Những bài báo
12.09.2009
Tư liệu
Đối thoại với "một thằng hèn"


Là lớp hậu bối, lại còn là người vô cùng hâm mộ bài hát “Nụ cười sơn cước” từ thủa mới lớn ở Miền nam vào thời đất nước còn chia cắt, một ca khúc tiền chiến gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Tô Hải, đã dọn cho ông một chỗ ngồi trên chiếu nhất của lịch sử tân nhạc Việt Nam. Lẽ ra, tôi phải đặt tên cho bài viết này là “Đối thoại với nhạc sĩ Tô Hải” mới đúng lể đối với một bậc tiền bối. Nhưng vì nhạc sĩ Tô Hải đã cố tìm mọi cách tự nhận mình là một “thằng hèn” cho đúng “mốt” thời thượng, vì thế tôi xin thất thố, gọi đây là những lời đối thoại “với một thằng hèn” cho phù hợp với chữ nghĩa của ông. Nhưng cho dù gọi bằng danh từ gì đi nữa vẫn không quan trọng bằng những gì tôi sắp viết sau đây, nó có thể đúng với quan điểm của người này, cũng có thể hoàn toàn đối lập với quan điểm của người khác, nhưng xin hiểu cho rằng, nó xuất phát từ trái tim của một công dân đối với hiện tình đất nước, hoàn toàn không đứng trên lập trường của một tổ chức, phe nhóm nào hết.



        Quả thật, tôi đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi đọc “Hồi ký của một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải. Ngạc nhiên ở đây không phải do sự hấp dẫn của cuốn sách mà do bức xúc bởi một người như ông sao lại có thể phản bội một cách trâng tráo và tàn nhẫn đối với lịch sử, quá khứ, hàng triệu vong linh của những người đã hy sinh, trong đó có đồng đội ông và phản bội ngay chính bản thân mình! Dĩ nhiên, khi sắp đi đến những năm tháng cuối đời, khi phía trước không còn gì, người ta thường sống với kỷ niệm và bất cứ ai cũng có quyền viết hồi ký nếu như cảm thấy có nhu cầu dàn trải tâm sự với nhân gian và có được một khả năng viết lách. Điều quan trọng là phải viết đúng sự thật không chỉ phát xuất từ cảm xúc của trái tim mà cả trăn trë của khối óc một cách khách quan, nhất là khi cuốn hồi ký đó gắn liền với một giai đoạn lịch sử.



       Quả thật, chỉ mới đọc qua vài chương đầu của cuốn hồi ký này thôi, tôi cũng đã thầm biết “thằng hèn Tô Hải” sẽ viết những gì suốt những trang còn lại khi thấy ông cố tình phô trương cái sở học của mình một cách thô thiển, lại ăn phải bả của tây hơi nhiều nên ở đâu cũng thấy ông chua thêm tiếng Pháp dù những câu, những chữ đó tiếng Việt không thiếu từ để diễn tả và diễn cảm. Xin đơn cử: bên cạnh chữ “luận văn” ông viết thêm (dissertation), chữ “lạc đề” ông thêm (hors aujet), chánh mật thám (Delorges)…trang 28 và hầu như dàn trải suốt cuốn sách trang nào cũng như thế cả. Đó là chưa tính đến văn phong, có lúc như cay cú, có lúc như diễu cợt bằng những ngôn từ tục tằn. Có lúc ông tỏ ra khinh miệt mọi người chung quanh, kể cả những người xứng đáng là bậc thầy của ông trong lãnh vực âm nhạc lẫn nhân cách mà có thời ông đã thân thiết, thọ ơn! Nhưng đặc biệt là trong mọi lý giải ông luôn tìm cách để tự tôn, coi mình như là một cái bóng trùm lên tất cả mọi tài năng? Nhưng nếu tinh ý một chút, người đọc dễ dàng thấy được sự hằn học của ông khởi đi từ lòng đố kỵ bởi nhiều chỗ, nhiều lần ông hậm hực nhắc đến nhiều sáng tác của ông sau một vài lần được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước và sau 1954 là bị trù dập, cất vào tủ lạnh, trong khi nhiều sáng tác của những tác giả đồng thời khác lại được phổ biến rộng rãi trong công chúng. Ông không cần biết lý do tại sao lại như thế, cũng chẳng cần phải tự soi xét lại sáng tác của mình có được công chúng đón nhận hay không? Xin thưa với “thằng hèn”, là một nhạc sĩ, chắc ông cũng thừa hiểu rằng, một tác phẩm nghệ thuật thật sự có giá trị chỉ cần xuất hiện ở những nơi công cộng một vài lần là đã đủ sức sống để trở thành bất tử thông qua phương tiện truyền khẩu, ví như ca khúc “Nụ cười sơn cước” của ông vậy. Cũng giống như sự ra đời trong âm thầm, lặng lẻ bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, vậy mà nó đã thật sự làm rung động trái tim của nhiều thế hệ yêu thơ. Như đã nói ở trên, là lớp hậu bối, trước đây tôi luôn dành cho nhạc sĩ Tô Hải lòng tôn kính tuổi tác và chút tài năng của ông, nhưng thử hỏi ngoài một “Nụ cười sơn cước” ra ông còn có gì để lại cho mai sau? mặc dù đối với một đời sáng tác, chỉ cần một tác phẩm xuất thần là đủ lưu danh muôn thủa chẳng hạn như nhà thơ Vũ Đình Liên” với bài thơ bất hủ “Ông đồ”, Nguyễn Nhược Pháp “Đi chùa Hương”… Nhưng có lẽ vì có quá nhiều tham vọng mà lực lại bất tòng tâm nên trong “Hồi ký của một thằng hèn” ông đã nặng lời phê phán, mạt sát những người có hoàn cảnh xuất thân như ông, hoặc dưới ông, nhưng có lúc họ lại nắm giữ những cương vị quan trọng hơn ông, khiến tôi có cảm tưởng nếu như cương vị đó được trao vào tay ông thì ông sẽ có một cách nhìn khác, hoàn toàn tốt đẹp đối với thể chế, có đâu ra đời được một “Hồi ký của một thằng hèn” ở cuối đời chỉ càng làm lộ rõ thêm bản chất tráo trở, “siêu hèn” của ông.



         Một điều đáng nói nữa là trong suốt cuốn hồi ký, “thằng hèn” lại luôn tỏ ra tự hào xác nhận gia đình mình là một gia đình “Đại ngụy” (năm 1954 mẹ và các anh em của ông gần 10 người đã di cư vào Miền Nam và sau 1975 lại di tản sang Mỹ, trong đó có một người em rể là Trung tướng Lâm Quang Thi, từng giữ chức vụ tư lệnh phó Quân Đoàn 1 quân đội Sài Gòn) và theo ông, một phần vì cái nhân thân này mà ông luôn bị dòm ngó, không được cất nhắc cả trong hai cuộc kháng chiến và thời hòa bình lập lại sau thống nhất đất nước. Theo tôi, “thằng hèn” đã thiếu công bằng và trung thực khi nói như thế, vì nếu bị trù dập vì lý lịch thì chẳng bao giờ ông được đứng trong hàng ngũ đảng viên và ông cũng không bao giờ có thể trở thành một trong những cán bộ văn nghệ cốt cán của nhiều đợt rèn cán, chỉnh quân như ông thừa nhận. Ngay cả sau ngày 30/4/1975 một thời gian rất ngắn, ông cũng được tăng cường cho Miền Nam làm thành phần nòng cốt để chiến đấu chống lại cái dư âm của nền âm nhạc dưới thời chế độ cũ. Ông cũng được cấp một căn hộ, được hưởng mọi quyền lợi của một cán bộ như mọi người khác đồng cấp với ông. Như vậy thì ông bị trù dập và phân biệt đối xử ở chổ nào? Phải chẳng, những gì có được thì ông cố quên và những tham vọng không với tới thì ông biến thành bị trù dập một cách thiếu vô tư, minh bạch?



       Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ông cũng thừa nhận mình là một trong những nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất các ca khúc cổ động cho công cuộc chiến đấu của người lính cách mạng. Ông cũng đã từng đi thực tế đến vài vùng đất của quê hương bị chiến tranh tàn phá và đặt chân đến vài cung đường Trường Sơn. Một con đường huyền thoại mà cho dù đứng ở góc cạnh nào đi nữa, không ai có thể phủ nhận được tính chất hùng ca của dân tộc Việt Nam và sự hy sinh quá to lớn của nhiều lớp trai trẻ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp nhau đã tưới máu xuống con đường lịch sử đó để thống nhất đất nước trong vinh quang. Chính “Thằng hèn” cũng đã phải xác tín sự hy sinh to lớn ấy, ông viết: “…” "con đường chết” mà chúng tôi đã đi qua ấy chỉ còn có một màu đỏ, màu đỏ của đất, của máu và của cả …lá nữa vì rừng đâu có còn màu xanh của lá khi mỗi ngày đều được... "tưới” bằng dioxyde, bằng bom tấn, bom bi, bom c.b.u, bom napaln…đủ loại. Còn dòng suối nào mà nước không tanh mùi máu! Còn dòng suối nào mà không biến thành những cái “bẫy chết” với các thứ mìn, mìn cóc, mìn nhảy, mìn tơ hồng…(trang 175). Nghĩa là ông đã nhìn thấy hết sự khốc liệt và thủ đoạn tàn ác của kẻ thù. Nhưng ông lại có một cái nhìn hơi quái dị: Đố ai tìm được một cái xác nào sau khi bom B.52 đã rơi trúng cái bến phà Xuân Sơn nhỏ bé ở Quảng Bình, ở cái ngã ba Đồng Lộc ấy. Bản thân tôi khi trực tiếp gặp họ, tôi đều nghĩ: Chắc đây là lần gặp…cuối cùng. Và quả là như vậy. Bà mẹ Suốt, các cô gái ở Đồng Lộc thì người ta còn biết tới cái tên, chứ còn cả hàng trăm, hàng nghìn những cô, những bà mẹ mà tôi đã gặp họ ở dọc đường khu IV, ở phà Xuân Sơn, ở cua chữ A, ở Tà Lê, Cà Ròn, Mụ Già…họ đâu có kém “anh hùng” chỉ có điều họ không được may mắn khi không được các thứ tuyên huấn của đảng chọn để nêu “gương điển hình” nên họ bị lãng quên”. Theo tôi, đây là một cách đặt vấn đề hoàn toàn ác ý và hơi tàn nhẫn, bởi vì bản thân thằng hèn cũng thừa hiểu rằng không một sự hy sinh nào cao cả hơn sự hy sinh nào khi tất cả đều có chung một mục đích: Hy sinh cho tổ quốc. Nhưng trong một cuốc chiến tranh dai dẳng và tàn khốc như cuộc chiến tranh Việt Nam với quá nhiều anh hùng liệt sĩ mà trong số đó không ít đơn vị, cá nhân chiến đấu độc lập, đến khi âm thầm ngã xuống trong một cuộc chiến đấu đơn lẻ cũng chẳng có ai biết đến tên tuổi. Cho đến hôm nay nắm xương tàn của họ vẫn còn vùi dập ở bờ cây, bụi cỏ nào đó mà ngay cả những người ruột thịt còn tại thế, mỗi lần nhắc đến cũng chỉ biết nói với niềm hãnh diện: “Thằng Hai, thằng Ba nhà tui hy sinh đâu năm 1970 trong trận chống càn ở miệt Cờ Đỏ, Ô Môn gì đó!..”. Thỉnh thoảng, người ta lại phát hiện được những nấm mồ chôn tập thể còn nguyên vẹn những mái tóc xanh một thời trai trẻ bên cạnh quân trang, quân dụng chứng minh họ là những anh bộ đội đã vị quốc vong thân. Quả thật, là người Việt, chúng ta có quyền tự hào trong thương tiếc với tất cả sự tri ân vô số những tấm gương liệt sĩ đã hy sinh một cách dũng cảm, khi coi sự tồn vong của tổ quốc trên cả sinh mạng của mình. Và như thế bút mực nào có thể viết hết chiến công của từng người, từng đơn vị, từng trận đánh trong muôn vàn trận đánh, nhưng chắc chắn máu xương của họ đã hòa vào đất mẹ thương yêu, vong linh của họ đã hội nhập vào khí thiêng sông núi và chẳng có ai lãng quên họ như lời của “thằng hèn” nói một cách thiếu ý thức và vô tâm. Theo tôi, cách diễn đạt không khách quan, cố tình bóp méo sự thật lịch sử của “thằng hèn Tô Hải” khi cho rằng lớp lớp người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” là những đoàn quân vô hồn, sợ hải, run rẩy dưới hàng triệu tấn bom của những chiếc pháo đài bay B.52 từ trời cao đổ xuống mà nếu có muốn kéo cờ trắng thì cũng chẳng thấy thằng địch ở đâu để đầu hàng là luận điệu dối trá. Bởi lẽ nếu đó là sự thật thì làm gì có những Đặng Thùy Trâm mà khi ngã xuống đã để lại trong nhật ký của mình những trang bi hùng, đầy chính nghĩa, khiến cho nhiều cựu binh Mỹ, một thời là kẻ thù của chị phải kính phục, cúi đầu bằng cảm xúc của trái tim.



        Đọc hết trang cuối cùng của cuốn “Hồi ký của một thằng hèn”, tôi thấy ngoài việc ông Tô Hải tự đề cao tài năng và kiến thức mình ra, còn lại toàn là đã phá, công kích, chửi bới những gì không hợp ý với ông, những người mà ông không thích theo kiểu “Bới lông tìm vết”, “Vạch lá tìm sâu”. Không tìm đâu ra dù chỉ một dòng mang tính xây dựng một cách nghiêm túc, có trách nhiệm với đất nước và mai sau. Vậy thì nhạc sĩ Tô Hải, hay là “thằng hèn Tô Hải” viết cuốn hồi ký này với mục đích gì và viết cho ai? Có lẽ cũng không khó lắm để tìm câu trả lời khi ngay trang đầu tiên với tựa đề “Đôi lời phi lộ… viết sau cùng” ông đã tự nhận nhiều khuôn mặt phản động, luôn nuôi ý đồ chống phá chế độ thuộc loại có “số, má” hiện đã qua đời, hoặc còn sống tại Việt Nam và cả lưu vong ở nước ngoài như: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Tín, v.v, là bạn bè, là những tên tuổi mà “thằng hèn” kính phục. Thật ra, những tên tuổi này cũng chỉ là những con “chốt” đã qua sông trên bàn cờ của những phe nhóm, tổ chức ở hải ngoại luôn nuôi lòng thù hận đối với quê hương, nhưng mong đạt được giấc mơ xôi thịt của những tay đón gió, trở cờ. Thế mà “Thằng hèn Tô Hải” lại ngây thơ, không giấu diếm đã biến mình thành cái bung xung của những phe nhóm này, khi ông tự nhận ở trang 2: "Riêng tôi, tôi quyết định viết thêm một chương mới, bằng những nhận thức, tình cảm mới, một chương gần như tóm tắt tất cả những gì mà tôi đã viết nhưng chưa có sự tiếp sức của phong trào đòi tự do, dân chủ, đòi quyền con người…” Thật là đau xót cho những cụm từ cao đẹp như: Tự do, dân chủ, quyền con người luôn bị những kẻ bất lương nhân danh, lợi dụng vì những mục đích xấu xa, gần đây đã bị dư luận vạch trần mặt nạ, để lộ nguyên hình là những kẻ chứa đầy tham vọng, không chừa bất cứ thủ đoạn nào nhằm cản trở sự phát triển của đất nước và đánh bóng bản thân mình.



       Trong phần “Vì sao tôi viết hồi ký”, trên trang 8, “thằng hèn viết: "Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời mà tôi đã tưởng mình là một cánh đại bàng bay bỗng giữa trời nhưng… nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng cánh cụt” chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông…”. Đó chỉ là một cách nói, thật ra, với những gì Tô Hải làm ở những tháng năm cuối đời, cho thấy ông vẫn còn mang nhiều ảo tưởng mình là một con đại bàng. Buồn thay, con đại bàng đó lại bay ngược gió nên còn tiếp tục bị gãy mỏ, trụi lông là điều không thể tránh.



       Tôi lại nghĩ, phải chăng “thằng hèn Tô Hải” sau khi không thành công với những sáng tác phục vụ cách mạng từ năm 1945 đến 1975, cho dù suốt thời gian này ông đã viết hàng trăm tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau, nhưng rồi chẳng đọng lại trong lòng công chúng được gì. Sau 1975, ông lại hô hào một nền nghệ thuật vì nghệ thuật và như lời ông, có lúc ông đã từ bỏ tất cả để được tự do sáng tác vì những cảm xúc của riêng mình. Không ai ngăn cản ông điều đó, tiếc thay, ông cũng chẳng làm nên cơm cháo gì, và dĩ nhiên vẫn chẳng để lại một tiếng vang nào hơn ngoài một “Nụ cười sơn cước” của thời tiền chiến, và ông lại đổ thừa cho nhiều lý do đã hạn chế tài năng của mình. Từ đó ông đâm ra đố kỵ tài và oán ghét những ai tỏ ra sáng giá hơn mình trong lĩnh vực âm nhạc. “Tự do sáng tác không xong, ông nhảy sang “tự do chửi bới” bằng cách viết hồi ký, công kích chế độ và chửi bới một cách hung hăng. Dường như, nhạc sĩ Tô Hải cố làm mọi cách để hâm nóng lại tên tuổi của mình, từ đó, ông không ngượng ngùng xổ toẹt vào cả quá khứ đẹp đẽ của chính ông, một quá khứ mà ông đã lựa chọn giữa lòng dân tộc ngay từ thời trai trẻ. Giá như ông đừng nôn nóng, đừng vội vả chạy theo những ảo vọng ngông cuồng mà chịu khó suy nghĩ, nếu như con đường ông đã đi gần trọn đời người không được thắp sáng bằng chính nghĩa của dân tộc thì làm sao chúng ta có thể chiến thắng được hai cuộc chiến tranh với hai kẻ thù xâm lược hùng mạnh bằng thứ vũ khí tinh thần. Từ chỗ ví von, vô tình ông đã tự biến mình thành “một thằng hèn” thật sự, một thứ công cụ trong tay của những thế lực phá rối quê hương.



        Làm người mà nhất là người Việt Nam, sống có trước có sau đã trở thành đạo lý bất di, bất dịch từ ngàn xưa. Không ít những người ở thế hệ ông, có mặt trong cả hai cuộc chiến đầy hiểm nguy và gian lao, sau ngày thống nhất đất nước họ lại trở về đời sống của một người dân bình thường trong xã hội mà vẫn luôn tin tưởng ở ngày mai bằng tất cả tự hào về quá khứ của mình một cách chính đáng. Tiếc thay, một người như “thằng hèn Tô Hải” lại là một con người hữu thủy mà vô chung!


Bài này không đề tên người viết!?


Nguồn: hoinhavanvietnam.vn, ngày 8-9-2009.


 


 



 

trieuxuan.info