Những bài báo
01.05.2011
Đinh Trần Toán
Con người Hoài Anh như tôi nghiệm thấy

Hoài Anh, người bạn vong niên của tôi qua đời vậy là đã hơn bốn chục ngày! Cháu Vũ, con Hoài Anh, nhắc tôi “Bác đã viết chưa, chú Triệu Xuân đang khẩn trương làm tập sách về bố cháu cho kịp Bách nhật…”. Triệu Xuân là: “Sóng lừng dẫn thủy triều Xuân/ Trầm luân lắm vẫn trong ngần thịt da/ Hương xuân vấn vít la đà/ Tỉnh bao nhiêu mộng vẫn là tỉnh say/ Cuộc người này nói cho ngay/ Sóng bao nhiêu sóng ai hay “sóng lừng”. Tôi mót chữ “Sóng lừng” của Hoài Anh trong bài thơ về Triệu Xuân. Hoài Anh tuổi thực hơn tôi năm tuổi, song trong quan hệ điềm đạm và mực thước, Ông luôn ông, tôi với tôi, ý nhị nhắc con cái kêu tôi là bác để tỏ sự tôn trọng. Cháu Vũ quen cái nếp này, còn tôi thì nhận phứa.


Tôi quen biết Hoài Anh cũng là do cái duyên nghiệp từ tổ tông có gốc gác cùng ở Hà Nam dẫn dắt. Ông vào Sài Gòn trước. Tôi mãi tới đầu những năm 80 mới chuyển vào để thử thời vận, bởi vì tôi nhận ra “Cái gì ở tôi cũng là dang dở/ Chỉ cái vu vơ sẽ có dịp tròn đầy”. Ở phương trời nam nước Việt tôi vẫn chuyên trị nghề giáo học, là cách nối cái nghiệp nhà, cũng là cách tự khẳng định. Do vậy mà tôi vướng vào việc “ngâm cứu” Đông học, võ vẽ học đòi thi phú, thế mới nên chuyện.


Lâm Râu, cùng người Hà Nội, là người bạn chân thành, ham vui, nhiệt tâm với “đòn văn trận bút” của xóm điện ảnh trong làng văn chương kịch nghệ, những năm 80 – 90 của thế kỷ trước. Lâm có chủ đích dựng những tạp chí kiểu “Hành trang tri thức” hy vọng cung cấp kiến thức tối thiểu, cơ bản về khoa học và xã hội nhân văn cho cộng đồng. Để đi cho thuận, phải dùng những bài vở về điện ảnh, như là phương tiện “lách”… Nhưng rồi cũng chỉ được một hai số thì vướng cơ chế “giấy phép”, lại phải chuyển địa chỉ nào là… những “Bông Trang”. Bông trang cũng nhanh tàn héo… Biết vậy, nhưng Lâm Râu vẫn kiên trì thực thi ý muốn, đã gợi ý tôi viết những bài ngăn ngắn về Đông học. Đó là nguyên cớ, là cái duyên cho tôi gặp Hoài Anh. Những bài viết nho nhỏ như “Bàn về chữ Phong kiến”, “Luận về một chữ Phong” hay như “Vọng ngoại – một căn bệnh là băng hoại bản sắc văn hóa dân tộc” liên quan chút chút tới kiến thức Hán Nôm; tuy ngắn, nhưng cũng có vẻ động chạm nên Lâm Râu phải viện tới Hoài Anh thẩm định. Giao bài cho Lâm tôi cũng không hy vọng gì, chủ ý chỉ là muốn khoe mẽ với Lâm Râu… vì khi ấy mọi thứ đều khó lắm! Tôi không có nghề viết lách, bạo gan viết thử chỉ với ý định chuyển tải những gì vốn là của xưa cũ còn sót lại, nhưng xem ra nay vẫn còn hữu dụng. Tôi viết cũng là để thử sức mình, thế thôi! Khoảng một hai tháng sau, trên đường đi làm qua báo Sài Gòn Giải phóng, gặp Lâm, Lâm kéo tôi về café báo Văn Nghệ. Tôi nhìn quanh tìm người quen, thấy một người đứng tuổi, tóc hoa râm, cầm tờ báo, dáng nghiêng nghiêng hơi đổ về phía trước, chậm rãi đi vào quán… Lâm vẫy tay gọi. Người kia ghé bàn chúng tôi. Từ cái nhìn đầu tiên tôi có cảm nhận con người vẻ mộc mạc, chân quê này không dễ bắt thân mà cũng khó ngó lơ. Lâm Râu hỏi ngay: “Sao, mấy bài có được không?”, rồi quay lại tôi giới thiệu: “đây là Hoài Anh, tôi nhờ thẩm định mấy bài viết của ông”. Từ đấy tôi gần gũi Hoài Anh. Biết Hoài Anh làm ở báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng tôi ghé quán café Văn nghệ gặp chơi và cũng chỉ có thế… Rồi những vài báo tôi viết do Hoài Anh thẩm định đã đi trót lọt.


Đầu những năm 1990, một hôm trong cữ café, bất ngờ tôi gặp Đoàn Vy, bạn học từ thời trung học Nguyễn Trãi Hà Nội… khoảng ba bốn chục năm về trước, hiện đã là một nhà thơ... Hôm đó Đoàn Vy rổn rảng đọc khoe mấy bài thơ mới làm… Hoài Anh nghe vẻ đâu đâu, tôi thì nghe lõm bõm câu được câu mất, nên mượn bản thảo xem cẩn thận, rồi vì “điếc không sợ súng” tôi tỉnh bơ buông nhận xét: “thơ cậu ấy à, thơ bờ thơ bụi, toàn em ủng, hoa lá”. Bị bất ngờ, Vy nổi đóa: “Cái thằng! mấy chục năm nay mới gặp, mày có biết thơ phú gì đâu mà dám chê thơ tao… Tao có cả trăm bài đăng các báo từ trung ương đến địa phương…”. “Thì đúng thế! Tớ có biết gì thơ phú đâu… nhưng tớ có thói quen ghi chép những gì chợt đến, trực nhận vào sổ tay…”. Tôi đưa liền cho Vy cuốn sổ tay. Vy đọc, lúc đầu lật qua lật lại vài trang một cách lơ đãng, sau chăm chú, rồi trợn mắt: “đây là thơ… nhưng cậu chép của ai? Vy chuyển giọng hỏi. “Thì tớ chép của tớ, tớ có cả đống thơ thẩn kiểu này, tôi thủng thẳng trả lời, gợi tò mò. Để giữ lời hứa với Vy là tôi đã có cả đống thơ thẩn, một tuần sau, rút từ hai cuốn sổ tay ghi chép, tôi hoàn thành tập bản thảo thơ Nghiệm sinh 1, cũng tại cafe Văn nghệ, tôi đưa cho Đoàn Vy xem, như một sự khẳng định ngầm ý trêu Vy. Vy không còn ngạc nhiên, xem qua rồi đẩy cho Hoài Anh, lớn tiếng la tôi: “Cậu xỏ tớ… xỏ tớ hả?”. Hoài Anh cầm bản thảo, thủng thẳng nói: “Nghiệm sinh là một cuộc chơi, hãy tung nó vào đời để nó chơi”. Sau đó, khi tôi có ý định xuất bản, có lẽ Ông ưng kiểu “Nghiệm Sinh” này nên viết lời bạt rất nhanh. Thế là tập thơ “Nghiệm sinh 1” của tôi ra đời.


Quan hệ giữa tôi với Hoài Anh như có cái duyên ngầm, không định trước việc gì. Chẳng hạn việc Hoài Anh tiếp cận với tôi qua việc Lâm Râu nhờ thẩm định chất lượng mấy bài liên quan tới Đông học, hay việc tôi in “Nghiệm Sinh 1” tới việc tôi tham gia cuộc thi thơ do báo Văn Nghệ thành phố tổ chức, có lẽ là vào năm 1993. Khi ấy, Đoàn Vy thúc: “Cậu Nghiệm sinh lâu rồi, nay thì phải cho mọi người biết “nghiệm sinh”của cậu sai đúng thế nào chứ!”.Và lại Hoài Anh, chính Ông, trong hai kỳ điểm thơ trong bài nhận định tổng quan về chất lượng cuộc thi, đã hai lần Ông nhắc tới bài Tình quê của tôi. Hình như cái “Tình Quê” vô hình, bảng lảng đâu đó đã gắn kết chúng tôi một cách giản dị, chân thành nên gắn bó.


Như vậy với tôi, chỉ riêng cái việc thẩm định chất lượng 3, 4 bài viết đầu tiên của tôi với ý hướng hoài cổ trên “Hành trang tri thức và Bông Trang”, Hoài Anh đã góp phần khơi mạch ứng dụng thực học của nhóm tôi có bút danh Mạc Tuấn qua những bài viết cụ thể đã thành một dòng chỉnh thể sau này. Hoài Anh là một trong vài ba người đầu tiên đã tiếp sức cho tôi, khẳng định cái thực học chuyên sâu và ứng dụng, cụ thể là ứng dụng hệ thống những đồ hình của Dịch Lý vào các lĩnh vực tôi quan tâm, nghiên cứu và khái quát, còn Ông thì đã biết chúng khá sâu và tường tận. Bất cứ bài viết nào của tôi khi đề cập một vấn đề gì đó liên quan tới Đông học, Ông đều đọc, góp một vài ý cho bài có tính hệ thống. Ông là người đầu tiên nhận xét, đánh giá thơ tôi qua bốn Lời bạt cho bốn tập đầu trong hệ “Nghiệm sinh” mà ông khá ưng trong việc dùng chữ Nghiệm sinh. Ông đặc biệt hứng thú, khi đọc bài kiểu “Việt Phong trong Nhân sinh quan của người Việt”.


Ông, như tôi phác thảo: “Rút ruột tằm ra tơ/ Một đời chuyên rút ruột/ Dệt cuộc đời nên thơ/ Hồn Anh Hoài thiên cổ”. Từ những năm đầu mới biết nhau, qua cung cách làm việc của Ông, tôi đã tặng câu đối: “Mạc Tuấn Mạc Hiềm Tri Kỷ Thiểu/ Hoài Anh Hoài Cảm Thức Giao Thâm”. Nguyên tôi dùng chữ “thâm giao”, Ông đã đảo thành “giao thâm” cho đúng niêm luật. Không nhận xét gì, Ông hỏi tôi có phải quê gốc Duy Tiên, sau lúc trầm ngâm, Ông đọc tặng lại tôi câu đối: “Tiên Huyện Vô Trần Tân Toán Dị/ Điệp Sơn Bất Cải Cựu Thời Thanh”.


Ông kiệm lời, thủng thẳng, nhấn nhá. Ông tự nhận có “đôi mắt chim câu” trong “Ru ta”. Tôi thấy đôi mắt chim câu ấy có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, đôn hậu. Cũng điệu Nguyễn Bính nhà thơ ‘chân quê” cùng gốc Hà Nam, Hoài Anh là người của “chân quê”. Và tôi đã mót chữ của Ông, chẳng hạn chữ “chập chờn, bì bõm” ở bài “Nhớ chú chín, chú Goòng” để khẳng định cái “chân quê” của Hoài Anh: “Ngủ quê lội quê bì bõm/ Ăn quê quê ngả không quê/ Chập chờn giấc quê mê tỉnh”. Mót chữ “Ôi giời” ở bài Nguyễn Bính tôi viết về Hoài Anh: “Hồn Ông lẩn khuất bay ngược gió/ Ôi giời! hình ông néo trăng quê! Đồng quê giữa nông sâu Ông thở”. Mót chữ “Chùa Đàn” ở bài Nguyễn Tuân, tôi xiển ý về Hoài Anh, mặc dù biết ông là người rất nhã, rất hiền… “Chùa Đàn đàn không tiếng/ Vọng những triền rất sâu/ Một thời văn chương ngóng/ Nghe nghênh nghênh nỗi niềm”. Hoài Anh hồn nhiên “Nhớ quên”, rất người và rất “thiền”: “Em ơi! từ độ xa người/ Trăng xuân đã khác, nụ cười đã quên”, chữ “đã quên” là chữ của “thiền” vị, rất thiền”. Bài “Ngồi bế cháu” là thêm minh chứng: “Tham thiền thấu lẽ gương tâm soi bóng/ Nhập định trong niềm hạnh phúc bế bồng/ Chưa thành Phật ngồi kiết già xứ mộng/ Đùi nở tòa sen cháu thơ quấn tã hồng”. Mót chữ của Ông tôi cóp ý: “Nhập định – định nhập hai thành một/ Tham thiền – thiền tham những hư vô/ Kiết già – già kiết tan vào mộng/ Tã hồng vẫn quấn quít lông bông/ Thiền thực – thực thiền trong tịnh – động”. Bài “Ngày và đêm” “rất thiền”, tôi cũng lại lếu láo, liều mấy câu: “Huyên thuyên tịnh – động/ Vẫn chuyện luân hồi/ Đêm ngày luân chuyển/ Thuận Thời sinh sinh”.


Sự tiên liệu “Hòa mạng” của Ông chắc chắn ở tầng thượng thanh, cái tầng “thiên – địa – nhân hòa nhất”, cái tầng “thiên – địa – vạn vật nhất thể”, chứ không thông tục ở cái tầng tôi luận ý ông “Hòa mạng”: “Nhền nhện giăng tơ/ Dọc ngang hòa mạng/ Đường đời thì ngáng/ Lối đời chen ngang/ Đầy trời mạng nhện”, và tôi đồ chừng Ông ở tầng thượng thanh đã “Nằm thểnh ghếch chân lên giường gió/ Gối thời lưng ngả giữa đệm mây/ Ôm mơ mấy mộng tinh vận hội/ Ngộ ra trời đất cũng như … a”? Lúc này, chắc là Ông không còn phải “Mộng thấy Lâm”, mà Lâm Râu (đã mất tháng 8-2005) như tôi phác mấy nét quấy quá: “Râu rậm như rừng/ Ngả đường không lối/ Tìm người trong mơ/ Tạt qua cõi mộng…”, hai người bạn ấy thực đã gặp nhau ở mơ mộng của kiếp người.


Hoài Anh ơi! Ôi giời! Ôi giời thân thiết thế! Ôi giời là tiếng thực chân quê, dù có bao nhiêu thị thành thì Ôi giời vẫn đau đáu quê không. Hình như con người Hoài Anh là như vậy. Quan hệ giữa Ông và tôi cũng kiểu quê quê… có “đồng quà tấm bánh” gì cũng dúi cho nhau.


Ôi giời! Cái hồi mới biết ông, không tiện hỏi gia cảnh, đâu chừng vào dịp trước Tết âm lịch Quý Dậu chuyển qua Giáp Tuất mấy ngày, tôi hỏi khéo: “Ông ăn tết ở đâu?”. Chiều ba mươi tôi ghé trụ sở báo Văn nghệ TP. HCM, trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, thấy ông cởi trần, nằm chèo khoeo, đang lơ mơ  trên chiếc giường cá nhân kê dưới gầm cầu thang, trước giường là cái bàn sắt, trên đó để nằm chỏng trơ cái máy đánh chữ… Tôi cám cảnh, tự hỏi sao mà phải đến nỗi này… Không biết nói gì trong cảnh huống ấy, lặng đi một lúc, tôi để lại chút quà Tết ông. Ông lọ mọ chỉnh trang sống áo, tiễn tôi, cả hai đều ngùi ngùi không hé nửa lời. Tôi ra về lẳng lặng, buồn…! 


Ôi giời! Tôi lại nhớ cái hồi Ông được mời đi giao lưu với một số nhà văn Trung quốc ở Thượng Hải thì phải… Về được mấy hôm, ông tới thăm, dúi cho tôi nửa chai rượu Mao Đài (cái vỏ chai hiện tôi còn giữ lại chơi) nhỏ nhẹ: “Họ tặng tôi thứ rượu này, thết mấy người một nửa, còn nửa phần ông”. Tôi mở nắp chai đưa lên mũi, thoảng thấy mùi nhè nhẹ, thơm thơm, rót ra hai chung… đưa lên hạ xuống hít hà, ngụm một ngụm vừa đủ thấm đầu lưỡi, chép chép môi, lần đâu tiên biết mùi, biết vị Mao Đài, cái thứ rượu này hình như là thứ khoái vị của ngài Chu Thủ tướng tận bên xứ nửa nóng nửa lạnh xa xôi, ở xứ có nền văn minh rực rỡ, thâm sâu, có lực văn hóa thâm hậu, cái xứ có chung gốc văn minh nông nghiệp châu Á, mới ngày nào với người Lạc Việt còn mim mím kín môi, giờ thì đang để cho môi hở. Tết Tân Mão vừa rồi, có chai rượu Lão Tam Hoa, thứ rượu phải chưng cất tới ba lần mới được loại tam hoa, tôi để giành cho Ông cũng lại nửa chai, gọi cháu Vũ tới mang về cho bố. Vũ không kịp tới, tôi nhãng đi… thế là đành phải để kỳ kỵ nhật.


Ôi giời! Mà bây giờ thì có đáng là gì nữa đâu nửa chai rượu dù là Lão Tam Hoa, khi Ông đã lâng lâng xứ khác!


Ông đang lâng lâng trên tầng thượng thanh, ngó xuống chúng bạn vẫn bằng “đôi mắt chim câu” tròn xoay, xoay đến muôn chiều, thuần hậu, trong khi bạn ông – Quang Dũng “Tây tiến” đang trừng con mắt…lặng đi! Tai ông nặng, thường phải nghểnh nghe, kiểu nghểnh tai nghe như kiểu cái phễu đặt nghiêng hứng giọt trần ai bụi bặm, chắt giọt thiêng ở tầng thượng thanh, hòa nghe cõi mênh mênh mang mang ở xứ những hiền tài. Dáng ông nghiêng nghiêng hơi đổ về phía trước, ý như gấp gáp cho kịp hết kiếp người, ngược với vẻ thường hằng của ông đi đứng chậm rãi, ung dung; còn với tôi, Ông dùng chữ “thung dung, thích thảng”.


Tôi lại mót được “Yêu là giá trả luật chơi” trong Di chúc của Ông, tôi lượm ý, rồi phăng: “Cuộc người là cuộc trả giá suốt đời để lượm lặt và khẳng định kinh nghiệm sống, để tìm ra lý lẽ sống, để rồi cuối cùng là tìm đến cõi Không… Cuộc người là câu đố thách thức mọi kiến giải nhị nguyên: trắng – đen, khôn – dại trong cõi vô thường, đúng “luật chơi” rồi, kết cục, phải chăng, sẽ hướng tính linh hòa vào cỏ cây đất cát, khi không thể với tới thiên đường tưởng tượng, nơi ấy toàn những niềm vui…”. Dưng mà… như tôi luận, ở cái nơi  chỉ có toàn niềm vui thì, kể ra cũng chán, bởi nó đơn điệu, bởi nó thiếu cái “đối dụng”, mà… “Đối dụng” là điều kiện quan yếu của sự tương tác để “sinh sinh”.Tôi quan chiêm cái cảnh tương tác, đắp đổi, một cảnh quen, khi lượm ý ông: “Bưởi bòng đã chín”/ Treo tít trên cao/ Xù xì gai nhọn/ Mít còn quá non/ Cả hai Mít Bòng/ Ôi giời… lăn lóc/ Thằng bé lon ton/ Ông y thằng bé/ “Hồn lạc trong dần đến độ không”. “Đến độ không” lại là đích thị thiền! Trong “Bé bỏng”, tôi mót chữ, rồi lại phăng: Độ không là không độ/ Uống uyên nguyên cội nguồn/ Không độ say đến độ/ Mở cõi về khổng không! Nơi phơi “phới buồm mây”/ Nơi hồn ông cưỡi buồm mây phơi phới!


Ông đồng cảm với con người Thu Bồn ở chỗ “sừng trâu”, tôi thì ngấm: “Sừng trâu” làm tù và gọi hống/ Mõ trâu gọi những cánh đồng mông/ Be rượu sừng trâu cay nồng mộng/ “Hoài Anh hoài cảm thức thổng thông”/ Riêng khoảng giữa – trống không – dành cho người ngấm hiểu. 


Ông tỉnh nhận ở Nguyễn Tý “đom đóm” và “chuột rúc” những tín hiệu của cùng “mạng chuột”, tôi thì nghiệm: “Đom đóm giờ Tý bay/ Chuột rúc chờ Tý sáng/ Hoa đèn mùa Tý nở/ Giữa cõi mơ thường hằng/ Thực – hư Hư – thực tưởng/ Kìa bình minh đã hừng!


Ông giao cảm với Nguyễn Minh Châu, trực nhận trong “lập lòa âm dương” ở “miền cháy”, tôi chợt lóe: Miền cháy – cháy miền cơm áo/ Lập lòa – lòa lấp âm dương/ Rẻo quê ngậm ngời nhân nghĩa/ Vuông tròn trời đất đâu minh?


Ông cô liêu, qua Xuân Sách, tôi thì nghiền ngẫm: “Phía bên kia núi chẳng còn ai”/ Phía bên này núi có hai bóng mình/ A ha tứ phía xoay bóng núi/ Ngất ngưởng bóng hình mình – núi ngẫm ra!..


Ông thấu lẽ đời từ Tạ Vũ, còn tôi phăng: Chổi vôi vẽ vời trăng ngó gió/ Tình tang tỉ mẩn thững thờ câu/ Bê bết tường mặt vôi trắng lốp/ Khéo khen ông thợ biết mần thơ.


Ông tính việc, qua “Trung niên thi sỹ”, nhỡn tiền “Tử sinh ăn lõm đôi bờ càn khôn”. Mót ngay được chữ “ăn lõm”, tôi ngó bộ: “Ăn trộm cơ trời/ Càn – Khôn lỡ dại/ Cuồng quay nhũng nhiễu/ Vay trả lay nhay/ Say tỉnh tỉnh say / “Ăn mày” thiên giới/ Mòn con mắt hóng!../ Đi rong…


Ông thật thà, qua “hư linh”, còn tôi thì chợt nghĩ: “Ừ nhỉ! Bao nhiêu thứ hư linh/ Ôi giời!.. Linh diệu hết giữa trùng vây cõi thực/


Ông dẫn dụ bằng câu “Ngẩn ngơ thụi mõm vào người”… tôi ngờ rằng Ông đã: Thụi một thụi cõi ngẩn ngơ/ Cái đau chưa điếng ơ hờ…“Rạng đông”/ Xem ra say tỉnh cõi ngông/ Ngạo người mà cũng lông ngông ngạo mình…


Ông “phỏng” niệm: “Phóng lên không cao tốc/ Đảo tròng khắp đông tây/ Va ngay vào nghịch cảnh!


Ông theo hút dòng sông hoa, lắng nghe dòng sống “chảy ào”, còn tôi suy diễn: Chảy ào là chảy đi tuốt luốt/ Lấn cấn giữa lòng một vụm hương/ Đầu sóng thương vương mây gờn gợn/ Ngân ngấn lệ làng một giọt sương/ Dòng sông hoa lắng tình con nước!


Ông lắng chuông chiều đổ hồi, tôi đồ chừng: Chuông bu lại thỉnh phương viễn xứ/ Nguyện nguyền tỉnh tịnh giữa phong sương/ Nẻo quê mây ruổi mênh mang buổi/ Một bữa người – trăng tràn ly hương! Ôi giời! miên miên chiều thênh cảnh!


“Ôi giời!” Mấy dòng này của tôi là tôi nghiệm từ con người ông, là cách tôi hai lần mon men tới “Hòa mạng” của ông, cũng là thêm mấy nấc tâm hương để ông đi về khoảng khoát!


TP. HCM, 01. 05. 2011 – 29 tháng Ba Tân Mão


ĐTT.


Rút từ Hoài Anh và đồng nghiệp. NXB Văn học sắp phát hành.


 www.trieuxuan.info


 


 


 


 

trieuxuan.info