Văn học & âm nhạc
01.08.2011
Huỳnh Chí Viễn
The Beatles - Nửa thế kỷ một huyền thoại (18)

Being For the Benefit of Mr. Kite


(Lennon 10)


McCartney: bass, lead guitar


Lennon: Hammon Organ, hát chính


Harrison: harmonica


Starr:drums, harmonica


George Martin: Wurlizter organ, piano


Mal Evans: harmonium


Neil Aspinall: harmonium


John mua được tấm poster cổ những năm 40 của thế kỉ 19 về gánh xiếc rong của Pablo Fanquer và John Henderson trong chuyến đi quay ngoại cảnh của bài “Strawberry Fields” ở Kent. Bị hấp dẫn bởi lời văn khá trau chuốt trong tờ quảng cáo, John quyết định sử dụng nó để làm lời cho bài hát mới của mình. Kết quả là gần như toàn bộ những dòng quảng cáo trên tờ poster được John đưa vào bài hát. John chỉ sửa địa danh Rochdale thành Bishopgate cho có vần với “don’t be late”. Khi thu âm bài hát, John nói với ông George Martin rằng mình muốn ngửi thấy không khí của một rạp xiếc lưu động với mùi bột mạt cưa và kim tuyến bay trong không khí. So với Paul, John có những đòi hỏi khá trừu tượng và mang nhiều tính thách đố hơn trong việc phối âm. Tuy nhiên, điều đó không làm cho ông Martin nản lòng hay phật ý. Mỗi yêu cầu đưa ra là một thử thách về mặt chuyên môn đối với ông. Để thực hiện ý tưởng này, ông Martin đã đề nghị phần giang tấu chuyển sang điệu valse thay vì chơi với nhịp 4/4 như trong bài hát. Được voi đòi tiên, John lại tiếp tục đòi sử dụng nhạc cụ đàn hơi nước (steam organ), loại nhạc cụ tự chơi nhờ áp suất của hơi nước đun nóng thường dùng ở các hội chợ làng trong thế kỉ 19. Do không thể lắp đặt đàn hơi trong phòng thu âm, ông Martin phải làm vừa ý John bằng cách tìm một đoạn băng thu âm tiếng đàn hơi, cắt ra làm nhiều đoạn, sau đó nối các đoạn lại với nhau rồi chơi với tốc độ nhanh ở nhịp ¾ cho khớp với phần giang tấu.


Xin được nói một chút về lai lịch của những nhân vật trong bài hát nổi tiếng này. Mr. Kite, Pablo Fanque và nhà Hendersons đều là những nhân vật nổi tiếng có thật. Mr. Kite tên thật là William Kite, con trai của ông chủ gánh xiếc James Kite. Là một diễn viên xiếc, William Kite lập nhóm Kite’s Pavillion Circus năm 1810 và sau đó là gánh Well’s Circus. Thời điểm từ năm 1843-45, tức là thời điểm tấm poster được in, William Kite biểu diễn với gánh xiếc của Pablo Fanque.


Pablo Fanque, tên thật là William Darby, là một diễn viên xiếc tạp kĩ sinh năm 1796 trong một gia đình gốc Phi ở Norwich, Anh. Từ năm 1830, ông này đổi tên thành Pablo Fanque và lập gánh xiếc riêng. Ở Anh, Pablo Fanque là chủ gánh xiếc da đen đầu tiên.


Nhà Hendersons bao gồm John Henderson, nghệ sĩ đu dây và nhào lộn cùng với vợ là Agnes, cũng là một nghệ sĩ xiếc. Hai vợ chồng lập gánh xiếc rong lưu diễn khắp Châu âu trong thập kỉ 40-50 của thế kỉ 19. Còn chú ngựa Henry trong bài hát có tên là Zanthur, sở hữu của nhà Hendersons.


Lúc đầu John tỏ ra không thích bài này vì anh cho rằng mình không tự viết lời. Nhưng về sau, khi trả lời phỏng vấn tạp chí Playboy, John cho rằng đây là một bài hát đẹp và tinh khiết như một bức tranh vẽ bằng màu nước.


Within You, Without You


(Harrison 10)


 


Harrison: tamboura, vocal


Neil Aspinall: tamboura


Dàn nhạc dân tộc Ấn Độ: dilruba (một loại đàn dùng vĩ kéo), tamboura, tabla, sitar, swordmandel


Dàn nhạc cổ điển phương Tây: 9 violins, three cellos


Từ sau khi làm quen với cây đàn sitar và nhà ẩn sĩ Maharishi Maheshi Yogi, George trở nên mê mẩn với văn hoá và âm nhạc Ấn Độ. Từ một thành viên trẻ nhất và ham vui nhất của Beatles, George trở nên thâm trầm, già dặn và đầy triết lí. Bài “Within You, Without You” được George viết sau một buổi ăn tối tại nhà của Klaus Voorman, lúc này đang chơi bass cho nhóm Manfred Mann. George đã sử dụng cây đàn harmonium (một dạng đàn organ có bàn đạp để ngân tiếng) của Klaus để viết bài này với cảm hứng là cuộc đối thoại trong buổi ăn tối mà chủ đề chính là cái tôi của từng cá nhân. Theo George, nếu mọi người có thể từ bỏ được cái tôi của mình thì tự nhiên các bức tường vô hình ngăn cách sẽ bị phá vỡ và mọi người có thể xích lại gần nhau hơn. Một đoạn của bài hát này ảnh hưởng lời răn của chúa Jesus với các tín đồ trong Kinh Thánh rằng không nên dùng linh hồn mình để đánh đổi bất cứ thứ gì, cho dù đó là cả thế giới. Bài hát này nâng tầm vóc sáng tác của George lên ngang với John và Paul về cả nội dung lẫn nghệ thuật. John phải công nhận rằng đây là một bài hát hay và là bài hát yêu thích của mình. Còn Stephen Stills, ca sĩ và nhạc sĩ của nhóm Crosby, Stills and Nash sau khi nghe bài này đã thuê thợ khắc toàn bộ lời bài hát lên bia đá trong vườn nhà mình.


Mỗi khi nhóm Beatles có một ý tưởng thu âm lạ, người khổ nhất không ai khác hơn là ông George Martin. Để dàn nhạc dây phương Tây chơi cho khớp với dàn nhạc cổ truyền Ấn Độ, ông Martin phải tìm cách chuyển những kĩ thuật chơi nhạc của đàn tamboura, dilruba sang ngôn ngữ âm nhạc phương Tây để cho violins và cellos chơi theo. Pete Blake, người thiết kế bìa đĩa Sgt. Pepper đã mô tả buổi thu âm ca khúc này như một buổi ngồi thiền thực sự với George và các nhạc sĩ Ấn Độ ngồi xếp bằng trên một tấm thảm trải dưới đất trong mùi nhang trầm nghi ngút. Các micro khi thu âm đều được giấu đi vì các nhạc sĩ dân gian người Ấn cảm thấy không được thoải mái khi tiếp cận với các phương tiện thu âm hiện đại.


When I’m Sixty-Four


(McCartney 85/ Lennon 15)


 


McCartney: bass, piano, hát chính và hát bè


Lennon: lead guitar, hát bè


Harrison: hát bè


Starr: drums


Dàn nhạc nền: bass clarinet, 2 clarinets


Paul viết bài này năm 15 tuổi, một thời gian ngắn sau khi gia nhập Quarry Men theo phong cách cabaret của những năm 20-30, như một món quà dành cho cha mình ông James McCartney người cũng là một nhạc sĩ. Về ca khúc này Paul phát biểu: “ Khi tôi viết bài này, cha tôi chỉ mới 56 tuổi, nhưng ở Anh, tuổi về hưu là 65, vì thế tôi lấy số 64 làm mốc đánh dấu tuổi về già.” Do lúc này Paul hoàn toàn không biết rằng mình sẽ trở nên giàu có và nổi tiếng nên ước mơ tuổi già của anh khá bình dân: hai vợ chồng già sống với nhau trong một căn nhà nhỏ bằng tiền dành đụm với các cháu quanh quẩn bên chân. Trong khoảng thời gian 61-62, Paul thường chơi độc tấu bài này trên piano để thay đổi không khí sau khi nhóm đã mệt nhoài với những bài rock and roll. Bài hát được viết với dạng một bức thư tỏ tình của một người đàn ông với một người đàn bà không quen, nhưng thay vì những lời ngọt ngào tán tỉnh, người đàn ông lại đặt ngược câu hỏi với người đàn bà rằng “Em có còn yêu anh và chăm sóc cho anh không khi anh trở nên già cả vô dụng?” Paul thu âm bài này trong album Sgt.Pepper năm 67, đúng dịp ông James 64 tuổi. Một điều khá mỉa mai là năm nay khi Paul 64, ông lại phải đối mặt với vụ li dị đầy tai tiếng với người vợ Heather Mills. Trên đời có ai học được chữ ngờ?


Lovely Rita.


(McCartney 10)


 


McCartney: bass, piano, lược và giấy, hát chính, hát bè


Lennon: acoustic guitar, lược và giấy, hát bè


Harrison: acoustic guitar, lược và giấy, hát bè


Starr: drums


Martin: honky-tonk piano


Ở các nước tiên tiến như Anh và Mỹ, khi đậu xe trên đường phố công cộng, người đậu xe phải đậu trước những đồng hồ gọi là parking meter. Sauk hi đậu xe, người đậu ấn nút ở đồng hồ để bắt đầu tính giờ. Thường thì sau một khoảng thời gian nhất định, nếu người đậu xe không quay về lấy xe, đồng hồ bắt đầu tính tiền phạt. Công việc kiểm tra đồng hồ đậu xe ở Anh lúc bấy giờ được giao cho nữ là chính. Ở Mỹ, nữ cảnh sát cũng làm công việc này như không phổ biến bằng. Một người bạn Mỹ của Paul khi đến Anh đã cảm thấy rất ngạc nhiên khi phần lớn người làm công việc này là phụ nữ. Paul cũng cảm thấy thú vị khi những “parking-meter women” ở Anh được người Mỹ gọi là “meter maid”. Paul viết ca khúc này để thi vị hoá cái nghề chỉ chăm chăm viết giấy phạt mà không mấy ai có cảm tình này. Trong mắt của Paul, các cô meter maid mặc dù ăn mặc giống như nhà binh và khá thiếu “nữ tính” cũng có thể trở nên rất đáng yêu. Và nếu bị một cô nàng dễ thương như thế ghi giấy phạt, Paul sẽ dùng số điện thoại trên biên lại phạt để gọi và tán tỉnh cô nàng. Trên thực tế, Paul đã dùng bộ mặt ngây thơ và tiếng tăm của mình để tán tỉnh một cô meter maid để cô này xoá tên anh khỏi sổ phạt. Sau khi bài hát được phát hành, một nữ cảnh sát viên với cái tên Meta Davies đã tự nhận rằng mình là người trong bài hát. Theo câu chuyện của Meta này thì năm 1967, cô có ghi giấy phạt đậu xe của Paul ngay lúc Paul trở lại xe của mình. Thế là chàng Paul chạy theo và giở ngón năn nỉ để được miễn đóng phạt. Tuy nhiên Paul chỉ năn nỉ để thoát nạn chứ không tán tỉnh gì Meta Davies vì bà này trên thực tế hơn anh đến 22 tuổi và có một đứa con gái là fan của Beatles. Để đổi lại, Paul phải tặng Meta chữ kí để mang về cho con gái mình.


Lúc thu âm bài này, Paul nảy ra ý định tạo ra tiếng lạo xạo để nhái tiếng xé biên lai phạt của các nữ cảnh sát viên bằng cách dung những cây lược bằng kim loại cọ xát trên giấy. Tony King, người phụ tá của ông George Martin lúc bấy giờ đã phát biểu rằng: “Nhóm Beatles được ông Martin nuông chiều hết mức. Chỉ có họ mới có thể khiến ông chấp thuận những yêu cầu điên rồ nhất.”


Good Morning, Good Morning


(Lennon 10)


 


McCartney: bass, lead guitar, hát bè


Lennon: hát chính, hát bè


Harrison: lead guitar


Starr:drums


Dàn kèn Sounds Incorporated: 3 saxophoness, 2 trombones, French horn


Trong khoảng thời gian 66-67, John hầu như giao phó việc điều khiển Beatles cho Paul đảm nhận. John tự nhận mình là kẻ lười nhất nước Anh, suốt ngày nằm ườn ở nhà, xem tivi, ngoài việc đến studio, John hầu như không đi đâu cả. Hiếm lắm mới thấy John rời nhà đi dạo lúc chạng vạng tối đến phòng thu hoặc đến một hộp đêm nào đó ở London. Bài “Good Morning, Good Morning” phản ánh khá đúng đắn tâm trạng và sinh hoạt của John trong thời điểm này. Tựa đề của bài hát được ảnh hưởng bởi mục quảng cáo bột ngũ cốc Kellogg’s với tiếng gà gáy và bài hát: “Good morning, good morning, the best to you each morning”. Mặc dù tựa bài hát là “Good Morning” nội dung của bài hát khá u ám và chán nản. Sau này John thú nhận rằng hình bóng của Yoko bắt đầu xuất hiện trong bài này ở đoạn “Go to the show, you hope she goes”. “The show” ở đây là những buổi triễn lãm của Yoko và lí do duy nhất của John đến đó là hi vọng có thể gặp Yoko ở đó. Bài hát này được thu âm với ảnh hưởng của album Pet Sounds. John muốn George Martin sử dụng những tiếng gia súc trong album để tạo hiệu ứng đặc biệt với điều kiện, tiếng của con vật sau phải lấn át tiếng của tiếng con vật trước. Và dĩ nhiên, yêu cầu không giống ai của John một lần nữa được ông Martin chiều theo.


A Day In the Life


(Lennon 6/McCartney 4)


 


McCartney: piano, hát chính


Lennon: acoustic guitar, lead guitar, hát chính


Starr: drums, piano


George Martin: piano


Mal Evans: piano


Dàn nhạc giao hưởng 41 người.


Đó là một buổi sáng tháng 1 năm 1967, khi nhóm Beatles đang bắt tay vào thu âm album nổi tiếng "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band". John Lennon tỉnh dậy, vớ vội lấy tờ nhật báo Daily Mail vừa đọc vừa chơi đàn piano. Giai điệu đến một cách bất chợt kết hợp một cách hài hoà với những mẩu tin tức trên báo. Lennon lẩm nhẩm hát: "I read the news today oh boy...". Hai mẩu tin gây chú ý cho John trên tờ báo hôm đó là cái chết do tai nạn giao thông của Tara Browne, người thừa kế của hãng bia Guinness, đồng thời cũng là một người bạn thân của nhóm Beatles. Tin thứ hai là về kế hoạch lấp hơn 4000 ổ gà trên những con đường vùng Blackburn, Lancashire. Thế là một cách tự nhiên, John đưa hai mẩu tin đó vào bài hát mới của mình. Phần lời còn lại về cuốn phim trong đó quân đội Anh thắng trận là những kỉ niệm của John khi đóng bộ phim "How I Won the War" năm 1966.


Ca khúc mới được tạm gọi là "In the Life of..." được viết theo kiểu "một giai điệu" (single-verse) tức là không có phần điệp khúc hoặc hợp xướng. Cảm thấy ca khúc vẫn thiếu thiếu một cái gì đó, John tìm đến Paul nhờ giúp sức. Một điều trùng hợp là Paul vừa có một đoạn của một sáng tác mới về những kỉ niệm thời còn thiếu niên tại Liverpool. Thế là hai bài hát chưa hoàn chỉnh được ráp nối với nhau bằng một đoạn 24 khuông nhạc để trống. Để tạo hiệu ứng đặc biệt, phụ tá của nhóm Beatles lúc bấy giờ là Mal Evans được phân công đếm từng ô nhịp từ 1 đến 24. Giọng đếm của Evans được khuyếch đại từ từ và tăng echo dần lên. Đến ô nhịp thứ 24, một chiếc đồng hồ báo thức được cài sẵn sẽ reng chuông để báo hiệu chuyển sang phần nhạc của Paul. Lúc đầu tiếng chuông báo thức được dự định loại khỏi bản thu âm chính thức, nhưng vì phần ca khúc của Paul bắt đầu với "Woke up, got out of bed..." nên George Martin quyết định giữ tiếng chuông báo thức lại như một sự trùng hợp ngộ nghĩnh.


Khoảng trống 24 ô nhịp giữa hai đoạn nhạc vẫn là một thách đố với cả nhóm Beatles lẫn George Martin vì nó vẫn không thể làm tròn trách nhiệm là làm cho bài hát được liền mạch. Paul McCartney đề nghị sử dụng một dàn nhạc giao hưởng 91 người để chơi một đoạn nhạc nối liền khoảng trống đó. Nhưng đối với những nhạc sĩ giao hưởng cổ điển, việc chơi ngẫu hứng là một điều cấm kị nên họ từ chối tham gia. Hơn nữa việc chi cho một dàn nhạc giao hưởng để chơi một đoạn nhạc ngắn là một điều phung phí không thể chấp nhận. Không bỏ cuộc, Paul đã thuyết phục George Martin viết một đoạn hoà âm ngắn 24 khuông nhạc và mướn dàn nhạc gồm 40 nhạc sĩ để thu âm đoạn đó. Kết quả là đoạn "cực khoái âm nhạc" được sáng tác trong đó tất cả các nhạc cụ chơi từ nốt E thấp nhất dần lên đến nốt E cao nhất mà tai người có thể nghe thấy và chơi từ nhỏ đến lớn dần. Phần hợp tấu này tiếp tục được sử dụng để kết thúc ca khúc với tiếng piano ngân dài đến 45 giây. Tiếng piano này là kết quả của ba cây piano được John, Paul,Ringo, George (Martin) và Mal Evans chơi cùng một lúc.


Ê kíp sản xuất Sgt. Pepper đã mất hơn 36 giờ để thu âm hoàn chỉnh ca khúc "A Day in the Life", một thời gian kỉ lục để thu âm một ca khúc. So với album đầu Please Please Me hoàn tất chỉ trong vòng 10 tiếng đồng hồ, "A Day in the Life" quả là một kì công trong phòng thu. Số tiền bỏ ra cũng tốn kém không ít. Riêng cho dàn nhạc 40 người, George Martin đã phải chi gần 400 bảng Anh, một số tiền không nhỏ thời đó. Đã vậy để ăn mừng, nhóm quyết định mở một party ngay tại phòng thu với tất cả các nhạc sĩ tham gia thu âm và một số khách mời như Mick Jagger, Keith Richards, Marriane Faithfull....Buổi tiệc này được thu hình làm video quảng bá cho ca khúc với các nhạc sĩ nhạc giao hưởng mỗi người đeo một chiếc mũi đỏ giả trên mũi của mình.


Sau khi ca khúc kết thúc khoảng 10 giây, người nghe có thể nghe câu "Never could see any other one!" được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là lỗi kĩ thuật khi thu âm, George Martin đã nối nhầm một cuộn băng khác vào "A Day in the Life" nhưng sau đó nhóm quyết định không xoá nó đi. Nhóm the Who trong album Sells Out phát hành vài tháng sau đó đã nhại lại lỗi kĩ thuật này bằng cách phát đi phát lại cụm từ "track records” ở cuối đĩa.Trong album "Sgt. Pepper" bài hát này đóng vai trò của một bài hát encore, tức là bài hát thêm sau khi ban nhạc đã chính thức kết thúc buổi diễn. Vì thế nó được xếp sau bài “Sgt. Pepper's reprise” để người nghe có cảm giác rằng album là một buổi diễn live thực sự.


”A Day in the Life" được đánh giá như một kì công trong lĩnh vực thu âm do sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn nhạc pop và nhạc cổ điển theo phong cách nghệ thuật tiên phong avant garde và trường phái nghệ thuật ấn tượng. Sự thành công trong việc thu âm ca khúc này đã nâng giá trị một ca khúc nhạc pop từ một nhạc phẩm mang tính thương mại cao lên tầm một tác phẩm nghệ thuật thật sự.


Sau vụ khủng bố 9.11, các đài phát thanh ở Mỹ lập ra một danh sách các ca khúc tạm thời ngưng phát để tránh chạm vào vết thương lòng của gia đình những nạn nhân, trong đó có "A Day in the Life". Đến nay, vẫn còn một số người mê tín không nghe ca khúc này khi đang lái xe vì họ cho rằng ca khúc này mang đến điềm gở.


(còn tiếp)


Nguồn: The Beatles - Nửa thế kỉ, một huyền thoại. Khảo luận của Huỳnh Chí Viễn. NXB Văn học, 11-2010.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info