MAGICAL MYSTERY TOUR (1967).
Năm 1967 là một năm đầy biến cố đối với nhóm Beatles. Bên cạnh việc thay đổi hình tượng và sự thành công vượt bậc về mặt nghệ thuật lẫn về thương mại của Sgt. Pepper, Beatles còn làm quen với môn thiền và triết lí phương Đông qua sự hướng dẫn của thiền sư Maharishi Maheshi Yogi. Tuy nhiên bước ngoặc lớn nhất của Beatles chính là cái chết bất ngờ của Brian Epstein, người có công dẫn dắt và tạo nên danh tiếng cho nhóm Beatles. Khi còn ông Epstein, nhóm chỉ việc sáng tác, thu âm và lưu diễn. Nay ông Epstein mất đi, các thành viên phải đứng trước sự lựa chọn mới hoặc là chọn một người khác làm quản lí hoặc tự đứng ra quản lí. Đây là cơ hội tốt để Paul McCartney đứng ra nắm quyền lãnh đạo. Và quyết định đầu tiên của Paul là dự án làm bộ phim Magical Mystery Tour một bộ phim theo thể loại avant-garde (nghệ thuật tiên phong). Ý tưởng làm bộ phim về một chuyến xe bus đi đến những vùng đất thần kì của Paul được hình thành sau khi Paul xem bộ phim tài liệu của nhóm hippie Merry Pranksters được nhà văn Mỹ Ken Kesey lãnh đạo. Nhóm này tổ chức những chuyến đi vòng quanh nước Mỹ trên một chiếc xe bus sơn vẽ sặc sỡ có tên là “Furthur” để quay lại tất cả những gì mình thấy được từ năm 1964 tới 1969. Một điều nữa đã tạo cảm hứng cho bộ phim này là những chuyến “mystery tour” rất phổ biến trong giới lao động ở Anh. Mystery tour là những chuyến picnic tập thể của những người ít tiền. Thường thì một người đứng ra tổ chức và thu tiền từ những người muốn tham gia. Đến hẹn, những người tham gia sẽ cùng leo lên một chiếc xe bus để đi tới một địa điểm mà chỉ có người lái xe và người tổ chức mới biết được. Với ý tưởng đó, Paul muốn làm một bộ phim không cần kịch bản và diễn viên. Tất cả mọi người trên chiếc xe bus sẽ là diễn viên và diễn biến tiếp theo của bộ phim sẽ được viết ngay trên chuyến xe bus đó.
Mặc dù chưa bao giờ viết kịch bản, đạo diễn và sản xuất phim, nhóm đã rất “can đảm” đứng ra nhận hết tất cả những việc khó khăn ấy với Paul và Ringo làm đạo diễn chính. John lúc đầu không thích dự án này lắm vì anh cho rằng Paul làm bộ phim này để thoả mãn cái tôi của mình và số tiền đầu tư 75000 bảng Anh là một số tiền khổng lồ. Tuy nhiên là một người thích phiêu lưu, nhất là về nghệ thuật, John nhanh chóng trở nên thích thú với bộ phim này. Đến khi bộ phim ra đời, Beatles gặp một cú shock lớn khi hầu hết tất cả báo chí đều chỉ trích và phê bình bộ phim không thương tiếc. Đây là lần đầu tiên từ khi bắt đầu nổi tiếng, nhóm bị phê bình nhiều như vậy, nếu không tính đến lời phát biểu gây shock của John về sự nổi tiếng hơn chúa Cứu Thế của nhóm Beatles năm 1966. Với bộ phim không đầu không đuôi ngớ ngẩn, nhóm đã chứng tỏ cho cả thế giới biết “trình độ” làm phim của mình tới đâu. Để gỡ gạt, nhóm quyết định cho ra đời album soundtrack cùng tên. Được phát hành với quyển booklet màu 24 trang với kịch bản phim được trình bày như một cuốn truyện tranh và những hình ảnh chụp trong giai quá trình làm phim, album này trái lại lại đạt được thành công đáng kể. Ở Anh, Magical Mystery Tour được phát hành dưới dạng EP với ba bài hát mỗi mặt. Ở Mỹ, MMT được nâng cấp lên thành một album với sáu ca khúc trong phim ở mặt A và 5 bài hát tổng hợp từ những single đã phát hành trước đó.
Magical Mystery Tour
(McCartney 9/ Lennon 1)
McCartney: Bass, piano, hát chính
Lennon: acoustic guitar, hát bè
Harrison: lead guitar, hát bè
Starr: drums, tambourine,
Dàn nhạc đệm: 3 trumpets
Paul có ý tưởng về bộ phim “Magical Mystery Tour” trên chuyến máy bay từ Denver về London. Khi trở về phòng thu với cái tựa “Magical Mystery Tour”, Paul bắt đầu thể hiện vai trò lãnh đạo của mình qua việc bắt Mal Evans đi tìm những poster quảng cáo để làm cảm hứng sáng tác. Sau hai tiếng đồng hồ tìm kiếm Mal trở về tay không vì không tìm được những mẩu quảng cáo mà Paul muốn. Thế là Paul bắt đầu bắt các thành viên khác và cả những kĩ sư thu âm đóng góp bất cứ những cụm từ nào mình nghĩ ra để viết bài hát và Mal Evans có nhiệm vụ ghi lại tất cả những ý tưởng. Những cụm từ đựoc Paul chọn bao gồm “ trip of a lifetime”, “satisfaction guaranteed” “reservation”, “invitation”. Sau đó Paul mang đống lộn xộn ấy về nhà ghép lại thành bài hát hoàn chỉnh. Đến khi thu âm, Paul đứng ra chỉ đạo và sắp đặt việc thu phần nhạc nền với các nhạc sĩ phòng thu trong khi John, George và Ringo ngồi ngoài phòng tập chờ tới phiên mình. Sau khi phần nhạc đệm đã thu xong, Paul mới cho gọi ba tay Beatles còn lại vào và chỉ đạo tiếp việc thu âm thế nào cho vừa ý mình.
The Fool on the Hill
(McCartney 10)
McCartney: piano, flute, hát chính
Lennon: harmonica, maracas,
Harrison: lead guitar, harmonica
Starr: finger cymbals.
Theo Alistair Taylor, Paul viết bài này trong thời gian thu âm Sgt. Pepper cùng một lúc với “With a Little Help From My Friends” nhưng mãi đến cuối năm 67 mới đưa vào album MMT. Ngoại cảnh của bài hát này được quay ở Nice, Pháp. Trong khi nhóm Beatles đang bận rộn làm phim ở London, Paul lẳng lặng bỏ sang Pháp để quay cảnh này một mình. Do vội vã, Paul quên mang theo passport và tiền mặt. Vì quá nổi tiếng, nên Paul được hải quan cho lên máy bay với điều kiện hộ chiếu phải được gửi tới Pháp trong ngày. Khi đến Pháp, Paul phát hiện mình không có tiền mặt trong người và ống kính thích hợp dùng để quay ngoại cảnh cũng không mang theo nốt. Paul phải điện về gấp cho trợ lí Peter Brown gửi gấp tiền, hộ chiếu và ống kính sang Pháp để quay. Điều này làm cho chuyến đi bí mật của Paul bị bật mí, và dĩ nhiên làm phật lòng các Beatles khác. Chi phí cho cảnh quay Paul trên đồi ở Nice ngốn hết 4000 bảng Anh. Tuy nhiên, mặc cho những phiền toái kể trên, bài hát này là một trong bài hát của Paul được John ưa thích.
Flying
(Lennon 2,5/ McCartney 2,5/ Harrison 2,5/ Starkey 2,5)
McCartney: guitar,
Lennon: Mellotron
Harrison: guitar,
Starr: drums, maracas.
Còn được biết đến với cái tên “Aerial Tour Instrumental” bài này là bản hoà tấu duy nhất Beatles thu âm trong thời gian kí hợp đồng cho hãng Parlophone và là bản hoà tấu thứ ba mà nhóm sáng tác. Hai bài đầu là “Cry for a Shadow “ của John và George và bài “12-bar original” viết năm 1965 nhưng không được thu âm, đến năm 1969, George đặt lời cho bài này và gọi nó là “For You Blue”. Đây cũng là bài duy nhất tác quyền chia đều cho cả bốn thành viên.
Blue Jay Way
(Harrison 10)
McCartney: bass, hát bè
Lennon: tambourine
Harrison: Hammond Organ, hát chính và hát bè
Starr: drums
Nhạc công: cello
George viết bài này khi đang ở Hollywood cùng với Pattie, Neil Aspinall và Alex Mardas. Khi đến LA, George thuê căn hộ trên đường Blue Jay, một con đường nhỏ bên hông đại lộ nổi tiếng Sunset Boulevard để ở. Derek Taylor, nhân viên lo việc báo chí của Beatles cũng đến Hollywood chỉ sau George vài tiếng. Khi tới nơi, Derek gọi điện cho George để hỏi đường đến chỗ của George, George bảo rằng nếu không tìm được thì cứ hỏi cảnh sát. Rủi thay, đêm đấy lại có sương mù dày đặc và con đường Blue Jay là một con đường cực kì khó kiếm nên Derek Taylor bị lạc suốt vài tiếng đồng hồ. Trong thời gian chờ đợi, George đã sáng tác bài “Blue Jay Way” trên cây đàn Hammond organ có sẳn trong nhà. Mặc dù chỉ đơn giản là một bài hát viết về việc chờ đợi, nhưng từ khi nhóm Beatles cho ra đời album “Sgt. Pepper”, hầu như các bài hát của nhóm đều bị mổ xẻ xem có chứa những thông điệp ngầm nào không và dĩ nhiên bài này cũng thế. Câu “please don’t be long” (xin đừng đến trễ) được nhiều người hiểu theo nghĩa “please don’t belong (to the society)” và câu “and my friends have lost their way” được xem như một lời ám chỉ về giới hippie, the lost generation. Trong phần phim minh hoạ bài này, George ăn mặc như một người hát rong ngồi dưới đất với cây đàn organ vẽ bằng phấn trên mặt đất và dòng chữ “tôi có hai vợ và một con phải nuôi”.
Your Mother Should Know
(McCartney 10)
McCartney: bass, piano, hát chính và bè
Lennon: organ, hát bè
Harrison: tambourine, tabla, hát bè
Starr: drums
Paul viết bài hát mang tính hoài cổ này vào tháng 5/67 theo phong cách ragtime và big band, thể loại mà ông Jim McCartney thường chơi lúc còn trẻ để làm vui lòng hai vợ chồng người cô Gin và dượng Harry khi họ đến chơi London và ở nhà của Paul. Trong bộ phim MMT, bài này được dùng làm cảnh kết với nhóm Beatles mặc áo đuôi tôm trắng từ trên cầu thang đi xuống. Trên áo của John, George và Ringo đều cài một bông hoa cẩm chướng màu đỏ trong khi hoa của Paul lại màu đen. Điều này khiến cho tin đồn vế cái chết của Paul càng được củng cố.
I Am the Walrus
(Lennon 10)
McCartney: bass, hát bè
Lennon: Melotron, hát chính
Harrison: tambourine, hát bè
Starr: drums
Dàn nhạc phòng thu: 8 violins, 4 cellos, 3 horns
Dàn đồng ca thiếu nhi: 6 nam hát đoạn “Oompah, oompah, stick it up your jumper” và sáu nữ hát đoạn “everybody’s got one”
Một ngày năm 1967, John nhận được một bức thư do một học sinh trường Quarry Bank gửi bảo rằng các học sinh ở Quarry Bank được thầy giáo dạy môn văn bắt phân tích lời các ca khúc của Beatles. Điều này khiến John cảm thấy thú vị. Anh cùng với Pete Shotton cùng ngâm nga lại bài đồng dao lúc còn học ở Quarry Bank “ Yellow Matter Custard/ green slop pie/ Mix together with a dead dog’s eye/ slap it on a butty, ten foot thick/ then wash it down with a cup of cold sick”. Đó là nguồn cảm hứng để John sáng tác “I am the Walrus.” Giai điệu của bài hát được kết hợp từ ba bài hát dang dở của John, một bài dựa trên tiếng còi xe của cảnh sát tuần tra với câu “mister city police” phát ra từ loa phóng thanh của xe cảnh sát. Bài thứ hai là đoạn “sitting in an English garden” viết về ngôi vườn của John và bài cuối cùng là một bài hát vô nghĩa gồm những từ vớ vẩn kiểu “elementary penguin”, “selmolina pilchard”, “texpert, “clabalocker” ghép lại với nhau. Phần điệp khúc “ I am the eggman/ I am a walrus” lấy cảm hứng từ bài thơ “The Walrus and the Carpenter” của nhà văn viết truyện thiếu nhi Lewis Carroll, tác giả của “Alice trong xứ thần tiên” mà John rất thích. Theo những người từng quen biết John, “elementary penguins singing Hare Krishnar” ám chỉ nhà thơ của trào lưu Beat rất nổi tiếng thời bấy giờ là Allen Ginsberg, người đã tụ tập một đám đông người qua đường và dạy họ cách tụng kinh Hare Krishna. “Eggman” là biệt danh của Eric Burdon, ca sĩ chính nhóm Animals, người có một thói quen khá quái đản là đập những quả trứng sống trên mình các cô gái cùng qua đêm với anh rồi liếm sạch. Còn “Selmolina Pilchard” theo Marianne Faithful chính là trung sĩ Norman Pilcher, người có công truy quét các buổi tụ tập hút hít của giới nghệ sĩ ở London. Mick Jagger, Keith Richards của nhóm Stones và ngay cả John và Yoko sau này đều là nạn nhân của những buổi càn của trung sĩ Pilcher. Điều đáng nói là trong thập niên 70, chính ông này lại vào tù ngồi bóc lịch vì tội tàng trữ và sử dụng ma tuý. Cũng như “Lucy in the Sky with Diamonds”, bài hát này là một bài hát hoàn toàn vô nghĩa gồm những hình ảnh siêu thực ghép lại với nhau. John cho rằng nếu Bob Dylan được ca ngợi với những ca khúc kiểu này thì tại sao mình không làm theo. Bài hát này mất cả tháng trời mới thu âm xong vì ông George Martin muốn tìm những nhạc cụ có thể hỗ trợ một cách hoàn hảo nhịp điệu và dòng chảy của những từ ngữ mang tính hình tượng của John.
THE BEATLES (WHITE ALBUM) (1968)
Sau ba tháng khi tung ra đĩa đơn “Hey Jude/ Revolution” và hơn 18 tháng khi album Sgt. Pepper ra đời, Beatles làm dịu cơn khát của người hâm mộ bằng một album đôi với bìa đĩa màu trắng tuyền với hơn 94 phút âm nhạc. Hầu hết các ca khúc trong album này đều được nhóm sáng tác trong thời gian ở Rishikesh, Ấn Độ để học khoá tham thiền của thiền sư Maharishi Maheshi Yogi. Ước tính có hơn 40 ca khúc được viết trong thời gian đó, và 23 bài được sử dụng cho White Album. Nhiều bài như “Something”, “Long and Winding Road”, “Polythene Pam”, “Mean Mr. Mustard” xuất hiện trong album Abbey Road. “Child of Nature”, “Look at Me” của John, “Teddy Boy” và “Junk” của Paul, “Circles” và “Not Guilty” của George sau này đều được các thành viên thu âm trong những album solo của mình khi Beatles tan rã. Những bản thu mộc bằng guitar của những ca khúc nói trên sau này được tổng hợp trong album “Anthology” cùng với những bài hát không được phát hành của nhóm.
Được sự đón nhận nồng nhiệt của các fan và những lời đánh giá tốt từ phía các nhà phê bình do sự đa dạng về mặt âm nhạc, album the Beatles hay còn được biết đến với cái tên album trắng lại là cột mốc đánh dấu cho sự tan rã của nhóm. Trước hết, lí do Beatles cho ra đời một album đôi là vì nhóm muốn nhanh chóng kết thúc hợp đồng với hãng NME để có thể theo đuổi sự nghiệp riêng. Trước khi White Album được phát hành, George đã phát hành album soundtrack của bộ phim Wonderwall còn John thì cùng với Yoko cũng cho ra một album mang tính thử nghiệm với bìa đĩa chụp hai người trong tư thế khoả thân 100% Unfinished Music Vol. 1: Two Virgins. Thứ hai, không khí khi thu album rất căng thẳng giữa các thành viên với nhau nhất là việc Paul càng ngày càng lấn lướt các thành viên khác. George và Ringo thường xuyên than phiền rằng Paul đã sử dụng mình như những nhạc công phòng thu không hơn không kém. George Harrison phát biểu: “Paul thường tỏ ra thương hại và đề nghị giúp đỡ thu một ca khúc của tôi sau khi tôi đã phải chìu lòng thu 10 bài của anh ấy. Thật là ích kỉ”. Còn Ringo thường đến phòng thu chỉ để chơi bài với Mal Evans và Neil Aspinall. Thậm chí, phần đệm trống của Ringo trong các bài hát phần lớn đều được Paul thu lại khi mọi người ra về. Sau một thời gian giả vờ “mắt lấp tai ngơ”, Ringo đã bỏ phòng thu ra về giữa một lần thu âm do không chịu được sự can thiệp quá đáng của Paul. Anh ở lì ở nhà suốt tuần lễ và nói với Maureen rằng nhóm Beatles không cần mình nữa. Để cố gắng xoá đi những bất hoà, John và Paul đã viết thư xin lỗi, gọi Ringo là tay trống giỏi nhất thế giới và phủ đầy hoa tươi lên dàn trống của anh ngày Ringo trở lại phòng thu. Cũng trong thời gian đó, Geoff Emerick, kĩ sư thu âm của nhóm, người đóng góp không ít cho những thành công của các abum trước, cũng nói lời chia tay.
Một điều quan trọng nữa gây nên sự bất đồng sâu sắc nội bộ Beatles là sự xuất hiện thường trực của nhân vật mà ai cũng ghét, Yoko Ono. Sau khi đã chiếm được John, người đàn bà Nhật này luôn cặp kè với anh như hình với bóng mọi lúc mọi nơi, thậm chí cả khi John đi vào nhà vệ sinh. Cho đến thời điểm trước khi Yoko xuất hiện, nhóm Beatles có một qui luật bất thành văn là không để cho bạn gái hoặc vợ vào phòng thu khi nhóm đang làm việc vì sợ mất tập trung. Giờ thì John phá lệ bằng cách để Yoko mang cả giường ngủ vào trong studio khiến các con bọ khác cảm thấy vô cùng chướng tai gai mắt. Nhiễu sự hơn, Yoko luôn cho mình cái quyền góp ý phê bình cách chơi của mỗi người trong khi mình không hiểu gì lắm về nhạc rock. George và Paul không hề giấu giếm sự hằn học của mình đối với Yoko và luôn tìm cách để bày tỏ sự bất mãn đó bất cứ khi nào có thể. Ringo mặc dù nhũn nhặn hơn nhưng cuối cùng cũng không chịu được. Anh đến gặp John trực tiếp và hỏi thẳng rằng có nhất thiết phải mang Yoko vào phòng thu không. Đáp lại, John chỉ trả lời gọn lỏn: “Hoặc là tôi đến phòng thu với Yoko, hoặc là tôi sẽ không đến nữa!”. Mối bất hoà giữa các thành viên càng rõ nét khi nhóm tự ý mời những nhạc sĩ khác vào thu âm cho ca khúc của mình mà không thông qua các thành viên trong nhóm. Nhiều bài hát trong album được Paul, John và George thu âm một mình mà không có sự giúp đỡ của những người còn lại.
Được thu âm từ ngày 30/5/68 đến ngày 14/10/68, Album Trắng là album mất nhiều thời gian thu âm nhất của Beatles. Trung bình mỗi bài hát mất khoảng 30 tiếng đồng hồ thu âm và mix. Trong thời gian thu âm, ông George Martin đi nghỉ mát ba tháng, do đó phần lớn các bài hát được giao cho trợ lí của ông là Chris Thomas phối. Ông Martin thấy việc cho ra đời một album đôi là khá phiêu lưu vì theo ông một số bài trong album không đủ chất lượng. Ông tìm mọi cách để thuyết phục John và Paul chọn lại những bài hát thực sự đủ tiêu chuẩn để cho album một album đơn nhưng bị từ chối. Nhưng cũng vì như thế mà người nghe được thưởng thức tài năng của Beatles một cách trọn vẹn hơn. Mặc dù ít tính thử nghiệm và không nhất quán bằng Revolver hay Sgt. Pepper, Album Trắng thể hiện được tính đa dạng về thể loại. Những người thích thể loại rock nặng sẽ được thoả mãn với “Back in the USSR”, “Birthday”, “Helter Skelter”, và “Why Don’t We Do It in the Road”, còn với những người thích những bản ballad acoustic guitar nhẹ nhàng thì lại tìm thấy được những bài theo đúng gu của mình như “Dear Prudence”, “Blackbird”, “Mother Nature’s Son”, “Julia” và “I Will”. Nhúng nhảy một chút với phong cách reggae vùng Caribean? Say “Obladi-blada” nào! Nhạc pop kiểu thập niên 40? “Honey Pie” là thích hợp nhất. Muốn có tí thời gian để suy gẫm về thế sự hay nội tâm? Đã có “I’m So Tired”, “Sexy Sadie”, hoặc “Long, Long, Long”. Châm biếm và đùa vui cho bớt căng thẳng? Nghe “Piggies” và “Savoy Truffle” nhé! Còn như ai thích những bản psychedelic kiểu hơi ‘điên điên” đúng chất của John thì đã có “Glass Onion”, “Bungalow Bill”, “Happiness is a Warm Gun”. Điên năng hơn? “Revolution 9” và “Wild Honey Pie” hi vọng sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn. Fan của thể loại electric blues thì không thể bỏ qua ca khúc bất hủ “While My Guitar Gently Weeps” của George với tiếng đàn trên cả tuyệt vời của Eric Clapton và “Yer Blues”, một bài blues “sầu thảm và đen tối” của John. Muốn nghe country thì chọn “Rocky Raccoon” của Paul hoặc “Don’t Pass Me By”, một sáng tác hiếm hoi của Ringo. Và sau khi đã thoả mãn với khu vườn âm nhạc đầy màu sắc này rồi thì hãy để Ringo ru bạn ngủ với một “Good Night” thật thanh thoát.
Ý tưởng về một bìa đĩa trắng tinh là của nghê sĩ Richard Hamilton. Theo ông nhóm nên đánh số thứ tự cho những album phát hành đầu tiên để mọi người sưu tập như một tác phẩm nghê thuật kiểu avant-garde. Paul tiến xa hơn một bước, muốn tổ chức một cuộc xổ số qua những album nhưng sau đó lại rút lại ý kiến trên vì anh cho rằng làm như vậy “thưong mại” quá. Bên trong bìa đĩa là hình bốn thành viên chụp riêng, một tờ poster khổ lớn với lời của các bài hát và những bức hình nhỏ chụp các thành viên Beatles. Đây cũng là lần đầu tiên nhóm Beatles xuất hiện trên hình theo từng cá nhân chứ không chụp chung với nhau. Mal Evans và Neil Aspinall được giao nhiệm vụ chọn hình còn việc sắp xếp thì giao cho Jeremy Banks. Không biết vô tình hay cố ý mà trong phần hình ảnh có cả một tấm hình John hoàn toàn nude ngồi nghe điện thoại với Yoko nằm bên. Điều này diễn ra khi sự cố về bìa đĩa Two Virgins còn chưa lắng xuống đã tạo nên một scandal nho nhỏ.
Được phát hành ở Anh ngày 22/11/68, album lên hạng nhất năm ngày sau đó và đứng tại vị trí này 9 tuần liên tiếp. Tại Mỹ, album đã được đặt hàng gần 2 triệu bảng trước ngày phát hành. Cũng trụ hạng nhất suốt chin tuần, album bán được trên 4 triệu bản chỉ trong tháng đầu tiên phát hành. Đến năm 1970, con số bán ra lên đến 6,5 triêu bản khiến album này trở thành album đôi có số lượng phát hành cao nhất trong thập niên 60. Năm 2003, Rolling Stone xếp album Trắng hạng 10 trong số 500 album vĩ đại nhất mọi thời đại.
(còn tiếp)
Nguồn: The Beatles - Nửa thế kỉ, một huyền thoại. Khảo luận của Huỳnh Chí Viễn. NXB Văn học, 11-2010.
www.trieuxuan.info
|