Những bài báo
02.09.2016
Nguyễn Tiến Năng
Đôi nét đời thường của Thủ tướng Phạm Văn Đồng



Người ta đã viết nhiều về Thủ tướng Phạm Văn Đồng: là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà văn hóa, nhà kinh tế…, ở đây tôi chỉ viết đôi nét về cuộc sống đời thường của ông.


I. Người em của Bác Hồ: chú Tô


Trong gần nửa thế kỷ công tác ở Văn phòng Chính phủ (trước đây là Văn phòng Phủ Thủ tướng), tôi có cơ may được phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, làm chuyên viên thư ký Hội đồng Chính phủ (1964-1972) và thư ký Thủ tướng (1972-2000). Tôi coi đây là vinh dự, là diễm phúc lớn lao. Tuy nhiên tôi rất lo lắng vì mình học hành chẳng là bao. Nhưng rồi tôi xác định mình đã từng là Thanh niên xung phong, được rèn luyện trong các chiến dịch nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ, làm theo lời Bác “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…”, chỉ cần có ý chí, có quyết tâm học hỏi và bền bỉ phấn đấu.


Ngay từ buổi đầu tiên, Thủ tướng đã dặn dò tôi nhiều điều phải ghi nhớ trong công việc. Thứ nhất là trung thực, thật thà, đặc biệt khi tiếp nhận thông tin từ khắp nơi. Thứ hai, phải tuyệt đối giữ bí mật vì đây là cơ quan đầu não của quốc gia. Thứ ba là hết sức cẩn thận, cẩn trọng với mọi công việc, sắp đặt văn phòng khoa học ngăn nắp để khi cần cái gì phải có ngay. Thứ tư là phải đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công việc, coi người cùng cơ quan như anh em trong gia đình. Cuối cùng là phải cố gắng học tập nâng cao trình độ, năng lực. Đây là điều làm tôi nhớ “nghề” làm thư ký, công việc tôi chưa từng làm bao giờ, và theo tôi suốt cả cuộc đời.


Ông còn dặn phải tận tụy, khiêm tốn, lễ phép với những người dân cần gặp, “dù giúp được hay không cũng phải trả lời người ta”. Đặc biệt ông nhấn mạnh phải chịu khó học hỏi, nắm bắt phân tích thông tin, từ đó có những đề xuất, định hướng để khi gặp các đối tác ở trong nước cũng như nước ngoài biết tiếp thu những cái phù hợp, có lợi cho nước cho dân. Trong quá trình làm việc, giao tiếp hay thậm chí là ký kết hợp đồng có thể do hiểu biết của mình chưa đủ, nắm chưa chắc, mình bị sơ hở, thiệt thòi thì có thể chấp nhận, nhưng tuyệt đối không được vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm mà làm chệch đường hướng, mục tiêu. Cái đó là không thể tha thứ.


Đối với anh em trong cơ quan, ông luôn coi đây là một gia đình nhỏ mà ông là người anh. Ông rất quan tâm đến anh em và thường xuyên hỏi han công việc, đời sống gia đình, giúp đỡ anh chị em bất cứ những gì có thể. Ngay cả chuyện lương bổng, ông cũng hỏi han xem thu nhập bao nhiêu, có đủ sống không… Bởi thế, quan hệ giữa ông và mọi người trong cơ quan khá bình đẳng thân tình, đúng như anh em trong nhà. Tuy nhiên, không vì thế mà ông bỏ qua sai sót của anh em. Ông có thể bực khi anh em không chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết trước khi ông đi dự hội nghị. Hay như ông có thói quen sắp xếp ngăn nắp tài liệu trong phòng mình, nhớ rõ vị trí của từng quyển sách, nên kể cả khi không nhìn thấy ông vẫn biết cuốn nào ở đâu. Có lần anh em quét dọn làm xáo trộn, ông không tìm được sách. Ông giận, bảo: “Anh em làm không cẩn thận, cái gì của tôi để đâu cứ để nguyên đó, đừng tùy tiện thay đổi làm mất thời giờ của tôi”. Khi ông viết bài đăng báo, diễn văn, các bài nói tại các hội nghị, viết sách thường suy nghĩ nhiều buổi, có khi cả tuần lễ, cả tháng hoặc cả năm. Và trước khi đưa đi in, ông nghe đi nghe lại nhiều lần, chỉnh sửa, bổ sung đến ưng ý mới thôi. Có lần ông nói, tôi không ghi kịp, tôi ngắt lời đề nghị ông nói lại. Bị dừng đột ngột, ông ngồi lặng hồi lâu rồi chậm rãi bảo: “Thôi hôm nay làm đến đây, để tôi còn suy nghĩ tiếp”. Tôi biết ông không vui và ân hận vì làm mất đi những điều mà ông suy nghĩ nhiều ngày đêm mới có được. Tôi xin lỗi ông và hứa sẽ khắc phục, nhưng ông an ủi: “Thôi, không sao”.


Ông rất bận nhưng vẫn thu xếp thì giờ đi thăm bạn bè, có khi mời đến đàm đạo, có khi mời đến dùng bữa và trao đổi ý kiến về những vấn đề cùng quan tâm, ông nghe nhiều, nói ít, chủ yếu gợi ý những điều cần suy nghĩ. Ông quan tâm đến những nhà trí thức, văn nghệ sĩ, giúp đỡ người khó khăn… Ông thường nhận được những tác phẩm, những bức thư của cán bộ, nhân dân, các cháu thanh niên, thiếu nhi và ông tự viết thư trả lời, chỉ khi mắt ông không nhìn thấy rõ mới nhờ thư ký viết thư trả lời hộ ông.


Ông Phạm Văn Đồng và bà Phạm Thị Cúc sau lễ thành hôn tại Hà Nội.


Từ phải sang: các ông Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, bà Phạm Thị Cúc, ông Trần Duy Hưng (chủ hôn), ông Phạm Quang Chúc (anh bà Cúc) và ông Trường Chinh


Nhiều lúc tôi cứ nghĩ về cuộc sống của Bác Hồ và Thủ tướng về chuyện vợ, con… Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Sau khi xây dựng gia đình (tháng 10-1946), ông đi vào hoạt động ở Liên khu 5, mấy năm sau ông mới thu xếp được cho vợ là bà Phạm Thị Cúc vào ở cùng. Hồi đó, việc đi lại rất gian khổ, bà Cúc phải đi đường bộ mấy tháng trời mới vào tới nơi. Năm 1949, vợ chồng ông mới ra Việt Bắc, nhưng vì công việc của ông rất bận nên hai người không ở chung. Sau khi sinh con (hiện là thiếu tướng Phạm Sơn Dương) năm 1951, bà Cúc bị bệnh tâm thần và mãi sau này vẫn không khỏi.


Ông rất quan tâm dạy bảo Sơn Dương, nhờ anh chị em trong cơ quan từ những việc bú mớm cho đến việc học hành sau này… Đối với bà Cúc, ông luôn nghĩ rằng mình có lỗi, luôn trăn trở về trách nhiệm của mình đối với vợ. Ông luôn đau đáu chuyện không chữa khỏi bệnh cho bà, dù đã cố gắng đưa bà đi ra cả nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc) nhưng không có kết quả. Ông còn nói rằng muốn bà Cúc “đi trước” để có thể lo cho bà một cách tươm tất, chu đáo thì ông mới yên tâm.


Tuần nào ông cũng đến thăm vợ vào chiều chủ nhật hoặc mời bà đến chỗ ông và bao giờ cũng có quà. Khi đi nghỉ ở đâu ông cũng đưa bà đi theo, dù mỗi người một nhà riêng nhưng hằng ngày ông đều đến thăm bà. Có lần ở Đồ Sơn, ông không đến và cho người mời bà đến chỗ ông, thế là bà giận. Ông đã đến xin lỗi và vẫn giữ nguyên cử chỉ ôm hôn âu yếm. Tình cảm của ông đối với bà rất đằm thắm và chung thủy. Có lần người nhà bà Cúc gợi ý ông nên làm bạn với người phụ nữ khác, còn bà Cúc sẽ được gia đình trông nom. Nhưng ông dứt khoát không chịu và tiếp tục sống như vậy để chăm sóc vợ.


Có thể nói, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ một cách tuyệt vời. Khi cùng ở với Bác và cả sau khi Bác mất, ông vẫn giữ nếp sống rất đơn giản với một chút cơm, một chút cá hoặc thịt và mấy cọng rau, có ngày chỉ ăn một, hai bát cháo hoặc bát súp, nhưng luôn có sẵn một củ khoai. Những tác phong công việc, cách quan hệ tiếp xúc với mọi người đều chịu ảnh hưởng từ Bác Hồ. Lúc Bác mất, ông đã khóc rất nhiều. Ông không ở căn nhà cũ nữa vì ông bảo “từ tiếng nói, bước đi đến tiếng guốc của Bác vẫn văng vẳng trong tâm trí” khiến ông không thể kìm lòng được. Quan trọng hơn, ông cho rằng nơi ở của Bác Hồ ghi đậm dấu ấn những hoạt động sống và làm việc của Bác phải xây dựng thành Khu lưu niệm để nhân dân, chiến sĩ, bạn bè trong và ngoài nước tới chiêm ngưỡng và học tập. Ông dặn dò anh em phải chăm sóc, bảo vệ, tôn tạo và phát triển để khu vực này càng ngày càng thu hút được nhiều người. Có thể nói không nước nào mà Nguyên thủ (Chủ tịch nước) và Thủ tướng lại có sự gắn bó gần gũi với nhau như thế. Đây thực sự là một mối quan hệ đặc biệt. Trong cuộc sống, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng coi nhau như anh em, Bác gọi ông là “chú Tô”.


Giản dị, thanh bạch là những điều ông học được ở Bác Hồ nhiều nhất. Sau này, trước khi mất, ông gọi con trai lại bảo: “Ba không có tài sản gì để lại cho con. Ba chỉ để lại một sự nghiệp phải tiếp tục. Ba yêu cầu con chăm sóc má của con, chăm lo dạy bảo các con của con mạnh khỏe, ngoan ngoãn, học giỏi, trở thành người có ích cho xã hội, cho đất nước, con xứng đáng là người sĩ quan của quân đội ta”. Những người có mặt vô cùng xúc động, rơm rớm nước mắt. Lúc cưới vợ cho con, ông không mời ai và chỉ đồng ý tổ chức bình thường tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt - Xô. Đám cưới rất giản dị với bánh kẹo, nước trà. Tuy nhiên, người tới dự rất đông, để xem “đám cưới con ông Thủ tướng thế nào”.


 


Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của nước của dân, nhưng ông cũng là người trọn nghĩa trọn tình với vợ con. Ông đã trở thành thần tượng của tôi. Tôi nhớ hôm ông mất, lớp lớp người đến viếng, trời mưa nhưng đông đảo người dân thủ đô đổ ra đường để tiễn đưa ông. Đoàn người kéo dài từ Nhà tang lễ Nhà nước tới tận nghĩa trang Mai Dịch. Tôi coi đó là tình cảm thân thương của mọi người đối với ông, nên tôi đã nỗ lực vận động để xuất bản cuốn sách Phạm Văn Đồng sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Tôi cũng sưu tập các bài viết, bài báo, bài nói chuyện của ông trong các lĩnh vực làm thành một Tuyển tập Phạm Văn Đồng gồm 3 tập và một tập bao gồm tất cả bài ông viết về Bác Hồ. Đây là tấm lòng, là nén hương thơm tôi dâng lên để tỏ lòng biết ơn ông. Bộ sách được đặt lên bàn thờ trong căn nhà ông đã sống và làm việc trong khuôn viên Văn phòng Chính phủ.


II. Những lời tâm huyết


Làm việc với đồng chí Phạm Văn Đồng nhiều năm, chúng tôi được biết đồng chí rất ít nói về việc riêng. Đồng chí ngày đêm chăm lo công việc chung của dân, của Đảng. Khi đồng chí thôi đảm trách các chức vụ trong Đảng và Nhà nước, đồng chí nói với chúng tôi rằng, đồng chí sẽ tập trung vào việc viết sách mà đề tài là Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Với kiến thức uyên bác, đọc nhiều hiểu rộng, bằng tư duy trí tuệ sắc sảo với sự cộng tác của nhiều anh em, từ năm 1990 đến 1999, đồng chí đã có 6 tác phẩm ra mắt bạn đọc mà chúng ta đều biết, trong đó có 4 tác phẩm nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh được dư luận đánh giá cao. Đồng chí còn tham gia công việc chung, tiếp xúc với các đồng chí lãnh đạo, gặp gỡ cán bộ, đi thăm các nơi…


Tuy bận rộn như vậy nhưng lúc rảnh rỗi, đồng chí thường tâm sự với chúng tôi điều này điều nọ.


Với giọng buồn buồn và chậm rãi, đồng chí nói: “Tôi có suy nghĩ rất nhiều, suy nghĩ đi suy nghĩ lại, để thấy cho hết những gì đã diễn ra và nhằm làm sáng tỏ tất cả những gì là thực chất của sự việc, không phải như vậy để làm giảm bớt nỗi đau buồn, không bao giờ vui của tôi, về căn bệnh của cô Cúc, một người con gái lúc kết hôn với tôi mới khoảng 20 tuổi. Trước đó, tôi đã biết tình yêu, tình thương, tình quý trọng của người con gái mới lớn lên đối với tôi, hồi ấy đã 40 tuổi. Cho đến bây giờ, ôn đi ôn lại, tôi vẫn không tìm ra câu trả lời, bởi lẽ như người ta thường nói: yêu là yêu tất cả, yêu say đắm, yêu không có bờ bến, còn vì sao thì không ai trả lời được. Điều làm cho lòng tôi không bao giờ vui chính là ở chỗ ngay từ buổi đầu tôi có thấy nhưng thấy chưa hết, chưa đủ, chưa tương xứng, chưa có cách ứng xử có thể nói là bình thường, rất bình thường với những tình cảm biết bao cao đẹp của cô Cúc đối với tôi”.


Nói đến đây, đồng chí dừng lại một lát rồi nói tiếp: “Một việc giản đơn vô cùng diễn ra ngay sau ngày cưới (ngày 16-10-1946), đó là việc tôi chuẩn bị đi nhận công tác mới, làm đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Liên khu 5, lúc sắp bắt đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lúc bấy giờ, con đường quốc lộ từ Bắc vào Nam nói chung đều thông suốt, nhiều người trong gia đình cũng như những người thân quen đều khuyên tôi nên đưa cô Cúc cùng đi và như vậy là hợp đạo lý về mọi mặt, không có điều gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, trong thâm tâm tôi vẫn phân vân, bởi lẽ tôi suy nghĩ rất nhiều và thiên về cái ý mình mới cưới vợ mà đưa vợ cùng đi trong chuyến công tác vào Liên khu 5 ngay trong buổi đầu của cuộc kháng chiến thì không tiện. Điều trăn trở của tôi, lương tâm của tôi là tôi với tôi chứ không phải dư luận từ nơi khác. Đến bây giờ, tôi vẫn luyến tiếc một cách sâu sắc là cô Cúc hiền quá, trong lòng chắc không vui, nhưng không đòi đi cho bằng được. Thật tình mà nói, trong lòng tôi lúc bấy giờ cũng nghĩ rằng vào đến Liên khu 5, sau khi sắp xếp công việc xong, đâu vào đấy rồi, thì sẽ đón cô Cúc vào. Vả lại đường sá thông suốt thì cũng không có gì khó khăn. Nhưng sự thật đã diễn biến khác hẳn.


Ngay sau khi tôi chia tay với cô Cúc ít lâu, thì cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946). Mọi gia đình đều phải thu xếp sơ tán đến những khu an toàn để sống yên ổn. Cô Cúc cùng với bà cụ thân sinh và cô em gái - cô Thu, cả nhà rất chật vật khó khăn về đời sống, về đi lại. Cô Cúc đau khổ vô cùng. Đến nay, từ những điều tôi nhớ lại và được nghe kể lại, thì tôi sống trong tâm trạng của một người bao giờ cũng có lỗi”.


Chúng tôi nói xen vào: “Nhưng rồi chị Cúc cũng vào Liên khu 5”. Đồng chí trầm ngâm rồi nói tiếp: “Trước đòi hỏi thống thiết và có sức thuyết phục của cô Cúc, các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương đã cử người đưa cô Cúc đi đường bộ, băng qua các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào Liên khu 5. Cô Cúc đi đường bộ, tuy được anh em ở Trung ương và các địa phương lo toan đủ thứ, nhưng vẫn trải qua những khó khăn trong bao nhiêu thiếu thốn không thể nào kể ra được. Thế mà ròng rã qua bao tháng trời, cô Cúc vẫn đi được, đi đến nơi, đến Quảng Ngãi khoảng giữa năm 1948 với trạng thái khỏe mạnh, vui vẻ, trẻ trung. Đây thực sự là một điều vui mừng quá với mong ước của tôi, nó đến với tôi một cách đột ngột, làm tôi rất sung sướng và yên tâm. Cô Cúc cùng với tôi ở Liên khu 5 khoảng sáu, bảy tháng.


Trong khoảng thời gian vài ba năm ở Liên khu 5, tôi làm theo ý kiến của mọi người là xây dựng Liên khu 5 thành một cơ sở đầu mối, một hậu phương cho các tỉnh cực Nam Trung bộ và trong việc này mọi ngành, mọi địa phương đều có thành tựu mà mọi người đến nay vẫn còn nhắc tới với lòng tự hào. Người ta thường nhắc tới phong trào sản xuất và những sáng kiến về kinh tế, tài chính, giải quyết vấn đề ăn, mặc cho dân, cho bộ đội, thậm chí cung cấp cả các phương tiện chiến tranh phục vụ cho tiền tuyến; nhắc tới trường Trung học Bình dân, những kết quả về giáo dục, văn hóa, y tế… Có được những thành tựu đó là nhờ mọi người biết đoàn kết phấn đấu vì mục tiêu kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Đó là điều đáng ghi nhớ.


Đến tháng 2-1949, tôi được Trung ương gọi ra Bắc. Tôi cùng cô Cúc, với sự giúp đỡ của anh em ở Liên khu 5 và các tỉnh lân cận, vượt dãy Trường Sơn, trải qua hơn bốn tháng, khắc phục biết bao khó khăn, gian khổ đã về tới Việt Bắc. Được chuẩn bị, sắp xếp đâu vào đấy, nên cuộc hành trình diễn ra thuận lợi, đặc biệt cô Cúc khỏe mạnh, đi đến nơi, về đến chốn, đây là điều vui mừng lớn đối với tôi”.


Đồng chí dừng hồi lâu rồi nói tiếp: “Khi chúng tôi ra đến Việt Bắc (tháng 6-1949), ngoài công việc chung, chúng tôi đặc biệt chú trọng một vấn đề riêng, là có một đứa con. Ngày 19-10-1951, tại làng Nhà, xóm Đồng Tâm, xã Kim Quan Thượng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, cô Cúc sinh một bé trai khỏe mạnh, khôi ngô và tôi lấy tên địa phương đặt tên cho cậu bé là Sơn Dương. Ở đây, Sơn Dương được nuôi dưỡng bình thường, nhờ sự chăm sóc của đồng bào, đồng chí, anh chị em cơ quan và bộ đội. Phải nói rằng, mọi người đều hết lòng, nhưng ảnh hưởng của kháng chiến và sự thiếu thốn của mọi người đều tác động đến cậu bé. Tuy vậy, một phần nhờ sự bẩm sinh do gien của bố mẹ, nên sức khỏe của cậu bé Sơn Dương cũng khá. Khi Sơn Dương ở tuổi niên thiếu, người ta đồn đại với nhau nhiều chuyện khá ly kỳ, nhưng tất cả đều là sự tưởng tượng, không có thật. Tóm lại, Sơn Dương được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo về mọi mặt, được giúp đỡ học tập như mọi đứa trẻ khác, nhờ đó khi lớn lên, Sơn Dương vào bộ đội, được rèn luyện nên người. Sơn Dương học tốt, tính tình tốt, tư chất tốt, mọi việc đều cố gắng làm tròn, biết nghe lời, biết phục thiện, được anh em đồng đội và mọi người quý mến. Đây là nguồn vui lớn nhất của cô Cúc và của tôi.


Sau khi cô Cúc sinh Sơn Dương và trong thời gian nuôi dưỡng Sơn Dương, một điều tôi mong đợi là sức khỏe cô Cúc sẽ khá hơn và tôi đinh ninh là như vậy. Nhưng khi tôi hỏi các giáo sư, bác sĩ có thẩm quyền, thì người ta cho biết, người đàn bà sau khi sinh đẻ có phần yếu đi và quả đúng như vậy, sức khỏe cô Cúc yếu đi thật. Đối với tôi, đây là điều bất hạnh. Tôi đã cố gắng biết bao chăm sóc cho cô Cúc nhưng không cải thiện được tình hình, tâm thần của cô Cúc diễn biến không bình thường, từ đó việc chữa chạy bệnh tâm thần cho cô Cúc là việc quan trọng đặc biệt, các cơ quan có thẩm quyền đều chăm lo cực kỳ chu đáo, với biết bao hoài bão và mong đợi. Đây là thời gian tôi lo lắng, đau khổ vô cùng, bởi bệnh của cô Cúc không có chiều hướng giảm, trái lại ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải chữa nhiều, chữa lâu, không chỉ ở trong nước mà còn phải thương lượng để đưa đi chữa ở nước ngoài. Trong lúc bấy giờ, mọi việc chăm lo sức khỏe và học tập của Sơn Dương chủ yếu nhờ cơ quan và gia đình bên ngoại: bà ngoại và cô Thu. Tôi xin ghi lại ở đây tình cảm và lòng biết ơn, lòng kính trọng, lòng quý mến về tất cả những gì mà những người thân gần xa, những người có trách nhiệm đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Sơn Dương dần dần lớn lên và nên người”.


Chúng tôi lại nói xen vào: “Sơn Dương lúc nhỏ nhanh nhẹn và tốt nết, đặc biệt cháu không bao giờ cậy mình là con trai Thủ tướng, thậm chí cháu như không có ý thức về điều ấy”. Đồng chí nói tiếp với giọng rất vui: “Trong quá trình Sơn Dương sống với tôi, tôi còn nhớ như ngày hôm qua bao nhiêu cố gắng của tôi để chăm lo cho cháu có sức khỏe tốt, học tập tốt, trở nên người tốt, làm việc tốt. Tôi nghĩ những cố gắng của tôi đã có kết quả ít nhiều thiết thực và cuối cùng xây dựng gia đình cho Sơn Dương. Đây là việc đáng làm, nhưng nó đòi hỏi rất nhiều cố gắng, rất nhiều công phu và tôi không từ chối bất cứ cái gì, mệt nhọc bao nhiêu không quản, mọi điều có thể làm được để có kết quả tôi đều lao vào làm cho được. Diễn biến của cuộc đời không bao giờ khớp với ý nguyện của mình, bởi vậy tôi mất rất nhiều thì giờ và công sức về việc này. Cho đến năm 1994, Sơn Dương mới xây dựng gia đình với cô Phan Thị Minh Châu (lễ thành hôn ngày 15-2-1994), con gái ông Phan Ba và bà Lê Hồng Tú. Sau khi lập gia đình, không bao lâu vợ chồng Sơn Dương - Minh Châu sinh được hai cháu bé, một trai, một gái: cháu trai sinh ngày 30-11-1994 đặt tên là Phạm Quốc Hoa, cháu gái sinh ngày 18-6-1997 đặt tên là Phạm Quốc Hương. Nhờ sức khỏe bẩm sinh và nhờ sự thương yêu, sự ân cần, sự chiếu cố mọi điều trong việc nuôi dưỡng, nên hai cháu lớn lên bình thường, đến nay sức khỏe của các cháu khá tốt, chịu ăn chịu chơi, nghịch ngợm, biết nghe lời. Đây là niềm vui lớn trong đời riêng của tôi. Đến bây giờ, vào cuối đời của mình mà có hai cháu như vậy là điều tôi không mong gì hơn. Rồi đây các cháu lớn lên, rồi ăn, rồi học, rồi luyện rèn, rồi làm việc và sẽ có cống hiến tốt chừng nào hay chừng đó cho Tổ quốc và cho dân tộc”.


Đồng chí ngừng lại một lúc rồi dường như có một cái gì đó làm đồng chí vui, đồng chí nói: “Cô Cúc bị bệnh tâm thần, nên phải tìm cho cô một nơi có khí hậu thích hợp, có môi trường tốt, thoáng mát, vui vẻ, giúp cho sức khỏe, ngoài ra không cần gì khác. Tôi đã tìm thấy một nơi như vậy, đó là khu nhà khách của Văn phòng Chính phủ ở 33C Tú Xương, quận 3, TP.Hồ Chí Minh. Ở đây, anh chị em phục vụ, mọi người chiếu cố, chăm sóc cô Cúc như người thân, đem lại niềm vui, đem lại sức khỏe tốt, đem lại cuộc sống thoải mái và cô Cúc muốn sống ở đây hơn ở Hà Nội.


Nhân đây, tôi xin tỏ lòng kính trọng của tôi, tình cảm của tôi, lòng biết ơn của tôi đối với các bà, các chị, các cô…, những người đã tận tình giúp đỡ cô Cúc.


Một điều đối với tôi không có gì sung sướng hơn là sức khỏe của cô Cúc ngày càng tốt hơn, mặc dù năm nay cô đã trên 70 tuổi. Qua nhiều năm quan sát, tôi nghiệm thấy hai điều: một là chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, hai là có môi trường tốt và môi trường đây là những người thân thích ruột thịt luôn luôn đến thăm, thì cuộc sống của cô Cúc thêm vui, thêm đầm ấm. Tự đáy lòng, tôi biết ơn và kính trọng gia đình cô Thu, gia đình ông Chúc, gia đình ông Thịnh và bà con nội ngoại đã tận tình chăm sóc và thương yêu cô Cúc”.


Sau một lúc trầm ngâm, đồng chí nói tiếp: “Tôi còn nói thêm một điều nữa. Từ khi tôi là đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam Trung bộ cũng như sau này làm việc ở Việt Bắc, ở Hà Nội, tôi sống cùng anh em Phòng 7 (một tập thể gồm thư ký, bác sĩ, cần vụ, bảo vệ, lái xe, cấp dưỡng…). Tôi coi đây là gia đình của tôi, mà tôi là người anh cả. Sự cộng tác của anh em đã giúp tôi làm được việc, nhất là những năm sau này mắt tôi quá kém. Từ đáy lòng mình, tôi xin cảm ơn tất cả anh em”.


Chúng tôi, những người nhiều năm được sống gần đồng chí, vô cùng xúc động và hết sức kính trọng đồng chí Phạm Văn Đồng, một con người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của dân, của Đảng mà vẫn giữ trọn đạo làm chồng, làm cha. Đạo đức ấy, phẩm chất ấy thật trong sáng, cao đẹp biết bao.


NTN


honvietquochoc


trieuxuan.info