Thế mới biết sức mạnh của những lời xu nịnh khôn khéo. Nó đánh đổ cả những cán bộ có bản lĩnh như ông Lạc Việt. Chỉ mấy hôm sau trong một buổi họp thường kỳ của những cán bộ có cương vị lãnh đạo mà ông được mời, ông đã mạnh mẽ cải chính những tin đồn không đúng về Lê Phú, tích cực bênh vực anh là người “có đức, có tài, làm lâu đời trong lĩnh vực quản lý cán bộ khoa học kỹ thuật, cần phải được sử dụng đúng mức, không lãng phí tài năng”. Người ta thấy không còn ai phản đối ý kiến của ông. Một số người do dự thì không đủ lý luận và bằng chứng để cãi lại ông. Thế là cái quyết định đề bạt Phú đã bỏ lửng nửa năm hầu như người ta gần quên bẵng bỗng được giải quyết nhanh chóng. Trước khi đưa cấp trên ký người ta cũng còn cẩn thận, theo đúng thủ tục hình thức để không còn ai bắt bẻ nổi, hỏi ý kiến một vài cán bộ khoa học kỹ thuật gần gũi. Phó tiến sĩ Kình mới được đề bạt nên cũng bất ngờ được hỏi ý kiến. Thế là một bản sao dự thảo quyết định được chuyển đến tay Kình. Kình đọc xong tờ công văn bỗng toát cả mồ hôi. Lê Phú mà lại được đặt lên cái vị trí này thì có khác gì ngôi sao “Tuần, Triệt” ám ngay trước mặt cung Mệnh của Kình. Nó mà tố giác cái việc cũ ra thì chết! Cả đêm Kình trằn trọc không ngủ. Thì ra cái cơ chế lùng nhùng dày đặc các cấp trung gian này đã tạo ra nhiều đường ngang ngõ tắt có lợi cho Kình nhưng lại cũng tạo cả ra những cái bất lợi không ngờ. Nó kìm hãm lẫn nhau, rồi sẽ làm cho Kình đến suy nhược thần kinh cho mà xem! Những ngày hôm sau Kình tìm hết cách góp ý kiến với các cấp để bác bỏ Phú. Nhưng mà những lý do Kình nêu ra đều đã quá cũ, đều đã bị ông Lạc Việt, một cán bộ có tầm cỡ và có lý luận chặt chẽ hơn hẳn Kình một cái đầu bác bỏ rồi. Hơn nữa người ta đang cần người bổ sung về cái vụ quan trọng ấy, người ta chờ đợi và đã cân nhắc quá lâu nên ý kiến của Kình trở thành lạc điệu, chẳng được ai chú ý đến. Anh ta nghĩ ngay ra một mưu “biến họa thành phúc”. Buổi tối Kình đến nhà thăm Phú, mang theo bản sao dự thảo quyết định trong cặp. Kình tươi cười nói những câu xã giao “gọi là lâu ngày đến thăm sức khỏe anh chị”. Phú biết là Kình vừa được đề bạt lên chức quyền vụ trưởng một vụ quan trọng nên cũng có vẻ nể, nhưng anh ta vẫn tỏ vẻ lạnh nhạt, miễn cưỡng mời Kình ngồi. Chị vợ thì không thèm trả lời, nguýt thầm một cái rõ dài rồi đi vào nhà trong. Kình mặc kệ, lặng lẽ lục cặp rút tờ công văn hỏi ý kiến dự thảo đề bạt Phú, chìa ra trước mặt Phú: “Anh đọc đi, đọc đi! Tôi vừa được điều lên cơ quan mới công tác là tôi đã nghĩ ngay đến anh. Có cơ hội là tôi đề cử anh luôn. Vào vị trí này chỉ có anh là xứng đáng. Đây, công văn cấp trên hỏi ý kiến tôi về anh. Đây là ý kiến đề nghị của tôi và cả bản dự thảo quyết định về anh, tôi đã chuẩn bị. Hôm nay chỉ còn việc đến hỏi ý kiến anh cho chắc chắn. Đồng ý thì ngày mai tôi đưa nộp cấp trên. Chỉ vài ngày sau là anh có quyết định chính thức”.
Phú đọc chăm chú các giấy tờ Kình đưa, bỗng hai bàn tay run bắn lên, trống ngực đập dồn dập. Phú xúc động quá. Sự việc đến đột ngột làm cho Phú trở nên luống cuống trước mặt Kình. “Gớm, tay này lại hóa ra to!”, Phú nghĩ thầm. Phú thay đổi hẳn thái độ, từ chỗ lạnh nhạt trở nên vồn vã: “- Chú... chú làm tôi... cảm động quá! Không thể ngờ được là chú... lại tốt với tôi đến thế. Thôi chuyện cũ ta nên cho qua đi. Về cái vụ đối với cháu Quý chú đừng để tâm làm gì nữa...”. Phú còn định nói thêm nhưng Kình đã giải thích lại: “- Việc cháu Quý trước đây, tôi đã nói rõ với anh rồi. Tôi đã nói hoàn toàn sự thật đấy. Tôi đã nhận thay tội để cứu nó, để giữ sĩ diện cho nó trước dư luận! Thế mà anh vẫn nghi oan cho tôi. Nhưng cũng không phải điều uất ức cũ mà tôi lại trả thù anh bây giờ. Tôi vẫn báo cáo cấp trên anh là một cán bộ vững vàng, có nhiều kinh nghiệm”.
“- Chú làm như thế là đúng. Thời buổi này càng cần những người có kinh nghiệm, không thì họ phá hết, cái gì họ cũng “đổi mới” là họ phá hết. Bây giờ tôi càng hiểu chú, càng quý chú hơn. Còn chuyện cũ... hồi ấy tôi nghe chú thanh minh, tôi cũng đã... đã thấy sáng ra!”. Lúc Kình ra về Phú bắt tay anh rõ chặt khác hẳn mọi khi. Lòng Kình mừng thầm là đã triệt tiêu được một mối lo. Anh đã chuyển được oán thành ơn. Phú từ nay sẽ biết ơn anh đến già, vị trí của anh càng thêm vững.
Giáo sư Hoàng nhấm nháp chén trà hương bà y tá mới đưa vào, nét mặt ông đăm chiêu như đang nhớ lại cả một quá khứ oanh liệt ông đã trải qua. Thanh Bình thì vẫn chưa hết thắc mắc. Anh nói:
- Đề bạt những con người ấy thì không biết họ sẽ biến đất nước này thành ra cái gì?
- Anh đừng lo, - Giáo sư gạt đi - dù sao thì những người chân chính, những người trăn trở vì sự nghiệp chung, những bộ óc đổi mới có trí tuệ theo tôi vẫn còn chiếm đa số trong hàng ngũ chúng ta. Vấn đề là phải cải tiến bộ máy để họ phát huy được tác dụng.
- Đúng thế, nhưng bộ máy mà cứ thêm mãi những người như Lê Phú, như ông Kình thì làm sao mà cải tiến cho lại!
- Anh lại biểu hiện sự nôn nóng quá rồi, anh Bình ạ. Không có anh Phú và anh Kình này thì ắt lại sinh ra một anh Phú và một anh Kình khác mà thôi. Nó là “âm dương” của nhau đấy mà. Anh là người nghiên cứu về lý thuyết âm dương mà anh quên rồi sao? Chính tôi học được điều này trong cuốn sách của anh đấy.
Giáo sư làm cho Thanh Bình đỏ cả mặt. Đúng là suy nghĩ của anh có phần hơi cực đoan. Giáo sư đã đến độ chín hơn anh về lý luận. Chính anh đã thuộc lòng cái nguyên lý cổ xưa “không có cô âm hay độc dương”, sự vật nào cũng có hai chiều hay là sự đối xứng nội tại của nó. Chính cái đó làm cho sự vật tồn tại, tránh rơi vào sự hỗn loạn và hủy diệt! Làm gì lại có một bộ máy chỉ có toàn những con người tiến bộ. Nếu có, tự nó cũng chuyển hóa thành “âm dương” của nhau. Thanh Bình cũng đã từng biết điều đó. Thiếu gì những con người ngoài đời thì thao thao bất tuyệt vì sự nghiệp đổi mới, vì sự tiến bộ của xã hội, vì sự giải phóng khả năng trí tuệ của con người nhưng đến khi đã được một chức vụ cao nào đó thì họ lại trở thành kẻ bảo hoàng hơn cả nhà vua. Chính họ lại là trở ngại cho sự nghiệp đổi mới. Nghĩ đến đó anh buột miệng đọc: “Chân lý tan ra thành bụi khói. Tiến dần từng phần ngàn ly mét, khó nhọc để trường tồn. Địa ngục và Thiên đường, hai mặt thực hư vây cõi Phật! Nhưng lý thuyết thi nhau làm vẩn đục! Giá trí tuệ thời gian...”.
Giáo sư Hoàng uống cạn chén trà bỗng lên tiếng:
- Anh nên biết rằng lịch sử chẳng thiếu gì những con người có tư tưởng đổi mới, tư tưởng cách mạng bị những kẻ thủ cựu đả kích, bị vu khống và vô hiệu hóa, thậm chí còn bị tiêu diệt. Trong khoa học không thiếu gì, nào Cô-péc-ních, Ga-li-lê, Mang-đen, Moóc-găng. Trong chính trị, xã hội thì lại càng không thiếu. Đến Khổng Tử, Trang Chu ngày xưa cũng chẳng được người đời trọng dụng. Ngay cả đức chúa Christ cũng chỉ vì những tư tưởng đổi mới xã hội và tôn giáo mà bị đóng đinh trên cây thập tự. Anh có nhớ không, giữa lúc xã hội Do Thái đương thời đầy rẫy những hủ tục đè nặng lên đầu người dân thì ông xướng lên việc cải cách nó, chỉ cần thờ một mình Đức Chúa không cần đến chế độ thờ đa thần phiền hà, cúng tế chỉ cần đèn nến không cần đến cỗ bàn linh đình; đàn ông đang được quyền năm thiếp bảy thê thì ông xướng lên chế độ một vợ một chồng, giữa lúc tục lệ cưới xin quá phiền hà tốn kém đến nỗi người dân nghèo không thể lấy được vợ thì ông xướng lên việc cưới hỏi chỉ cần đến làm lễ tại nhà thờ là xong. Lại còn bao nhiêu là những chuyện cải cách khác nữa động chạm đến quyền lợi và địa vị của bọn quan lại đương thời, làm gì mà họ chẳng đóng đinh câu rút ông lên cây thập tự! Họ cũng nhân danh bảo vệ chân lý, bảo vệ trật tự xã hội để trị ông. Trong thời đại chúng ta, chủ nghĩa Mác cũng đã từng bị lên án, bị loại trừ ở các nước phương Tây đấy thôi! Đấy, con đường tiến tới chân lý chẳng phải là con đường bằng phẳng tí nào.
- Giáo sư nói đúng quá, nhưng ta còn nói mãi những nghịch lý của cuộc đời thì cả ngày chẳng hết, mà tâm hồn ta lại bị vẩn đục thêm, thôi ta nói sang chuyện khác. Tôi xin hỏi giáo sư: bà Lê viết thư có thêm gì tin vui nữa không ạ?
- Bà ấy hẹn đến cuối năm về Hà Nội ăn tết. Ngoài ra bà ấy vẫn nhắc lại chuyện mời tôi sang Berlin tháng tới này, trước khi bà ấy về.
- Theo tôi giáo sư nên đi chơi một chuyến. Đã lâu lắm giáo sư chưa có dịp ra nước ngoài.
Trầm ngâm một lúc, giáo sư Hoàng trả lời:
- Tôi thấy chả có lý do gì để phải sang đó cả. Nó hơi vô duyên. Vả chăng tôi cũng chán sang các nước Đông Âu rồi. Chắc cũng chẳng có gì mới đâu. Hơn nữa dạo này dân mình sang đó lao động kiếm ăn đông, gây ra nhiều tiêu cực cũng làm cho người ta hiểu sai nhiều về người Việt.
Thanh Bình nghe ông nói đoán ngay rằng tình cảm đối với bà Lê vẫn chưa đủ mạnh để có thể làm cho giáo sư chiều theo ý bà. Chẳng hiểu vì sao anh lại nghĩ “tình cảm cũ đối với Minh Xuân có lẽ vẫn còn in rõ nét, chưa thể phai mờ trong lòng giáo sư”. Anh đang định cho ông biết tin về việc anh đã gửi thư mời bác sĩ Minh Xuân ra Hà Nội thì giáo sư lại tiếp:
- Bà ấy lại nhắc đến ông giáo Thuyết. Thư nào bà ấy cũng nhắc tôi chăm sóc ông ta hộ bà ấy. Nhưng tôi có thấy ông ấy ra đâu. Lại cả ông Lạc Việt nữa chứ. Ông Lạc Việt cũng nhờ tôi chữa bệnh cho giáo Thuyết.
Thanh Bình trả lời giáo sư:
- Đối với bà Lê thì cũng không có gì lạ, thưa giáo sư. Ông giáo Thuyết vốn là ân nhân của bà ấy. Riêng đối với ông Lạc Việt thì hơi đặc biệt. Trước đây hai người ấy cùng tù đày với nhau, nhưng sau ông Lạc Việt đã là người viết báo lên án mạnh mẽ giáo Thuyết, coi giáo Thuyết là phần tử xét lại hiện đại!
- Cũng là một đề tài nên tìm hiểu thêm. Có thể ông Lạc Việt nhờ tư tưởng đổi mới nay đã nghĩ khác. - Giáo sư nói - Con người nhiều khi khác nhau về cách suy nghĩ. Đến anh em sinh đôi cũng khác nhau cơ mà, nếu cứ thấy ai nghĩ khác mình thì quy cho người ta là thù địch thì con người sẽ trở thành lang sói của nhau.
Giáo sư bỗng đứng lên, đi đi lại lại trong phòng. Theo thói quen ông lại đang rơi vào luồng tư duy về thế sự.
“- Rồi tất cả sẽ nát ra cùng với đất cát. Ông lẩm bẩm như nói cho chính mình. Chỉ còn cái tốt thì để lại hương thơm, cái xấu thì để lại mùi xú uế. Con người chẳng thể đánh lộn sòng với lịch sử, cũng chẳng thể che giấu lịch sử được điều gì. Hy vọng che giấu được lịch sử là hành động của những kẻ điên rồ!”.
Giáo sư đi đến bên chiếc cửa sổ, nhìn ra cánh đồng trước mặt. Ông đăm chiêu ngắm cái màu xanh bao la trải rộng mãi tới con đường lớn vào thành phố đầy xe cộ và bụi mù. Bất giác ông quay về phía Thanh Bình nói:
- Rồi tất cả đều phải trở về với đất.
Ông đi đi lại lại trong phòng trầm ngâm yên lặng. Bỗng nhiên Thanh Bình nhớ lại mấy câu thơ anh đã viết, anh đọc cho giáo sư nghe:
“Ngôi nhà chung là ngôi mộ đó
Từ lăng tẩm, đền đài hay nấm cỏ
Đất bao dung đón nhận mọi hình hài
Cái nôi chung từ thuở có con người
Được hay mất, một tấm bia, dòng chữ khắc!
Còn tất cả sẽ trở về bụi cát
Dù lầu vàng hay lều cỏ cũng như nhau
“Trí Nhân” riêng, ghi dấu ấn nhiệm mầu”.
Chương 12. NHẬT KÝ CỦA BỐ
Thanh Mai chưa có việc làm. Đã ba tháng nay cô phải ở nhà chờ xin việc. Cô theo học một lớp tiếng Anh để đỡ phí thời gian. Hôm nay cô ngồi nhà một mình, đem cuốn ngữ pháp tiếng Anh ra ôn lại. Nhưng chẳng biết sao cô không thể tập trung được tư tưởng. Những cuộc gặp gỡ với Hoàng Vân luôn luôn làm cho tâm hồn Mai bị xáo động. Mấy tuần nay, tuần nào Vân cũng đến thăm Mai và thứ bảy vừa rồi anh lại rủ Mai cùng đi xem một buổi biểu diễn “Tạp kỹ”. Buổi văn nghệ tan sớm, hai người đã rủ nhau ra ngồi ngắm trăng tiết cuối thu trên chiếc ghế đá bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Dạo này điện Hà Nội không đủ, những bóng đèn đỏ lòm chẳng đủ sáng làm cho đêm trăng bên hồ trở nên huyền ảo và đẹp lạ.
Hôm ấy Hoàng Vân nói hơi nhiều, chẳng phải là những câu chuyện tâm tình mà anh ta tuôn ra cả một bồ thắc mắc từ thuở “hoang sơ” nào đó. Từ những cay cú vì vụ bố anh bị oan đến việc anh không được chia chiếc áo may ô! Toàn những chuyện vớ vẩn! Nó không hợp với tâm tình của Mai lúc này. Cô buột miệng kêu lên: “- Anh quên đi! Nghe những chuyện ấy chán lắm!”. Hoàng Vân ương ngạnh trả lời: “- Anh không quên. Cũng không thể quên được”. Rồi anh còn vặn lại Mai: “- Mà sao lại phải quên mới được chứ? Anh suốt đời sẽ nhớ những cái dã man, thiếu đạo lý ấy!”. Chẳng cần phải suy nghĩ, Mai trả lời anh luôn: “- Con người không phải chỉ biết nhớ, nhớ những cái đáng nhớ, mà còn cần phải biết quên, quên những cái đáng quên!”. Chẳng phải do Mai đã nghĩ ra điều ấy mà cô đã nghe có lần bố đã nói với mẹ như thế. Mẹ Mai nhớ dai cả những lời nói khi bố cáu gắt, cả những việc làm sai bố không chủ tâm, để mỗi khi giận dỗi lại đem ra giày vò bố. Một lần mẹ vô cớ bị ông hiệu trưởng hay “lên gân” lên lớp cho mẹ một điều gì đó, mẹ đem về nhà trút cái bực tức lên đầu bố: Mẹ đay nghiến bố vì những câu nói không chủ tâm cũ. Một vài việc làm không ý thức của bố trước đây bị mẹ coi là cố tình “làm khổ mẹ!”. Bố phải kêu lên: “Chỉ tại cái nghèo! Cái túng quẫn làm cho vợ chồng cắn xé nhau vì những chuyện không đâu!”. Rồi bố gắt: “Em hãy quên những chuyện ấy đi, cả những câu nói lố bịch ấy nữa. Nếu không quên được thì phải cố học lấy cái quên. Con người không phải chỉ biết học để “nhớ”, mà còn phải biết học để “quên” nghe chưa?!”. Cứ mỗi lần như thế Mai lại phải tìm lời an ủi mẹ. Câu nói của bố chí lý quá. Con người cần phải biết cả “quên”. Tối hôm ấy nghe Mai nhắc cho như thế, nhà cái anh Hoàng Vân lắm lý sự ấy đành ngồi im. Hẳn là anh ta phải thán phục Mai. Chẳng thế mà anh ta bỗng ôm chầm lấy Mai rồi sỗ sàng hôn ngay vào môi cô rất thắm thiết làm cho cô phải đẩy nhẹ anh ta ra. Mai chưa bao giờ được một người đàn ông nào hôn như thế. Cô cảm thấy toàn thân rạo rực cả lên, cô kêu lên một cách vô thức: “Đừng! Đừng làm thế!”. Anh ta trả lời: “Em cổ lắm, cổ hơn cả bà Bành tổ”. Anh ta tự cho mình là đã hấp thụ được mọi cái mới của thời đại. Chả trách mà lúc xem biểu diễn tạp kỹ, đến tiết mục trích đoạn “tuồng cổ” và trích đoạn “chèo” anh ta nằng nặc đòi bỏ về nửa chừng. Mai không đồng tình, anh mới chịu ở lại xem hết và cứ cằn nhằn mãi “xem những cái trò “cổ lỗ” này cứ như ăn phải miếng cơm nếp nát!”. Nghe dàn nhạc dân tộc có tiếng kèn, tiếng nhị, tiếng đàn tranh, Hoàng Vân cũng chán ngấy, nói là không thích cái giọng “từng tưng” hay “ò e í e” ấy. Anh thích nhạc Pốp, nhạc Rốc, nhạc kèn đồng của phương Tây hơn. À thì mỗi người một sở thích, Mai không thấy mình bắt buộc phải theo Vân.
Hôm nay Mai mới có thì giờ ngồi suy nghĩ lại mọi việc đã xảy ra. Anh đối với Mai sôi nổi quá. Có lẽ anh đã yêu Mai tha thiết thật. Nhưng rõ ràng trong tâm hồn anh đã bị một chấn thương. Có lẽ vì thế mà tính anh có lúc như khôi hài, nhưng nhiều lúc lại như thích châm chọc người khác không đúng lúc, không đúng chỗ. Chính cái đó làm cho con người anh đôi khi trở thành lố bịch. Ôi dào, con người có ai hoàn thiện trăm phần trăm! Nhân vô thập toàn mà lại. Mai cố gặt những ý nghĩ thiên lệch về Vân. Anh đã mỗi ngày một gắn bó với Mai, cái anh thanh niên láu lỉnh, sõi đời, đẹp trai có hàng ria mép hợp “thời trang” ấy đã để lại ấn tương khó phai mờ trong cô. Chị giáo Thủy thấy con gái dạo này hay đi chơi với Vân, lúc đầu chị có vẻ không tán thành lắm, nhưng dần dần chị cũng để cho con gái tự do. Nó lớn tuổi rồi, để nó tự chọn lấy người nó ưng. Mới cách đây khoảng một tháng chị còn bảo Mai: “- Mẹ trông anh ta cứ như dân phe chợ giời ấy, con quen nó phải cẩn thận!”. Mai phì cười nói với mẹ: “- Mẹ ơi, anh ấy là kiến trúc sư có cỡ đấy, hiện đang phiên dịch tiếng Anh cho bác Lạc Việt đấy mẹ ạ”. “- Thì anh ta cũng tốt nghiệp đại học như anh Thành chứ gì”. Chị giáo Thủy trả lời con, rồi chị ghé vào tai con nói nhỏ: “- Mẹ biết, nó là con trai ông giáo Thuyết, bạn của bố con ngày trước đấy mà, bố anh ta phạm vào cái vụ gì đấy, phải đuổi về nhà mấy chục năm nay... con phải xem có thật sự là người tốt thì hãy đánh bạn với người ta”. Chị vẫn tin ở con gái nhưng dù sao thì cũng phải khuyên nó một câu. Thời đại này thiếu gì người còn thù hằn với những cái cũ, không may vớ phải cái thằng nó lại nhắm lên đầu con gái chị mà trút mọi uất ức thì khốn! Nghĩ đến điều ấy chị lại thấy lo cho con. Đã có lần chị tâm sự với chồng, nhưng Thanh Bình lại gạt đi: “Em đừng lo, con Mai nhà này nó cũng biết nghĩ, vả chăng thằng Vân không phải là hạng người như thế. Giáo Thuyết là người tốt. Để cho nó tự do lựa chọn”. Bây giờ thì sự lựa chọn ấy sắp đến với Mai rồi. Chẳng thế nào có thể vừa ý chủ quan con người trăm phần trăm, nhưng ít ra cán cân cũng đã nghiêng về phía Hoàng Vân lúc này.
(còn tiếp)
Nguồn: Nỗi cô đơn còn lại. Tiểu thuyết của Hoàng Tuấn. NXB Văn học, 2006.
|