169. Người trên cung trăng
Ngày xửa ngày xưa có một người đàn ông đi đốn củi trong rừng vào sáng Chủ nhật. Người đàn ông cột củi thành bó lớn rồi quẩy lên lưng đi về nhà.
Dọc đường người tiều phu gặp một người đàn ông khác ăn mặc gọn gàng, đẹp, hình như người này định đi cầu kinh ở nhà thờ. Người này đứng lại và nói với người tiều phu:
– Anh không biết là trên đời này còn có ngày Chủ nhật. Ngay cả Chúa ngày này cũng nghỉ ngơi, sau khi đã tạo ra muôn loài và trái đất! Anh không biết là điều ba Kinh Thánh có dặn, ngày nghỉ phải đi cầu kinh kính Chúa.
Người vừa nói chính là đức Chúa kính yêu. Người tiều phu không biết, cứ nghĩ thế nào nói vậy:
– Chủ nhận trên trần gian hay thứ hai trên thượng giới, điều đó có can hệ gì tới tôi! Mà cũng chẳng can hệ gì tới anh!
– Vậy thì anh cứ suốt đời quẩy củi, nếu anh không thấy quý ngày Chủ nhật. Vậy cả đời anh ngày ấy là ngày thứ hai! Và cứ đứng quẩy củi cả đời trên cung trăng! Điều đó để cảnh tỉnh những người vẫn làm ngày Chủ nhật, không biết quý ngày nghỉ ấy.
Từ ngày ấy ở trên cung trăng có người đàn ông đứng quẩy củi, ngày nay và chắc chắn mai sau người ấy vẫn còn đứng đó.
170. Những con vật biết ơn
Có một người đi trẩy hội, đi qua cánh rừng kia người này nghe thấy hình như quanh đây có tiếng người, ngó quanh thì thấy gần đường có một cái hố bẫy chó sói, tới gần ngó xuống thì thấy ở dưới hố có một người, một rắn hổ mang, một rắn nước và một con khỉ, tình cờ cả bốn rơi hố. Người đi trẩy hội nghĩ bụng:
“Hãy ra tay cứu giúp những kẻ khốn khó, đó là một việc thiện”.
Người này nghĩ mình trước hết hãy cứu người đàn ông kia ra khỏi hố, ném dây thừng xuống hố, nhưng con khỉ túm ngay được dây đi lên trước, rồi đến con rắn nước và rắn hổ mang. Lên tới miệng hố cả ba con vật đứng thành hàng cám ơn người cứu chúng và nói:
– Ông đã làm việc thiện, cứu chúng tôi khỏi cảnh khốn nguy, chúng tôi không bao giờ quên ơn này. Chúng tôi ở cũng gần đây, nếu có gì cần, xin ông cứ gọi chúng tôi, chúng tôi sẽ gắng hết sức mình thực hiện điều ông muốn. Nhưng chúng tôi cũng xin chân tình nói với ông rằng không có ai bội bạc bằng người thợ kim hoàn đang ở dưới hố. Điều đó chúng tôi biết rất rõ, chúng tôi nói lại để ông biết, để ông tùy nghi xử trí.
Nói xong chúng chào tạm biệt ân nhân của mình. Người này nghĩ mình còn trách nhiệm cứu giúp người đang ở dưới hố, ném dây xuống, kéo người thợ kim hoàn lên.
Người thợ kim hoàn hết lời ca ngợi lòng nhân từ của ân nhân mình, còn ân cần mời đến thăm mình ở trong cung vua. Nói xong rồi người thợ kim hoàn chào ra đi.
Người kia tiếp tục cuộc hành trình của mình. Tới gần cung điện nhà vua thì người này chân tay thấy rã rời, người mỏi mệt, dừng chân nghỉ. Cạnh cung điện chính là chỗ ở của khỉ, rắn nước và rắn hổ mang. Chúng hết sức vui mừng khi gặp lại ân nhân của mình. Khỉ mang ngay những quả vả chín ngọt tới biếu, rắn nước dẫn ông tới một cái hang thoáng mát để nghỉ, nó nằm canh gác ngay trước cửa hang. Trông thấy rắn nước to không ai dám tới gần cửa hang. Còn rắn hổ mang thì trườn lách vào trong kho của nhà vua lấy một ít đồ trang sức bằng vàng, đem biếu ân nhân của mình để tỏ lòng biết ơn. Người đi trẩy hội nhận mà không hề suy nghĩ gì cả. Hết mệt, ông đứng dậy chào khỉ, rắn nước và rắn hổ mang và tiếp tục lên đường. Tới kinh thành, ông tìm đến chỗ người thợ kim hoàn, nói muốn bán chỗ đồ trang sức của nhà vua. Hắn chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng đi báo nhà vua rằng hắn đã bắt giữ được kẻ ăn cắp vàng trong kho. Nhà vua thưởng cho hắn rất hậu. Nhà vua sai bọn cai ngục đến bắt người hành hương kia, đánh cho nhừ tử rồi dẫn ra giá treo cổ. Giờ đây ông mới nghĩ tới lời khuyên của mấy con vật khi trước. Vừa đi ông vừa la:
– Thật khổ thân tôi! Giá tôi nghe theo lời khuyên chân tình của mấy con vật kia thì đâu đến nông nỗi này!
Nhà ở của rắn hổ mang ở ngay bên đường ra giá treo cổ. Nghe thấy tiếng than phiền của người đàn ông vô tội kia, rắn thấy mình cũng có lỗi trong chuyện này, nó đăm chiêu suy nghĩ tìm cách cứu.
Để răn đe hoàng tử nên nhà vua cho người dân hoàng tử ra coi việc hành án tên ăn trộm. Khi hoàng tử cùng đoàn tùy tùng đi qua, rắn trườn nhanh ra cắn vào chân hoàng tử, chỉ một lát sau chỗ bị cắn sưng tấy đỏ lên. Mọi người đều hoảng hốt, cho người đi mời ngự y, những nhà chiêm tinh. Thầy thuốc lấy thuốc giải độc, một loại thuốc mỡ dùng thoa vào chỗ rắn cắn – nhưng thuốc vô hiệu quả. Những nhà chiêm tinh thì chăm chú ngước nhìn các vì sao, rồi họ nói người hành hương kia là vô tội. Bỗng nhiên từ miệng hoàng tử lại thốt ra lời nói:
– Hãy đem tên hành hương kia lại đây, nếu nó đưa bàn tay thoa lên vết thương, chỗ sưng tấy tự nhiên xẹp xuống và vết thương sẽ lành!
Bọn cai ngục dẫn người tử tù tới trước mặt vua. Nhà vua hỏi nguyên cớ, người tử tù kể trung thành lại đầu đuôi câu chuyện cho nhà vua nghe, kể về những con vật tử tế biết ơn, về sự bội bạc của người thợ kim hoàn, người mà chính tay mình đã cứu khỏi bàn tay của thần chết. Kể xong ông ngước mắt nhìn lên trời, hai tay giơ cao khấn:
– Lạy đấng tối cao, nếu thực tình con là kẻ vô tội trong chuyện này, xin người cho con thoa tay lành vết thương cho hoàng tử!
Lời nói vừa dứt, bàn tay ông thoa lên vết thương, chỗ sưng tấy xẹp xuống và lành lặn như cũ.
Chính mắt mình nhìn thấy toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối, nhà vua hết sức vui mừng, và ban thưởng cho người hành hương kia rất nhiều châu báu cùng chỗ đồ trang sức bằng vàng. Nhà vua ra lệnh đem tên thợ kim hoàn bội bạc nguy hiểm lên giá treo cổ.
Nguồn: Hợp tuyển Văn học Đức tập 1. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học, 2005.
|