Những bài báo
20.02.2009
Nguyễn Tý
Đọc Thuận Thiên Lý Công Uẩn của Hoài Anh

Tác giả đã trình bày về quá trình khởi nghiệp dựng nước và giữ nước của Lý Công Uẩn – người khởi nghiệp triều đại nhà Lý tồn tại 215 năm.
Lý Công Uẩn ngoài tinh thông võ nghệ còn am tường về Phật pháp. Lịch sử đã có nhiều hoài nghi về mối quan hệ giữa ông và Thiền sư Vạn Hạnh.
Trong tác phẩm này, Hoài Anh đã khéo léo giải quyết được mối hoài nghi đó. Thiền sư Vạn Hạnh -
Lý Công Uẩn không phải là quan hệ cha-con mà là quan hệ bác-cháu, sư phụ-đệ tử. Và chính chi tiết tháo nút này làm cho cuốn sách trở nên hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Xin lược trích:


“Vạn Hạnh: Ta nói thực với con, ta không phải là anh ruột của Lý Khánh Văn nghĩa phụ của con, mà là họ Nguyễn, tên Thủ Thành. Cha ta Thủ Tín và chú ta Thủ Nghĩa là người cùng họ với sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp đóng giữ Tiên Du.  


Khi Đinh Tiên Hoàng đế còn làm chức Bộ Lĩnh trong quân của sứ quân Trần Lãm đến đánh, Nguyễn Lệnh công sai chú ta mang quân ra ngăn chống. Chú ta ra trận gặp Đinh Bộ Lĩnh, sau khi nói chuyện biết Đinh Bộ Lĩnh muốn thống nhất đất nước, chấm dứt cảnh cát cứ phân tranh để dân chúng khỏi khổ sở lầm than. Vì nghĩa lớn với dân với nước, chú ta đã hứa sẽ liên minh với Bộ Lĩnh.


 Nhưng Nguyễn Lệnh công không nghe lời khuyên của chú ta mà lạ nghi ngờ chú ta có dị tâm. Cha ta thì không dứt bỏ nổi tình thân với người cùng họ, còn dùng dằng chưa quyết, chú ta đành phải mang vợ con lẻn trốn sang dinh Bộ Lĩnh.


 Nguyễn Lệnh công buộc chú ta vào tội phản loạn, bắt cha ta giết đi. Ta đành phải trốn, đến chùa Lục Tổ ở Đình Bảng, được đức Thiền Ông thu nạp làm đệ tử, từ đó thế phát xuất gia.


 … Con chú ta là Thủ Lễ (cha Lý Công Uẩn-NV), mang vợ sắp cưới là Phạm Thị Ngà (mẹ Lý Công Uẩn-NV), trốn đến chùa Tiêu, nhờ ta giúp đỡ... Ở chùa Phạm Thị đã bắt đầu có mang”. 


Để hiểu về quá trình sáng tác vở Lý Công Uẩn, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng nhà thơ Hoài Anh. 


- Vì sao ông lại nảy ra ý định viết vở kịch?xc


Nhà thơ Hoài Anh: Cái đó hoàn toàn do cơ duyên. Số là anh Phạm Kim Khải (họa sĩ, dịch giả-NT) rủ tôi soạn cuốn kiệt tác văn chương Đông Tây.


 Đến phần phương Đông tôi buộc phải đọc lại các kinh sách Ấn Độ giáo, Phật giáo, Thiền tông, Nho giáo, Đạo giáo.


 Vì phương Đông đã trải qua một thời văn sử bất phàm, văn triết bất phàm. Nhiều tác phẩm sử học, triết học đồng thời cũng là những tác phẩm văn học kiệt xuất.  


Ngày đó, tôi đọc cả sách của các học giả phương Đông đánh giá triết học phương Đông và các sách của các nhà văn châu Á hiện đại, phản ánh đúng hướng và xu thế của các nước phương Đông tiếp xúc với văn minh phương Tây. Từ đó, tôi nảy ra ý định viết về mô hình xã hội Đại Việt thế kỷ XI trong khi tiếp xúc với văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa. 


Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn đã tìm ra con đường riêng “Tam giáo tịnh hành” tiếp thu những tinh hoa của Phật giáo, Thiền tông, Nho giáo, Đạo giáo kết hợp với tín ngưỡng, dân gian bản địa, thờ cúng tổ tiên và các thần linh, tượng trưng cho linh khí non sông và các anh hùng có công với dân với nước, nên đã đề ra đường lối chủ trương đúng đắn, phát huy tinh thần và trí tuệ của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc cho nền độc lập, tự chủ đầu tiên ở nước ta.


Ở nước Đại Việt thời xưa, công xã nông thôn đã có yếu tố dân chủ nhất định, hầu hết người Việt Nam là con cháu các Vua Hùng không có mâu thuẫn đẳng cấp, chủng tộc, tôn giáo gay gắt như ở Ấn Độ.  


Nếu chỉ chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, đi theo con đường tu thiện nội tâm, không lo chinh phục và cải tạo thiên nhiên, tổ chức xã hội hợp lý cho con người sống trong trật tự và hòa mục, chế định pháp luật, khoan hồng tù nhân, vân vân...  


Cải tiến kỹ thuật canh tác để cho dân giàu nước mạnh thì không đủ sức chống lại sự xâm lược và đồng hóa từ bên ngoài đưa vào.


 Thí dụ Chiêm Thành chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ nên ngày càng đi đến chỗ lụn bại. Ngay cả Ấn Độ hết bị người Hồi giáo lại đến người Mông Cổ xâm lược, cuối cùng bị đế quốc Anh thống trị. Sau khi giành được chưa giải quyết được tệ nạn phân biệt đẳng cấp và mâu thuẫn chủng tộc, tôn giáo. Đó cũng là những vấn đề tồn đọng và nóng bỏng của nhiều nước phương Đông trên thế giới hiện nay, trong khi tiếp xúc với phương Tây. 


Nhân vật Vạn Hạnh trong vở kịch của tôi là học trò của Thiền Ông (đệ tử của Huệ Năng) tu hành trong chùa Lục Tổ ở Tiêu Sơn (Bắc Ninh). Vạn Hạnh đã dạy cho Lý Công Uẩn những kiến giải mới về Phật học và Thiền tông, giúp ích cho Lý Công Uẩn trong việc trị nước, yên dân. 


Theo sách Mỹ thuật thời Lý, con rồng Lý thân mình tròn trặn có nhiều khúc uốn lượn thoăn thoắt, thân dài và nhỏ dần về phía đuôi, chứa đựng dáng dấp của một con rắn. Chân rồng thanh mảnh có ba ngón.  


Tất cả mọi thành phần cấu tạo từ cái râu thoát ở hàm trên ra, có hai đường sống cuộn vào nhau và toàn thân phập phồng như một chiếc lá bị gió thổi bay một ngọn lửa dị kỳ. Cái bờm sau gáy thoát ra nhiều đợt, từ dưới cổ họng cuồn cuộn bốc lên lượn nhịp nhàng về đằng trước hoặc lướt về đằng sau như một lá cờ đuôi nheo đang reo với gió. Toàn bộ hình tượng con rồng như đang bay lượn nhẹ nhàng trên không trung. 


Theo quan điểm Dịch học, Khảm thuộc Thủy, Càn tượng Trời, tượng Rồng. Con rồng của nền văn minh lúa nước là Hiện long tái điền. Gặp quẻ Thủy Lôi Truân, rồng phải tiềm phục dưới đầm sâu chờ thời. Gặp quẻ Càn hào Cửu ngũ, Long phi tại thiên, rồng bay vút lên trời. 


Theo quan điểm địa lý, thành Đại La là thế đất con long, có núi Nùng là mũi rồng, gò Tam sơn là râu rồng, núi Thái hòa là bụng rồng... Những cái đó chỉ là biểu tượng nói lên đặc điểm địa lý, thiên nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội... của thành Đại La được miêu tả trong Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ. 


Theo quan điểm khoa học, Lý Thái Tổ từ Hoa Lư với hang động bị những dãy núi đá bao bọc như bức trường thành, khi dời đô ra thành Đại La thấy mặt đất rộng phẳng, bầu trời mênh mông cao vòi vọi những làn mây cuồn cuộn gợi lên dáng rồng. Từ đó xuất hiện huyền thoại Lý Thái Tổ thấy rồng vàng bay lên nên đổi tên là thành Thăng Long (1010). Nhân vật cô cắt cỏ dưới chân núi Nùng trong vở kịch tượng trưng cho linh hồn bất diệt của Thăng Long. 


Trong vở kịch của tôi, Lý Công Uẩn trong khi tìm kiếm nguồn gốc của mình đã tìm thấy nguyên nhân nỗi khổ của dân chúng dưới sự thống trị của hôn quân bạo chúa.  


Vạn Hạnh trong khi tìm kiếm sự thanh tĩnh an lạc cho bản thân mình cũng chỉ ra con đường đưa dân Việt đấn ấm no hạnh phúc, với tinh thần “Vô công dụng hạnh”, chí công vô tư.  


Về nguồn gốc của Lý Công Uẩn, cũng nêu ra ba cách giải thích của nhân vật: theo quan điểm Phật học, theo quan điểm Nho học và theo quan điểm thông thường dựa trên hiện tượng và chân lý thường nghiệm.


 Nhân vật Lão thầy phù thủy (hình ảnh của Đạo giáo đã bị bóp méo và trở thành sa đọa) đã ra sức khai thác cách giải thích thứ ba thổi phồng lên nhằm giúp sức cho thế lực tà ác, hạ uy tín của Vạn Hạnh chống Lý Công Uẩn.


 - Thế còn cách giải thích của tác giả? 


- Khi chưa đủ căn cứ xác thực trong lịch sử, nhà văn phải hư cấu – cũng như nhà khoa học ban đầu phải giải thiết chỉ mong tiệm cận chân lý phải trải qua thời gian mới xác nhận được là phù hợp với chân lý.


 


Do đó vở kịch của tôi có kết cấu mở, không áp đặt cho người đọc, người xem lập tức phải chấp nhận quan điểm nào, nhưng đòi hỏi khán giả một thái độ hợp tác, cố gắng vượt lên hiện tượng để khám phá chân lý tuyệt đối. 


Tóm lại, đây là một vở kịch hiện thực, có đặt vấn đề và vận dụng một số thủ pháp tượng trưng khuôn mặt bà mẹ Lý Công Uẩn lồng trong khuôn mặt tượng A Di Đà nói chuyện với con. Hải Long, con rắn Naga đội lốt thần Shiva ba mặt múa để quyến rũ Nguyễn Đê chống Lý Công Uẩn. Tượng Garuda đầu người mình chim hỏi Vạn Hạnh gợi lên hình ảnh con Sphinx đố Ocdipe, ánh sáng sân khấu chiếu hình mây hiện lên dáng rồng trong lời hát của dàn đồng ca khi kết thúc.  


Thể hiện cách nhìn và bản sắc dân tộc minh triết Đông phương, giải thích tinh thần, tư tưởng Thiền một cách thông tục, dễ hiểu, mong góp tiếng nói của một nhà văn Việt Nam vào việc giải đáp những vấn đề xung đột và giao lưu văn hóa trên thế giới hiện nay.


Cao vọng thì như vậy nhưng có thành công hay không còn hệ tại vào khả năng và sức khỏe rất có hạn của tác giả và sự tiếp tay của các đồng nghiệp, đạo diễn và diễn viên sân khấu. 


* Được biết, tác phẩm này ra đời ông phải đâu tư tư liệu và có chuyến trở về Hà Nội thực tế hết ba tháng. Sách được tài trợ 10 triệu đồng. So với những công trình như Bộ phim Lý Công Uẩn đầu tư 200 tỉ đồng (côngt luận đã lên tiếng phản ứng) thì quá thiệt thòi cho ông. Nhóm Văn chương Hồn Việt cùng tác giả đã đầu tư đề liên kết xuất bản tác phẩm này tại NXB Văn học. Niềm vui lớn là tác phẩm đã đến tay bạn đọc trên cả nước.

trieuxuan.info