kiệu như đang thủ thỉ trò chuyện về một tổ chim yểnh già đã từng trú ngụ ở đó mấy trăm năm...Trong căn gác nhỏ được thắp sáng bởi ngọn đèn điện sợi đốt, ánh sáng tỏa ra từ dây tóc mảnh dẻ một mầu vàng khè sáng yếu ớt.Trong tiếng mưa rơi đập vào cánh cửa sổ gỗ ọp ẹp, tiếng bà ngoại tôi tụng kinh niệm Phật lúc to lúc nhỏ hòa nhịp với tiếng mõ cốc, cốc, cốc ...rồi thỉnh thoảng hết một đoạn, bà tôi lại thỉnh một tiếng chuông nhỏ ngân nga....Trong không khí trầm mặc đậm chất Á đông ấy tôi ngồi đọc truyện “Chú lính chì dũng cảm” trên những trang báo còn vương cả dấu vết những vết sợi tre nứa của loại giấy mộc thô ráp. Thế mà những chữ ở đó đều tăm tắp chữ nào ra chữ nấy sắc nét gọn gàng, đó là trang báo Văn của Hội Văn Nghệ Việt Nam hình như khoảng năm 1958, 1959 …Ngày ấy tôi là một cô bé gày còm áo quần chưa đủ ấm, trời lạnh khiến nước mũi chảy ròng ròng... Thế mà đôi mắt tôi đã bị con chữ cuốn hút với hình ảnh Chú lính chì cuối cùng của một đội lính chì trong một hộp đồ chơi, do thiếu chì nên chú chỉ có một chân. Mặc dù khuyết tật nhưng chú vẫn luôn đứng thẳng bồng súng hiên ngang.Rồi, chú nhìn thấy một ngôi nhà đồ chơi bằng giấy, một tòa lâu đài tuyệt đẹp trong đó có một Cô vũ nữ ba lê đang đứng trên mũi một bàn chân còn một chân thì giơ lên cao. Điều ấy khiến Chú lính chì tưởng rằng Nàng cũng một chân như chú. Thế là chú sung sướng nhìn nàng vì chú đã tìm được một người giống mình. Bỗng rồi một con Quỷ xồ ra từ một hộp đồ chơi khác.Thế là Chú lính chì trải qua một cuộc phiêu lưu: rơi xuống cống đen ngòm, chui vào bụng cá, con cá có Chú lính trong bụng lại bị bắt về chợ, và rồi Chú lính chì trở về với căn nhà cũ. Về với những đồ chơi của các em bé trong căn nhà ấy, chú sung sướng được nhìn Cô vũ nữ ba lê vẫn đang đứng ở giữa cửa tòa lâu đài bằng giấy, Nàng vẫn đứng trên một chân và chân kia vẫn giơ lên...Chú lính chì cảm động lắm nhưng chú không thể tuôn trào những giọt nước mắt bằng chì... Rồi, Chú lính chì bị một cậu bé ném vào lò sưởi đang cháy rực...chú cảm thấy nóng ghê gớm, không hiểu là nóng do lửa đốt hay do tình yêu, chú không biết nữa...Và, trong khi chú đang tan chảy thì một cơn gió lùa đã cuốn Cô vũ nữ bằng giấy bay thẳng vào lò sưởi tới chỗ chú lính chì, nàng bắt lửa và tiêu tan...Ngày ấy khi đọc truyện tôi còn bé dại nên chưa thực sự hiểu những điều gì lấp lánh trong câu chữ. Nhưng, trái tim tôi rung rinh những nhịp đập vừa vui, vừa buồn vừa hồi hộp vừa xót xa nuối tiếc... lòng dạ nao nao khi đọc đến những dòng cuối cùng đại ý là: Trong đống tro tàn vào sáng hôm sau người ta thấy chú đã thành một trái tim nhỏ bằng chì...Có một cái gì thật ấm nóng tỏa ra từ con chữ khiến tôi ôm lấy tờ báo ấy, có lẽ sức nóng từ câu chuyện cổ tích đó đã sưởi ấm tâm hồn non nớt của tôi trong buổi tối mùa đông Hà Nội giá buốt...Chưa bao giờ tôi băn khoăn thắc mắc rằng tại sao tôi lại có thể thấm thía vui buồn với một câu chuyện ở một nước xa lạ với tôi, xa lắm, ở tận Bắc Âu một vùng biển lạnh giá đầy băng tuyết, một nơi mọi trẻ con đều đi lễ nhà thờ chứ không theo bà lên chùa như tôi?
Tôi đã từng sống với thế giới tưởng tượng của bà tôi, với ông Bụt hiền của truyện Tấm Cám. Mỗi khi gặp phải chuyện buồn khiến tôi khóc thút thít, tôi tưởng như có ông Bụt đến bên mình và hỏi: "Làm sao con khóc?" chỉ nghĩ thế thôi cũng đủ thấy mình được an ủi rồi. Tôi cũng đã từng trò chuyện với giàn trầu không của bà và mỗi khi buổi tối ra hái lá trầu, bà ngoại đã dậy tôi phải nói câu đánh thức cây Trầu để xin Trầu một lá. Nghĩa là sống trong sự giáo dưỡng của bà tôi thì thế giới xung quanh mình Vạn vật đều có linh hồn. Cái cửa gỗ cũ kỹ kêu cọt kẹt, những viên ngói trên mái nhà rêu phong, cả con nhện đang giăng tơ ở một góc tường...tất cả đều có thể trò chuyện và chia sẻ buồn vui với một đứa trẻ có những lúc nhảy nhót chơi đùa nhưng cũng có nhiều khi chỉ ngồi một mình trầm lặng nhìn mọi vật và nghĩ ngợi về những điều không thể nhìn thấy được.
Trong cõi hư ảo của tâm hồn trẻ thơ Á đông của tôi, có một thế giới không nhìn thấy mà lại cảm thấy được, những người phi thường có thể xuất hiện giữa đời thường, nghĩa là có tiên, có bụt, có quỷ có ma, người chết đi có thể biến thành chim vàng anh, có thể chui vào quả thị như cô Tấm ,và dù có chết đi chết lại rồi vẫn có thể bước từ quả thị ra và xinh đẹp hơn xưa.
Từ thủa ấu thơ tôi đã được biết về sự chết, một con chim sẻ chết, những con cá chết nổi lên mặt nước hồ Gươm và những người thân yêu nằm trong quan tài ra đi trong tiếng kèn đám ma rầu rĩ và tiếng khóc thê lương...Chết là chết không thể sống lại được. Thế nhưng tôi vẫn tin có truyện cổ tích, tôi vẫn nhìn vào những đóa hoa quất trắng nuốt nở trong mưa lạnh và tin rằng ở trong đó có những cô tiên...
Có lẽ tôi nhưng nhiều trẻ em khác đã tự tạo ra "một thế giới tưởng tượng trong tâm hồn" và như bao đứa trẻ, tôi đã tiếp nhận truyện cổ tích của Andersen dễ dàng với một niềm vui hân hoan như được đi chơi vào một xứ sở diệu kỳ hấp dẫn có những cô bé tí hon nằm ngủ trong cánh hoa hồng, có nữ thần băng giá, có nàng tiên cá...
Tôi đến với truyện cổ tích Nàng tiên cá khi đã là một thiếu nữ. Đó là những ngày chiến tranh, không lực Hoa Kỳ ném bom khắp miền Bắc Việt Nam, tôi đã giã từ phố cổ Hà Nội đi đến một miền quê Kinh Bắc,vùng Thuận Thành. Đó chính là nơi đất cổ Luy Lâu (vào thế kỷ thứ I Luy Lâu là trung tâm văn hóa chính trị của Giao Châu -nước Việt cổ). Nơi ấy có chùa Dâu ( xã Thanh Khương- huyện Thuận Thành) và có Hội Dâu là sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa của người Việt. Nơi ấy cũng là nơi có trường học chữ Nho đầu tiên, ghi công đức của vị Nam Giao học tổ Sĩ Nhiếp ( 137-226). Ngày nay Đền và Lăng Sĩ Nhiếp còn ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành.
Vâng, ở cái nôi của Phật giáo và Nho giáo Việt Nam ấy, trong một làng nhỏ được bao bọc bởi lũy tre xanh, dưới mái nhà lợp rạ đầy lá tre khô rơi, tôi đã đọc Nàng tiên cá của Andersen bằng ánh sáng ngọn đèn dầu, bên tai rì rào tiếng lá tre reo lên trong gió thu hiu hắt. Và, tôi đã hòa cả tâm hồn mình vào tâm hồn Nàng tiên cá, cùng thốt lên nỗi khát khao từ đáy biển sâu thẳm muốn vươn lên thế giới con người:"Ôi, ước gì mình mười lăm tuổi. Chắc chắn mình yêu thế giới trên kia biết bao, và cả những con người sống trên đó"(1)...Thế rồi tình yêu đã khiến Nàng tiên cá có một cuộc dấn thân tuyệt đẹp, dấn thân đến tận cùng...Nàng đã không biến thành bọt biển, nàng đã trở thành cô gái của không trung không có cánh, nhưng do nhẹ như lông hồng, nên bay bổng lên trời...Những cô gái không trung nói với Nàng tiên cá rằng: "... Tiên cá không có linh hồn bất tử- mà chỉ có thể có được- nếu được một con người yêu thương. Cuộc sống vĩnh viễn của tiên cá phụ thuộc vào một quyền lực bên ngoài. Những người con gái của không trung vốn cũng không có linh hồn bất tử, nhưng có thể tự tạo ra linh hồn bất tử do làm điều thiện..." (1)
Từng câu chữ từng chữ từ Nàng tiên cá của Andersen đã thực sự hút hồn tôi, khiến tôi say mê một vẻ đẹp lãng mạn, một khát vọng DẤN THÂN làm điều thiện để thoát cái nỗi khổ của đời. Dường như triết lý " Đời là bể khổ" của đạo Phật cũng hiện ra rõ mồn một trong cuộc đời Nàng tiên cá. Nếu đọc ra những thông điệp từ nhà văn Đan Mạch thì ta như bắt gặp lại những câu thơ Kiều của Nguyễn Du "Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao" cũng giống như " Cuộc sống vĩnh viễn của tiên cá phụ thuộc vào quyền lực bên ngoài"! Và rồi "Thiện căn ở tại lòng ta"...cũng giống như các những cô gái không trung đi làm việc thiện để mong có linh hồn bất tử. Phải chăng Nguyễn Du bậc đại thi hào ở trời Nam đất Việt viết Truyện Kiều trong nền tảng văn hóa phương Đông hình như đã có những điểm tương đồng với nhà văn- người kể chuyện cổ tích vĩ đại của Đan Mạch Hans Christian Andersen, cho dù nhà văn Bắc Âu đã sáng tác với truyền thống tư tưởng phương Tây.
Phải chăng vì những điểm tương đồng như từ nguyên thủy con người chưa hề phân biệt Đông- Tây mà hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam đã có thể trở thành người bạn thân thiết với truyện cổ Andersen.
Tôi thuộc về một lớp người đã lớn lên và trưởng thành trong những năm tháng khốc liệt và gian khổ của lịch sử Việt Nam 1954-1975. Đã có không ít giấy mực viết về nhân cách con người Việt Nam trong những năm tháng đó, trong bài viết này nếu tôi nêu ra một ý kiến rằng chính những tác phẩm văn học như Truyện Kiều, như Truyện cổ tích Andersen đã làm nên nền tảng nhân văn cho một lớp người trẻ tuổi ngày ấy thì chắc cũng không phải là một ý kiến vu vơ ? Vâng, "lớp người trẻ tuổi ngày ấy" là cả những sinh viên Phật tử tranh đấu ở Huế, ở Sài Gòn và cả những học sinh đội mũ rơm, đào hầm hào đi học dưới những trận ném bom của không quân Mỹ. Là cả những thanh niên hát khúc quân hành vượt Trường Sơn và cả những thanh niên hát những ca khúc phản chiến của nhạc sĩ họ Trịnh. Họ đều mang khát vọng dấn thân xã hội với những tình cảm nhân văn dào dạt. Chắc chúng ta đều biết câu chuyện Nhật ký của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm và câu nói của người sĩ quan Việt làm phiên dịch cho người Mỹ: " Đừng đốt, trong ấy có lửa". Câu chuyện đó chính là một minh chứng hùng hồn cho sự đồng cảm nhân văn của "lớp người trẻ tuổi ngày ấy".
Một người Đan Mạch đồng thời với nhà văn Hans Christian Andersen( 1805-1875) chính là nhà triết học Soren Kierkegaard (1813-1855), ông được coi là một trong những người đi đầu trong tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người- không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc và hoạt động.
" Kierkegaard nhấn mạnh sự khác biệt giữa sự thật chủ quan (điều mà một người trải nghiệm) và sự thật khách quan (điều mà con người biết về), và nói rằng chúng ta chạm trán với chính sự thật không phải trong sự phân chia của lý trí, mà trong sự dấn thân trọn vẹn và nỗi đớn đau của sự lựa chọn, trong niềm bi tráng khi sống tận tuỵ cho điều chọn lựa của mình." (2)
Phải đâu triết lý của nhà triết học được coi là chủ nghĩa hiện sinh này là quá trừu tượng và xa lạ? Có lẽ chính những nhân vật như Chú lính chì hay Nàng tiên cá đã sống và trải nghiệm những gì rất gần với quan niệm vừa nêu ở trên.
Như vậy truyện cổ tích Andersen được coi là dành cho trẻ em nhưng lại có một ý nghĩa đi theo su ốt cả đời người , và có lẽ chính vì mang một tầm vóc tư tưởng nhân văn sâu sắc nên suốt hơn 200 năm qua truyện cổ tích Andersen đã được phổ biến rộng khắp từ Bắc bán cầu đến Nam bán cầu từ miền ôn đới qua miền nhiệt đới.
Vào mùa thu năm 1993 khi đến học tập và làm việc với các nhà văn họa sĩ Nhật Bản sáng tác cho thiếu nhi tại Tokyo , tôi thật sự ngạc nhiên và choáng ngợp trước những tác phẩm vẽ minh hoạ truyện Andersen của các hoạ sĩ Nhật bản. Kỹ thuật in ấn tuyệt diệu đã tôn vinh vẻ đẹp màu sắc khiến mái nhà nặng trĩu tuyết trắng trong đêm Giáng sinh như rưng rưng trước mắt tôi, khiến tôi mơ màng lâng lâng như cùng cất cánh bay trong ánh sáng của que diêm cuối cùng đưa Cô bé bán diêm lên thiên đàng với bà ngoại. Tự dưng tôi cảm thấy như nhờ có truyện cổ tích Andersen mà ở nơi đất khách quê người bỗng nhiên tôi như tìm thấy một mối tình bạn đồng cảm.Tôi mới được thấy quần đảo Nhật Bản từ trên máy bay với những hình dáng nhấp nhô núi đồi xanh thẳm giữa biển biếc... Có ai đó đã nói: "Đất nước Phù Tang giống như một mỹ nhân nằm gối đầu lên vùng cận Bắc Cực và thả chân vào sóng nước biển nhiệt đới Thái Bình Dương". Nhật Bản là một đất nước có thiên nhiên tuyệt đẹp dịu dàng tinh tế nhưng cũng đầy bất ổn với những hiểm họa hung bạo: Động đất, núi lửa, sóng thần...Có lẽ vì thế mà người Nhật thường cảm nhận cái đẹp trong từng khoảng khắc chứ không hướng cái đẹp đến sự trường tồn vĩnh cửu. Nền văn hóa Nhật Bản đã có những tài danh như thiền sư thi sĩ Matsuo Basho( 1644-1694) với những câu thơ Hai ku nổi tiếng:
Ao xưa/ con ếch nhảy vào/ Vang tiếng nước xao. (3)
"Ao xưa" không nằm ở đâu xa mà nằm trong Basho, nằm trong chúng ta. Nó cũ từ nghìn xưa nhưng cũng có mặt ngay bây giờ bởi vì nó là thiên nhiên. Một con ếch đánh thức thiên nhiên dậy bằng bước nhảy của chính mình.Thơ Hai ku dường như ghi nhận một khoảng khắc của cái đẹp mỗi bài chỉ có ba dòng nhưng mở ra ba chiều của vũ trụ và chiều thứ tư thì dành để đi vào tâm khảm của người đọc.
Ta vỗ bàn tay/ Dưới trăng mùa hạ/ Tiếng dội về ban mai.( 3)
"Tiếng vỗ tay" trong thơ của một vị thiền sư thi sĩ Nhật Bản hình như đã là một hình tượng thơ nổi tiếng cho văn hóa xứ sở Hoa anh đào. Từ nền văn hóa với những nét tinh tế và sâu sắc như thế nước Nhật bước vào lịch sử cận đại dưới thời Minh Trị thiên hoàng ( Meiji tenno 1852-1912), người Nhật đã làm nên một cuộc canh tân đất nước, học hỏi văn hóa Tây phương đưa nước Nhật trở thành một cường quốc trên thế giới.
Trong bài viết nhỏ này tôi không có tham vọng nói về những vấn đề lớn lao mà chỉ muốn đi sâu vào thế giới tưởng tượng của thi ca và truyện cổ tích và tuổi thơ trong một sự so sánh tương đồng giữa văn hóa Đông phương và Tây phương.Phải chăng những người Nhật Bản được nuôi dưỡng tinh thần với những vần thơ hai ku như ghi lại một khoảng khắc mà trí tưởng tượng của con người có thể rộng mở ra toàn vũ trụ lại vừa đi sâu vào cõi tâm linh quả thật có thể có cảm xúc tương đồng khi đến với khoảng khắc tưởng tượng của một que diêm nhỏ bùng cháy những mơ ước của một em bé nghèo- "cô bé bán diêm"trong đêm giáng sinh ở một thành phố hoa lệ trời Âu. Một lần nữa tôi tin rằng người ta nhất là trẻ em trên toàn thế giới này có những điểm rất tương đồng trong cõi nguyên sơ của tâm hồn.Mà vẻ đẹp của cõi nguyên sơ trong tâm hồn con người bấy lâu nay vẫn được kết tạo thành những tác phẩm được gọi là văn học cho trẻ em.
Mang trong mình một tình yêu với Văn học cho trẻ em, lựa chọn một con đường làm sách cho trẻ em là con đường của đời mình trong những ngày tháng đất nước đã hội nhập với thế giới, những ngày ở thập kỷ cuối thế kỷ XX tôi đã được tới Tokyo hiện đại. Tôi được nhìn thấy những biểu tượng của các công ty lớn Sony, Honda, Panasonic...và cùng xiết tay với các nhà văn họa sĩ Nhật Bản đồng cảm với Truyện cổ tích Andersen. Tôi thật sự khâm phục những bộ óc người Nhật Bản hiện đại biết tư duy mở rộng biết tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa Tây phương hòa huyết với văn hóa bản địa Nhật Bản tạo nên những sản phẩm văn hóa có ý nghĩa phổ quát không chỉ riêng cho người Nhật mà là còn cho cả thế giới bên ngoài, trong số đó có bộ truyện tranh hiện đại Doraemon của họa sĩ Fujiko. F. Fujio tài ba đã được trẻ em Việt Nam đón nhận nhiệt liệt.
Vì sao truyện tranh hiện đại với nhân vật Doraemon một robot mèo lại được trẻ em yêu thích mê mẩn như vậy? Phải chăng bản chất của Doraemon chính là TRUYỆN CỔ TÍCH. Một truyện cổ tích thời hiện đại mà Bụt , Tiên không còn là những nhân vật xa xôi râu dài tóc bạc mà lại chính là một thứ đồ chơi robot bạn bè thân thiện ngay ở bên cạnh trẻ em và cũng biết dỗi hờn nhầm lẫn...chẳng khác gì một đứa trẻ. Và, bảo bối thần kỳ giờ đây không còn là phép thuật biến hóa từ cái đũa thần, tấm thảm bay, đôi hài ngàn dặm... mà chính là những loại máy móc viễn tưởng mà có thể là những phát minh có thật trong tương lai.
Và, cả những khát vọng về người chết sống lại, cái bình đã vỡ sẽ trở lại nguyên lành... cả những nỗi ân hận muốn làm lại một việc gì đó trong đời...Sẽ được "Cỗ máy thời gian" trong tác phẩm Doraemon hóa giải và thỏa mãn như một trò chơi thú vị của đời sống. Nhìn các em bé say sưa đọc Doraemon hôm nay, tôi chợt nghĩ: Có lẽ trẻ em hôm nay, sống trong một thế giới hiện đại với rất nhiều tiện nghi khác xa với đời sống của tôi thủa bé nhưng các em vẫn như tôi ngày xưa có những lúc nhảy nhót chơi đùa nhưng cũng có nhiều khi chỉ ngồi một mình trầm lặng nhìn mọi vật và nghĩ ngợi về những điều không thể nhìn thấy được.
Thế giới không thể nhìn thấy được bằng mắt thường đó là thế giới chỉ có thể cảm nhận được từ trái tim , thế giới ấy là thế giới của thơ ca , nghệ thuật, của truyện cổ tích...Chừng nào người ta còn một lòng tin thiêng liêng vào vẻ đẹp cái thiện và sự trong trắng của tinh thần thì thế giới đó còn tồn tại và điều đó cũng rất gần với niềm tin của đạo Phật là trong mỗi con người đều có Phật tính.Thế giới không thể nhìn thấy được đó được tạo ra bởi trí tưởng tượng của con người , một trí tưởng tượng không thăng hoa từ lý trí mà từ tình cảm từ tình yêu thương muôn loài , từ lòng tin rằng vạn vật quanh ta đều có linh hồn...
Phải chăng ngày nay con người sống trong một thế giới được lý giải bằng tư duy lý trí , bằng phép suy luận logic và người ta nhìn mặt trăng là một hành tinh đầy đá sỏi lạnh lẽo...con người là một thể xác trần trụi, mọi sinh vật chỉ là những món thực phẩm, và toàn thế giới chỉ tuân theo một bàn tay vô hình điều khiển đó là sức mạnh đồng tiền...vì vậy thế giới truyện cổ tích thần tiên sẽ sụp đổ!
Con người hôm nay (trong đó có trẻ em) dù được sống trong một thế giới hiện đại với những tiện nghi trang bị máy móc tối tân với những tài khoản ngân hàng tiền tỷ... vẫn phải hàng ngày hàng giờ đối mặt với những tai nạn, nỗi đau khổ và cái chết...Người ta vẫn đi đến những bế tắc tột cùng trước những sự kiện ngẫu nhiên ngoài tư duy lý trí, ngoài sự tính toán chính xác nhất của con người...
Con người và đời sống tự nhiên còn rất nhiều bí ẩn mà lý trí chưa vươn tới được, chính vì vậy trí tượng tưởng và thế giới truyện cổ tích vẫn tồn tại trong nền tảng văn hóa nhân loại, làm chỗ dựa tinh thần cho người ta có thể là suốt cuộc đời...Thông qua việc tiếp nhận truyện cổ tích không chỉ của dân tộc cội nguồn của mình, không chỉ của riêng nền văn hóa bản địa mình đang sống, trẻ em đã tự mình thực hiện một cuộc hội nhập văn hóa, tự mình bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà quê hương để ra một sân chơi liên văn hóa để sống trong một thế giới giao lưu rộng mở hiện đại.Và, chỉ trong giao lưu, trong cọ sát, văn hóa của chính bản thân mình mới có thể trưởng thành. Bởi vì chỉ khi soi gương ta mới nhận ra vẻ mặt của mình, và chỉ khi đã đi vòng quanh thế giới ta mới nhận ra quê hương mình là nơi đẹp nhất.
Trong không khí xuất bản ở nước ta hiện nay, thị trường truyện cổ tích của trẻ em chúng ta hiện nay thực là khá xô bồ... truyện cổ Andersen, truyện cổ Ba Tư, ngụ ngôn Aesop, thần thoại Trung Hoa, Ấn độ, truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, truyện cổ tích Phật giáo, truyện cổ tích Pháp, truyện cổ tích Đức, truyện cổ tích Nga... tồn tại dưới khá nhiều dạng: dịch thuật nguyên bản, biên soạn, tóm tắt kể lại, truyện tranh...Xuất phát từ việc coi nhẹ văn học cho trẻ em nói chung và coi việc kể chuyện cổ tích là một công việc đơn giản dễ dãi đến mức ai làm cũng được, không cần có chuyên môn nghiên cứu thâm sâu dẫn đến sự "tam sao thất bản" đối với nhiều truyện cổ tích nổi tiếng là một hiện tượng khá phổ biến.
Tôi thiết nghĩ rằng, chúng ta chẳng nên e sợ trẻ em Việt Nam đọc quá đa dạng mà điều lớn lao hơn cả là thế giới tưởng tượng ngây thơ trong trắng của trẻ em chúng ta cần phải được nuôi dưỡng bồi bổ bằng những dưỡng chất nguyên lành. Nghĩa là công việc dịch thuật và chọn lọc những dịch phẩm đáng giá cho trẻ em cần phải làm thật cẩn trọng. Có khi chỉ mượn danh truyện cổ tích, nhiều nhà làm sách đã cho ra đời những ấn phẩm mà từ nội dung đến hình thức đều thiếu thẩm mỹ và văn hóa .Có khi chính những việc này cẩu thả này đã khiến người đọc dị ứng với truyện cổ tích và đáng sợ hơn cả là một ngày nào đó trẻ em không còn đọc truyện cổ tích.
Ngày 24/12/2013
LPL.
____
(1) Theo Truyện cổ Andecxen, Người dịch: Trần Minh Tâm, hiệu đính: Lưu Dung- Nhà xuất bản Văn học 2003.
(2) Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh. GORDON E. BIGELOW. Cao Hùng Lynh dịch. Nguồn: “A Primer of Existentialism”, Gordon E. Bigelow, đăng trên College English, số tháng Mười Hai, 1961.
(3)Thơ ca Nhật Bản- Nhật Chiêu biên khảo- Nhà xuất bản Giáo Dục- 1998.
phongdiep.net |