Những bài báo
12.11.2012
Lâm Bích Thủy
Không lời hẹn ước (Hay chuyện tình giữa chàng thi sĩ Yến Lan và cô gái câm)

 Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng «Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây/ Để tâm hồn treo ngược lên cành cây…». Ba tôi –nhà thơ Yến Lan không biết có tâm trạng đó không nhỉ? Song những gì tôi biết về người cha của tôi là như thế này:


 


 Má tôi kể rằng: “Một đồng nghiệp của ba tên Nhân, làm Hiệu trưởng Trường Tiểu học ở Tam Quan-Bình Định. Thầy Nhân đang đau đầu, nhức óc để tìm cách giữ chân học sinh của mình ở lại trường; mãi vẫn chưa nghĩ được. Học sinh hết đứa này đến đứa khác thi nhau bỏ trường, để xuống Quy Nhơn học! Chợt hình ảnh anh bạn đồng nghiệp, còn là  thi sĩ Xuân Khai rất nổi tiếng trên văn đàn, lóe lên đầu thầy; biết đâu anh bạn này sẽ là người cứu giúp được ta. Thế là, thầy khăn gói vào thị trấn An Nhơn-Bình Định ngay. Thầy gặp Xuân Khai và trình bày khó khăn của trường và nguyện vọng được bạn giúp. Thầy giải bày tâm can như sau: Mình muốn nhờ danh tiếng thi sĩ của cậu để giữ chân học sinh ở lại, không bỏ trường xuống Qui Nhơn nữa!


  Thầy Nhân không ngờ chiêu này của mình lại có hiệu quả đến thế. Thật không uổng công thầy hiệu trưởng. Tiếng đồn thi sĩ Xuân Khai về dạy trường đã làm thay đổi cán cân đi, ở rõ rệt. Các cô chiêu, cậu ấm không chỉ rủ nhau ở lại mà còn lôi kéo bạn của trường khác về để nghe thầy giáo - thi sĩ Xuân Khai dạy. Cũng phải thôi! Lúc này là thời hoàng kim của văn chương “Nhất sĩ nhì nông” cơ mà. Người dân nơi đây sống trong mây ngàn gió núi nên yêu thơ vô cùng. Nghe thi sĩ dạy khác nào cá gặp nước! 


 


 Rồi thời hạn hợp đồng giúp bạn đã đến. Thầy Xuân Khai chuẩn bị về nhà. Thầy Nhân không muốn vậy. Sợ bạn đi thì trường sẽ rơi vào trạng thái ban đầu; đã lỡ “ném lao thì phải theo lao” đến cùng. Đón người về thì dễ, để người đi thì thầy không đành đoạn.  


 


Vốn quí cái tài, cái tình của bạn, thầy quyết tâm “phải cột chân anh bạn bằng một mối tình nào đó”.


 


 Đây là câu chuyện tình giàu tính nhân văn, lãng mạn, song cũng rất bi hài. Cô gái mà thầy Nhân giới thiệu cho thầy Xuân Khai tên là Điệp. Để bạn đỡ bất ngờ, thầy giả vờ rủ chàng thi sĩ đến chơi nhà cô trước lúc ra về.


Song, vừa nhìn thấy cô gái, thầy Xuân Khai như bị hút vào đáy mắt biết nói của cô. Trời! sao trời lại ưu ái cô gái này thế. Cô có một nét đẹp kỳ diệu khó tả nên lời. Cô đẹp mê hồn, khuôn mặt trái xoan đầy đặn, má ửng hồng, đôi môi mọng gợi cảm, hai má lúm đồng tiền làm cho nụ cười thêm quyến rũ!


Thầy Nhân cảm nhận được trong mắt chàng nhà giáo-thi sĩ, tuy gặp cô lần đầu nhưng hình như lòng chàng trĩu nặng? Trên con đường làng, thầy đề nghị “cậu ở lại giúp mình ổn định thời gian nữa, nếu cậu về lúc này, trường khác nào như lúc đầu...!


Thông cảm với nỗi lo xa của bạn, thầy Xuân Khai nhận lời ở lại.


 


  Mỗi lần nhắc tới cô Điệp, ba tôi công nhận “cô ấy đẹp thật, một nét đẹp như thiên thần, hiếm thấy!”. Thế nhưng, Trời cho cô nhiều thì cũng lấy đi ở cô không ít. Cô bị câm, điếc! Giao lưu với cô phải có giấy, bút. Dòng tâm sự về cuộc đời cô lần lượt trải ra tờ giấy, khiến thầy giáo trẻ mang tâm hồn của người thi sĩ thương cảm và đón nhận. Cô kể là:


  Được một người đàn ông Pháp, thuê làm giúp việc nhà. Trước nhan sắc trời cho cô, ông chủ không cầm lòng được, đã cướp đi cái quí giá nhất đời con gái của cô. Cô có bầu, sinh được bé gái, nó thừa hưởng ở cha mẹ những nét trội. Ông chủ rất yêu con. Bé lên hai, ông sợ giống cô, nên tách khỏi vòng tay mẹ nó, đưa về Pháp. Ông để lại cho cô ngôi nhà, ít vốn và gánh hàng xén, để tự nuôi thân.


   Ông chủ và con đi xa lắc xa lơ, không biết bao giờ được gặp lại? Cô thật cô đơn, trống vắng trong gian nhà chỉ một mình, không hề nghe được tiếng động nào xung quanh! Mỗi lần nhìn trẻ nô đùa trước cửa, nỗi nhớ con làm lòng cô tan nát, ngẩn ngơ, tâm trí như người bị lạc mất hồn.


Thế rồi, Trời xui đất khiến thế nào mà thầy Nhân lại đưa chàng nhà giáo đến nhà. Khi thấy chàng, lòng cô xốn xang, tim đập dập dồn khó tả. Cô cho rằng “Chắc trời thương mình, đã đem chàng trai đến để bù đắp nỗi mất con… !”. Và nỗi nhớ con chuyển thành tình thương yêu dành cho chàng nhà giáo trẻ.


  Thầy giáo-thi sĩ nghèo, và cô gái mỗi người một cảnh, gặp nhau đã hòa chung nhịp đập của trái tim. Và rồi họ thương nhau; một bên vì thông cảm, một bên vì cô đơn. Những đêm trăng sáng, họ rủ nhau ra sông tắm, ngắm trăng treo đầu xóm, nói với nhau bằng ánh mắt, và những nụ hôn cháy bỏng…


 


Không lâu sau, tự nhiên chàng nhà giáo như nghe có tiếng gọi của quê nhà, thúc giục chàng trở lại. Chàng phân vân nhiều lắm! Song, tiếng vọng nơi chôn nhau cắt rốn mạnh như bom nguyên tử, không thể giữ được chân chàng ở lại thêm nữa. Chàng quyết tâm ra đi. Đối với chàng tình quê mạnh lắm và đó là điểm yếu của chàng. Điều này làm chàng thấy sợ phải nói thật với Điệp về quyết định này. Vì vậy, chàng không thể nói lời từ biệt với cô Điệp, đã lặng lẽ mua vé về quê vào chuyến tàu 2 giờ khuya.  


 


 Tại ga lẻ, đêm lạnh, vắng tanh vắng ngắt, chỉ có ba người trên sân ga. Khoảnh khắc chờ tàu đến khó chịu. Tự nhiên cảm giác có lỗi với Điệp lởn vởn trong đầu, khiến chàng ân hận. Nhưng không còn cách nào hơn, đấy là cách giải quyết tốt nhất cho cả hai người vì mối tình đầy nghịch cảnh giữa chàng thi sĩ và cô gái câm; không lời hẹn ước..!”.


 


Đang chạnh lòng, bỗng, bóng một cô gái mặc chiếc áo dài Lê Phổ (nhà thời trang thập niên 1930-1940) lấp ló ngoài cổng ga, dường như đang tìm kiếm ai. Chàng nhận ra Điệp, cô xăm xăm tiến về phía chàng, vừa đi vừa đưa đôi tay lên ôm mặt. Chàng bật đứng dậy như chiếc lòxo, tách khỏi chỗ ngồi, đi lại phía cô. Cô òa lên khóc nức nở, rồi quay lưng bỏ chạy. Lòng chàng trào lên cảm giác khó tả… Nhìn đồng hồ ga, thấy còn nhiều thời gian, chàng bèn quay lại nhà Điệp để an ủi cho lòng cô thanh thản.


Vừa thấy bóng dáng chàng, cô lao từ trong nhà ra, ôm ghì chàng lôi vào nhà, hôn lấy hôn để lên mặt, lên khắp người chàng… Chàng đã thiếp đi trong vòng tay êm ái của Điệp... Đến 1 giờ đêm, Điệp lay chàng dậy, tiễn ra ga. Chàng thấy Điệp rất tỉnh táo và vui vẻ trên đường ra ga tiễn chàng. Chàng hiểu hành động và cách xử sự của Điệp, đôi mắt nàng đã nói lên “Em không có quyền giữ một người như chàng cho riêng mình, cầu cho chàng hạnh phúc nơi chân trời chàng đến!”


Và họ biệt tăm nhau từ đó, không một lời hẹn ước!


  Có lẽ mối tình với cô gái câm là nỗi day dứt lớn nhất trong hành trình làm thi sĩ của ba tôi trong đời sống và trong những vần thơ. Bài “Ga xép” ẩn chứa sự dằn vặt suốt bao năm qua vì người đàn bà bất hạnh ấy:


 


Con tàu suốt của những chiều dĩ vãng


Giữa phút nhớ em - chạy giữa lòng tôi


Động thức hồn xanh từng cụm cây đồi


Chầm chậm ngang qua ga xép


Khói vướng đường cong giây thép


Cuộc đời nặng trong đoàn toa xao xuyến


Trôi dài qua mấy thước sân vuông


Một môi cười hay một vệt trán buồn


Không rớt lại trong chiều ga xép


Em đừng trách lòng anh xưa chật hẹp


Khi đời anh


           con tàu cũ đang trôi


Và tình em cô quạnh giữa đời


Như một nhà ga


           không người lên xuống.


 


Còn một điều nữa do má tôi nói ra “Có thể ba và cô Điệp đã có gì đó với nhau nên ba rất quan tâm và muốn biết điều đó có tồn tại hay không? Sau giải phóng, trở về sống trên quê cũ, những hồi ức về một mỹ nhân vừa câm vừa điếc khi xưa cứ thôi thúc chân ông quay lại xứ dừa Tam Quan, nơi đã xảy ra những đêm trăng tình ngơ ngác...


Tiếc thay, hỏi thăm những người có tuổi, không một ai biết chuyện tình chàng thi sĩ và cô gái câm thuở nọ!


Bài thơ “Uống rượu với bạn đồng hương” viết tại Hà Nội, khi ba 55 tuổi, vẫn thấy bóng dáng mỹ nhân xứ dừa Tam Quan


 


                        Những vần thơ ban đầu


                                    Từ bóng cô hàng xén


                                    Đến tiếng vọng còi tàu


Không một lời hứa hẹn…


 


  Có lần ba tôi khoe “Ba có viết truyện ngắn, tên “Trăng tình lên ngơ ngác” kể lại mối tình giữa chàng thi sĩ làm thầy giáo và cô gái câm xứ dừa Tam Quan. Tuy nhiên, tôi chỉ nghe chứ chưa thấy. Có lẽ nó cũng bị đốt ra tro, trong cái rương chứa toàn bộ bản thảo sáng tác của ông, gửi cho cậu Thúc Thành trước khi đi tập kết!


 


LBT.


Tác giả gửi: www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info