tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
15.01.2016
Trương Tuyết Mai
Lật từng mảnh ghép

Tôi vẫn biết người âm nhiều vô kể. Họ khuất bóng vì trận mạc, vì sóng thần địa chấn, vì biết bao tai ương và nhiễu nhương của nhân tình thế thái… Vong hồn họ vẫn phiêu linh trong trời đất suốt chiều dài lịch sử loài người. Họ không nói được nhưng họ biết tất cả những điều hay điều dở của người sống đã và đang làm. Họ sẵn sàng gặp lại người thân nếu người sống thành tâm…


Không thành tâm sao được khi ngày ngày biết bao con người đã lặn lội đến đây; có những người cách trở hàng ngàn cây số cũng tìm tới. Vong hồn thì nhiều như thế, người xin gặp cũng nhiều, mà người được vong nhập vào chỉ có một!... và chẳng vong nào chịu nhường. Hình như thế giới người âm không có thói quen nhường nhịn.  Vậy là xảy ra tranh giành chen lấn. Người âm nào khi sống đã già yếu, lịch lãm, hiền lành - thường bị những vong trẻ khỏe lấn chen dạt lại sau. Ngày đầu tiên vong hồn ba má tôi và ông Nguyễn Bính đều bị tình trạng ấy.


Bữa đó chúng tôi mới ngồi chờ 5 phút đã thấy được gọi. Tôi và Hồng Cầu mừng quíu, không ngờ nhanh thế. Chị em tôi vội vàng vào trong Điện. Ngồi trên thảm ở góc bên phải sát điện thờ là cô Phương, với khuôn mặt đẹp sáng láng, cô gọn gàng trong chiếc áo pul cộc tay và quần jean. Trước mặt cô có đặt một máy cassette để thu âm cuộc nói chuyện của người âm và người sống. Trên điện thờ, tôi chỉ thấy đặt ở bục cao mỗi bình hoa sen rất to. Không tượng, không tranh vẽ hoặc cờ phướng nào khác. Cũng không thấy quần áo khăn yếm màu mè sặc sỡ như của người lên đồng… Nhưng thật không may, chưa kịp nói năng gì thì vong ba má tôi và vong ông Nguyễn Bính đã bị những vong khác chen bật ra. Người sống khác lại được gọi vào.


Độ 12 giờ trưa thì Hồng Cầu lại được gọi lần nữa, tôi cũng vội vàng vào theo – vì chị em tôi đã thống nhất: người nào được gọi thì người kia cũng cùng vào để hỏi, nghe và nhớ cho hết những điều cần thiết.  Nhưng chỉ một thoáng, chưa nói được câu gì, vong ông Nguyễn Bính lại bị chen bật ra một lần nữa. Mỗi lần như thế, chị em tôi có cơ hội nán lại nghe chuyện của người khác. Nhờ vậy mới biết thêm bao nhiêu điều lạ lùng ngoài sức tưởng tượng…


Tuy ngày đầu tiên không có kết quả nhưng hai chị em tôi đã có những trải nghiệm vô cùng thú vị. Nếu phải tiếp tục chờ bao lâu nữa thì tôi cũng bình tâm ở lại, vì thời gian của tôi rộng dài. Chỉ có Hồng Cầu còn đang làm việc nên bị Sài Gòn gọi về hoài.


Theo lịch trình đó, chị em tôi chờ tiếp sang ngày thứ hai. Hồng Cầu đã có vẻ mệt mỏi và thiếu tự tin, nhưng tôi thì khác. Ngoài hình ảnh của mẹ, tôi không bị phân tâm bởi điều gì khác trong suốt thời gian chờ đợi. Mắt thì nhắm mà môi tôi luôn lầm rầm khấn thầm xin đất trời phù hộ cho phép vong hồn mẹ tôi lên. Biết điều thiêng ấy có xảy ra được không, nhưng tôi vẫn tập trung nội lực cao độ, gửi hết tâm nguyện của mình tới các đấng quyền năng trong trời đất. Tôi ao ước lòng thành của mình sẽ được soi xét…


Rồi điều kỳ diệu bỗng xảy ra!


            Gần đến giờ nghỉ của cô Phương, thì chợt nghe người phụ lễ gọi tên má tôi. Mừng quýnh quýu, tôi và Hồng cầu chạy thiệt lẹ vào điện thờ chào má. Bất ngờ bà bảo: “Cầu chạy ra miếu thắp cho Mai nén nhang đi con!” Rồi nói với tôi: “Mai à, má đau đầu quá. Hơn nửa thế kỷ rồi má mới gặp con. Bữa nay lên gặp được con, ta mừng lắm”. Tôi mếu máo năn nỉ: “Má ơi, con trông chờ giây phút này biết bao. Má ráng nói chuyện với con nha má.” Sau khi má tôi hỏi thăm các con cháu xong, bà nói: “Má muốn nói tới phần mộ của má, ý các con tính thế nào?” –“Phải phần mộ con đã đặt bia không hả má?” –“Thì phần mộ con đã đặt bia cho má đó. Đúng là hài cốt của má nằm ở dưới. Khi  đặt bia cho má con đã khấn, nhưng thần linh chưa có chứng. Chị em con và các cháu hãy về làm lễ chiêu hồn cho má, mỗi đứa quỳ lạy và thắp lên mộ má một nén nhang thì má vui mừng lắm…”” –“Con hạnh phúc quá má ơi, không ngờ con đã nhận trúng ngôi mộ má của con. Trời phật đã thương con má ơi!” –“Bao nhiêu năm nay má luôn thương nhớ và vẫn theo che chở cho các con. Đứa nào cũng trưởng thành, không dính vào tệ nạn xã hội. Cha mẹ hiền lành để phước cho con đó mà…” Tôi còn được nói chuyện với ba và bà Cố Tổ của mình nữa. Nhờ đó tôi cũng biết thêm những thông tin quý giá về cuộc đời mình. Cuộc nói chuyện chỉ diễn ra 19 phút. Đôi lúc Hồng Cầu nói xen vào, tranh thủ hỏi thăm về bố Nguyễn Bính. Má tôi nói: “Ông Bính lãng mạn, ở dưới âm mà ông vẫn văn thơ. Hôm qua bác với ông có lên nhưng bị người ta chen quá. Ông chỉ đứng khóc nhìn con gái thôi. Ông bảo hôm nay có công chuyện ở quê nên không tới được . Cháu đừng đợi nữa. Bữa khác bác sẽ rủ ổng lên…”


            Phút cuối cùng tôi chợt nhớ một điều quan trọng cần hỏi má. Chỉ có má tôi mới nói chính xác ngày mất của mình mà thôi. Bà nói: “ Má mất cuối năm mà sao chị em con làm lễ vào ngày Vu Lan. Từ nay các con làm lễ cho má vào ngày 25 tháng 11 âm lịch thì mới chính xác. Thôi má đi! Người ta không cho nói nữa đâu. Má hẹn 20 tháng 10 âm lịch sẽ gặp lại…” Tôi và Hồng Cầu cố năn nỉ để níu kéo thêm cũng không được.


 


                                                             * * *


            Rất mừng là tất cả các thông tin tôi cần biết từ má của mình, đều trùng khớp với kết quả trả lời của nhà ngoại cảm Bích Hằng. Cả những điều má nói về hai đứa em bị thất lạc của tôi trong thời kháng chiến chín năm, cũng rất trùng khớp. Tôi thật sự cảm thấy mình là người sung sướng nhất, hạnh phúc nhất trần gian. Niềm ao ước bấy lâu đã hiện hữu. Tôi đã nắm được sự hiện hữu đó trong tay! Không có gì tuyệt vời hơn thế!


Một ngày đẹp trời của tiết thanh minh năm 2006, bốn chị em tôi cùng các con cháu của mình rong ruổi trên một chuyến xe từ Sài Gòn đi Phú Yên. Phải mau chóng thực hiện ý nguyện của má thì chúng tôi mới yên lòng! Nơi  cần đến đầu tiên là gia đình chú Năm Đi. Bởi chú Năm là người ơn của chị em tôi. Nếu không có chú tận tụy, dẫn dắt những bước đầu tiên thì giờ này chắc gì chị em tôi có được niềm hạnh phúc thắp nén nhang lên mộ mẹ thân yêu của mình. Đáng lẽ chú Năm là người đầu tiên chia sẻ với chị em tôi niềm vui lớn lao ấy, nhưng chú đã không còn. Lời tạ ơn của chị em tôi đành nhờ vong linh chú chứng giám. Chúng tôi lên núi làm lễ chiêu hồn cho mẹ mình và cũng đến thắp nén nhang lên ngôi mộ của chú. Chắc chắn chú đang mỉm cười nhìn chúng tôi hạnh phúc.


   


22. Đợi em anh nhé


Lòng tôi không thể yên ổn được khi cuộc điện thoại nào, lá thư nào Boudarel cũng không quên nhắc đi nhắc lại điệp ngữ: “Em phải sang Pháp. Em phải sang Pháp. Anh đợi em lắm!”. Âm thanh ấy cứ văng vẳng hoài trong tâm tưởng tôi, hối thúc - khiến tôi luôn bồn chồn lo lắng quá thể. Không biết anh đợi tôi vì sự bức bách của tình cảm hay vì sức khỏe cùa anh không cho phép tôi chậm trễ? Vì lý do gì cũng không quan trọng. Chỉ biết đó là điều mong mỏi, là tiếng gọi thiết tha của Bouda. Anh đang một mình chống chọi với bệnh tật, với khổ nạn cuối đời cùng những oan khốc mà không dễ có mấy ai chia sẻ được – và anh đang gọi tôi! Sẽ đau lòng lắm khi biết anh đang ngóng chờ mà tôi thì không có cách nào. Nhiều lúc tôi thầm nhủ: “Nhất định phải tìm cách. Phải làm một cái gì đó thật táo bạo thì mới đến được bên anh”.


            Có lẽ với nhiều người, việc đi ngoại quốc không khó khăn gì. Thậm chí có người vì công việc mà phải đi nước ngoài liên tục, dễ dàng như đi chợ. Nhưng với tôi thì khác. Tuy là người hay đi, nhưng mọi chuyến đi của tôi bao giờ cũng có đồng nghiệp bên cạnh. Mọi phương tiện đi lại, hay nơi ăn chốn ở đều do ban tổ chức lo liệu chu toàn. Chuyến đi xa gần đây nhất của tôi là đến Manila để tham dự cuộc thi âm nhạc thế giới 1995, đoàn Việt Nam cũng có hai thành viên là tôi và ca sĩ Thùy Dung. Đại diện sứ quan Việt Nam ở Philippines và đại diện ban tổ chức cuộc thi cũng có mặt tại sân bay tiếp đón chúng tôi chu đáo và nồng hậu. Nghĩa là tôi chưa phải đi đâu xa một mình.


Nhưng hiện tại, việc tôi đi châu Âu một mình cũng không còn đáng sợ nữa. Có một điều quan trọng, nó khiến tôi lo lắng và sợ hãi nhất, đó là tôi không rành rẽ một ngoại ngữ nào. Trước đây tôi cũng có học nhưng không tới nơi tới chốn; từ tiếng Nga tiếng Trung, đến tiếng Anh tiếng Pháp, thứ nào cũng học nhưng không mấy khi sử dụng nên cũng “trả hết cho thầy”. Việc không biết ngoại ngữ sẽ gặp khó khăn lắm, nếu chuyến bay phải transit tại một sân bay nào đó chỉ một thời gian ngắn. Và tôi cũng không còn trẻ nữa để khôn ngoan lanh lợi trong những tình huống phức tạp có thể xảy ra trong chuyến bay. Vậy phải làm sao đây? Chẳng lẽ bó tay? Không thể như thế được, tôi đã quyết rồi. Nhiều lúc tôi lẩm bẩm một mình như nói với anh: “Bouda ơi, xin anh đừng buồn về sự kém cỏi của em. Bằng mọi cách, em sẽ khắc phục để đến được bên anh. Ráng đợi em anh nhé!”                           


            Tôi phải thực hiện một cuộc hành trình từ Việt Nam sang Đức, sau đó sẽ bay hoặc đi tàu lửa từ Đức qua Paris cùng với con gái Thảo Hương của tôi. Như thế chắc cũng thuận tiện.


           


* * *


            Hình như tôi đã kêu trời nhiều lần vì sự rắc rối, nhiêu khê trong việc làm thủ tục giấy tờ nhập cảnh và xin cấp visa. Lần thứ nhất tôi bị trả hồ sơ vì passport không hợp lệ. Trường hợp của tôi Lãnh sự quán Đức cần passport phổ thông chứ không cần passport công vụ - mặc dù nó vẫn còn hạn sử dụng. Vậy là tôi phải cấp tốc đến phòng xuất nhập cảnh  để làm passport khác. Lại thủ tục rườm rà, lại chờ đợi từng ngày, chẳng dễ dàng nhanh chóng chút nào. Đành phải vậy thôi. Tôi chỉ còn biết tự động viên: “Không thể nóng vội được, phải bình tĩnh Mai ơi. Cũng sẽ đến ngày mình lên máy bay được thôi”. Chỉ thương cho anh đang khắc khoải trông đợi!...


            Không ngờ lấy được visa của Lãnh sự quán Đức lại khó khăn phức tạp đến thế. Sau khi nộp hồ sơ, tôi được nhân viên sứ quán trao cho mảnh giấy biên nhận, có ghi ngày hẹn. Mỗi lần đến hẹn tôi lại mừng thầm, hy vọng mọi việc được xong xuôi. Hóa ra mỗi lần đến hẹn là một lần tôi phải bổ túc hồ sơ. Có điều lạ là họ không nghiên cứu kỹ hồ sơ để yêu cầu tôi bổ sung các giấy tờ cần thiết một lần thôi. Tôi sẽ đỡ phải đi lại vất vả và thời gian chờ đợi được cấp visa cũng không kéo dài đến thế. Vì tất cả các giấy tờ cần bổ sung đều phải từ bên Đức cấp và gửi về kia mà! Thật là…


            Nhưng rồi mọi việc cũng xong. Tôi cũng đã cầm trên tay chiếc vé máy bay. Sẽ cất cánh chiều ngày 15 tháng 7 năm 1999. Bây giờ thử thách mới thực sự mở ra trước mắt tôi. Những lúc cảm thấy yếu lòng thì tôi lại nhìn hình anh, thỏ thẻ chuyện trò: “Bouda ơi, Mai của anh tuy nhút nhát nhưng khi cần thì cũng gan góc lắm. Em sẽ tự vận động hết năng lượng để vượt qua thử thách này; tin là mọi việc sẽ đâu vào đấy anh ạ. Hãy nhìn em và cười đi, như ngày xưa ấy!” Chuẩn bị cho chuyến đi của tôi còn có một việc đặc biệt dễ thương, mà tôi không thể quên được.


            Con dâu thứ của tôi là Diễm Hà, người đã nối được mối dây liên lạc bị đứt đoạn giữa tôi và Bouda 38 năm qua. Sắp đến ngày sinh mà Hà vẫn ôm cái bụng bầu to tướng, lặc lè đi tới đi lui, đi ra đi vào Lãnh sự quán Đức cùng  với mẹ chồng mỗi khi tôi có công việc ở đó. Nhìn con dâu, tôi thấy thương và ái ngại quá. Diễm Hà hiểu ý tôi nên cứ an ủi hoài: “Không sao đâu, mẹ đừng lo. Con chỉ mong cho chuyến đi của mẹ được may mắn thôi”…


 


Chín giờ ba mươi phút sáng ngày 14 tháng 7 năm 1999, con trai Linh Giang của tôi từ bệnh viện phụ sản Từ Dũ gọi điện về báo tin, giọng vui mừng như reo lên trong máy:


- Diễm Hà đã sinh con trai mẹ ơi. Được ba ký tư. Mẹ tròn con vuông mẹ ạ. Con vui sướng lắm.


            Tôi bất ngờ quá, dồn dập hỏi con trai:


            - Hà chuyển dạ hồi nào, sao con không báo cho mẹ biết? Có đau đớn nhiều không? Sanh thường hay phải mổ hả con?


            - Hà không chuyển dạ mẹ ạ.Tụi con đã thống nhất chủ động phẫu thuật đấy chứ.


            Tôi hốt hoảng kêu lên:


- Tại sao các con làm như vậy hả? Sanh thường bao giờ cũng tốt hơn. tụi con đều biết làm đúng với quy luật tự nhiên thì vẫn ưu việt nhất cơ mà.


- Nhưng đến ngày sanh mà Hà không chuyển dạ thì làm sao hả mẹ?


- Khi không còn cách nào tốt hơn thì người ta mới phải phẫu thuật con à. Đứa nhỏ được ở trong bụng mẹ thêm ngày nào thì sẽ tốt thêm cho nó ngày đó. Thai đã quá ngày quá tháng đâu mà lo lắng dữ vậy chớ? 


- Mẹ ơi, cũng tại tụi con muốn mẹ nhìn thấy cháu nội trước khi lên đường đó mà. Mẹ sẽ bất ngờ lắm. Vậy mới vui. Nếu không thì ba tháng nữa bà nội mới về - đâu có vui bằng.


Tôi hơi bị sốc, xẵng giọn          


- Trời đất! Đem chuyện mổ xẻ trong sinh nở ra mà vui hả con? Đâu thể   lường hết được những xui xẻo, rủi may! Không được quá đáng như vậy chớ! Mẹ phải vô bệnh viện để nhìn mặt cháu nội ngay đây.


Tôi bàng hoàng quá vì những thông tin của con trai; nỗi lo sợ và vui mừng cứ chen nhau lẫn lộn. Tôi đang thu xếp valy, kiểm tra chu đáo mọi việc để ngày mai lên đường; nhưng phải vội vàng dồn nó lại một góc nhà, chiều về sẽ làm tiếp. Phải mau mau vào bệnh viện ngay, con dâu và cháu tôi đang đợi!


Quãng đường từ quận 9 vào trung tâm Sài Gòn không xa lắm nhưng sao taxi chạy lâu quá. Chắc vì tôi đang nôn nóng quá nên thấy vậy chăng.


 Phải tìm cách gì đó cho đỡ sốt ruột. Tự nhiện tôi mỉm cười như đang chuyện trò cùng anh: “Bouda ơi, cháu trai yêu quý của em đã chào đời sớm để kịp tiễn bà nội lên đường đấy. Anh vui không?”.


 


                                                               * * *


Sau khi làm xong thủ tục ở sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, tôi còn kịp quay ra vẫy chào tạm biệt các con trai tôi lần cuối, rồi mới vào phòng cách ly, đợi lên máy bay. Từ giờ phút này tôi phải hoàn toàn tự vận động thật chính xác và chỉn chu nhất để có thể an toàn khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Schardegol và sân bay Dusseldorf.


            Máy bay luôn ở độ cao hàng chục cây số. Tôi nhìn qua cửa sổ mà thấy ngợp quá vì mây. Như sông như biển, tầng tầng lớp lớp trắng xóa dưới tầm mắt tôi, trôi trôi không ngưng nghỉ. Những hình thù ngộ nghĩnh được tạo bằng mây cũng vút qua vút qua rất nhanh. Tôi ngoái đầu mải mê nhìn cho đến mất hút. Khi máy bay chui vào những đám mây khổng lồ thì hành khách cũng bị dằn xóc một chút, nhưng không hề gì. Chỉ một lát là hết ngay – khi máy bay qua khỏi những khối mây đó.


            Không có gì khó khăn khi tôi chỉ ngồi yên trên ghế của mình. Thậm chí khi máy bay hạ cánh xuống Dubai để làm những việc cần thiết cho chuyến bay, bắt buộc tất cả hành khách phải ra khỏi máy bay để nhân viên của Dubai làm vệ sinh, nhưng tôi cũng viện cớ đau yếu gì đó để không phải rời khỏi chỗ ngồi. Bây giờ nhớ lại, thấy mình lúc ấy thật buồn cười và hèn quá đi mất. Nhưng tôi đã xác định rồi, phải gồng mình chịu đựng hết mọi thứ để thực hiện cho được mục đích của chuyến đi. Tất cả chỉ có vậy. Tôi không cần quan tâm tới điều gì khác nữa.


            Tám giờ sáng (giờ Paris) ngày 16 tháng 7 năm 1999, máy bay của tôi hạ cánh xuống Schardegol. Từ lâu, sân bay quốc tế này đã nổi tiếng khắp thế giới về quy mô và tầm cỡ của nó. Tôi chỉ được dừng ở đây một giờ để làm thủ tục quá cảnh, rồi bay sang Cộng hòa Liên bang Đức. Chỉ một tiếng thôi, nếu tôi không kịp làm thủ tục quá cảnh hoặc bị lạc đâu đó, thì tôi sẽ phải ở lại Schardegol, và rắc rối cho tôi sẽ càng chồng chất thêm nữa.


Tôi đang lơ ngơ lạc lõng, đang chìm trong biển người của nhà ga Schardegol. Sao mà rộng lớn đến thế cơ chứ? Ai nấy đều lo việc của mình, rất trật tự. Nét lịch thiệp như được tỏa ngời trên từng gương mặt. Rừng người đủ màu da đang hối hả vận động, cuồn cuộn mà không một tiếng gọi nhau í ới, hay một chút náo động nào. Tôi đưa mắt dáo dác nhìn quanh xem may ra gặp được ai quen không. Phải có ai đó để tôi hỏi thăm và được hướng dẫn chứ. Tìm đâu ra người Việt để nhờ cậy bây giờ? Thỉnh thoảng cũng gặp được vài người châu Á, cứ ngỡ họ là người Việt nên tôi vui mừng quá đi mất. Ai ngờ khi len được tới gần để hỏi thăm thì họ đều im lặng lắc đầu, rồi hối hả bước…


            Đầu óc tôi như bấn loạn lên rồi. Nỗi sợ sẽ tìm không ra nơi làm thủ tục quá cảnh đã khiến tôi hoảng hốt thật sự. Sắp hết một tiếng transit rồi mà tôi vẫn còn ngơ ngác. Càng lo, càng quýnh quýu, trông tôi càng thảm hại. Phải làm sao đây chứ? Tự dưng miệng tôi lẩm bẩm như đọc thần chú: “Bouda ơi em sợ thật sự rồi. Anh ở đâu? Sao không đến với em?” Rồi sự bất lực không biết từ đâu ập đến, nó tràn ngập khắp cơ thể và tâm trí tôi cũng rất nhanh.


            Bỗng một thanh niên lạ xuất hiện sát bên cạnh, với gương mặt thật sáng. Người đó hỏi nhỏ tôi bằng tiếng Việt:


- Xin lỗi, em thấy cô lo lắng quá. Không biết cô cần giúp đỡ gì không ạ?


            Trời ơi, sao mà kịp thời! Tôi chẳng khác người “chết đuối vớ được cọc”, vui mừng khôn xiết. Sau khi nghe tôi trình bày rất nhanh những yêu cầu trợ giúp, chàng thanh niên nói vội vã:


- Cô theo em nhanh lên, sợ sẽ không kịp mất.


            Tôi làm theo chỉ dẫn của người thanh niên ấy như cái máy. Làm thủ tục quá cảnh rất nhanh thôi, nhưng không biết thì không đến được tận nơi. Sau công việc quan trọng đó, chàng thanh niên giao tôi cho một cô nhân viên sân bay người da màu, và nhờ cô ấy đưa tôi ra tận cầu thang máy bay.


            Cô gái da màu cao lớn và rất xinh đẹp. Đặc biệt là đôi chân cô rất dài. Cô thì đi còn tôi thì chạy mà vẫn khó khăn mới theo kịp. Tuy bước gấp gáp, hối hả như thế nhưng đầu tôi vẫn còn tỉnh để có thể nghĩ linh tinh: “Giá như hồi nhỏ mình được ba huấn luyện “đi như chạy” thì bây giờ đỡ khổ biết mấy!”. Và đôi giày da mới toanh ở chân tôi nữa mới phiền chứ. Nó không hề nương nhẹ bàn chân tôi chút nào, mà giống như đang thỏa sức hành hạ tôi cùng lời cảnh cáo: “Cho mày biết thế nào là lễ độ” này!. Tôi phải cố gắng lắm để không đi khập khiễng vì bàn chân đau. Đã đi nhanh, lại khập khiễng nữa thì ai trông thấy bộ dạng tôi lúc ấy chắc cũng phải ngao ngán lắm.


            Thỉnh thoảng cô gái da màu phải dừng lại chờ và kéo valy giúp, để tôi đỡ vướng víu mà bước cho nhanh. Cứ thế tôi chạy theo cô gái ấy hết lên thang máy này lại đến thang máy khác, hết đi ngược lại đi xuôi, lòng vòng mãi 


rồi cũng đến được chân cầu thang máy bay. Tôi còn kịp quay lại ôm hôn cô gái, để tỏ lòng biết ơn người đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi lúc hoạn nạn.


           


May thiệt là may! Tôi là hành khách cuối cùng. Chỉ còn ba phút nữa là máy bay cất cánh. Thật hú vía! Bây giờ tôi mới hoàn hồn để ngồi thở và quan sát chung quanh một chút. Máy bay tôi đang ngồi chỉ nhỏ thôi nhưng rất đẹp. Những thanh niên mang quốc tịch Pháp phục vụ trên máy bay này ai cũng trẻ măng, bảnh trai và lịch lãm. Họ rất vui vẻ chào hỏi, chỉ dẫn hành khách tận tình chu đáo, vẻ tự nhiên, thân thiết. Tôi cũng thầm biết ơn chàng trai Việt đã xuất hiện thật đúng lúc. Chàng trai ấy thật sự là cứu tinh của tôi lúc lâm nguy!...


Chỉ còn bay hơn một tiếng nữa là sẽ đáp xuống thành phố Dusseldorf của nước Đức, ở đó đã có anh chị sui của tôi đón đợi rồi. Cầu mong cho hành trình tiếp theo cũng được may mắn và an lành.


           


 23.  Gặp gỡ


Từ thành phố nhỏ Juelich nước Cộng hòa Liên bang Ðức, mờ sáng ngày 23 tháng 7 năm 1999 tôi khởi hành cùng con gái đến Paris. Xe chạy bon bon với tốc độ một trăm bốn mươi cây số giờ trên đường nhựa phẳng lì, tôi ngồi trên xe mà cảm giác như ngồi ghế salon ở nhà vậy. Thế mới hiểu ai có dịp đến đất nước này đều hết lời khen ngợi hệ thống giao thông đường bộ, và cho rằng có lẽ ít nơi nào trên thế giới sánh được với Ðức về phương diện này. Những chỉ dẫn trên đường đi, nhất là ở những lối rẽ thật rõ ràng, chu đáo. Còn đường sá thì bóng loáng và êm ái khiến người lái luôn cảm thấy thoải mái, hiếm khi thấy sự căng thẳng xuất hiện trên gương mặt họ.


Trời đã sáng rõ mà các xe hơi trên đường vẫn còn bật đèn, tôi ngạc nhiên nói:


- Bên này ngộ quá há, xe hơi vận hành trên đường phải bật đèn cả ban ngày.


- Dạ chỉ trong giờ quy định thôi mẹ ạ. Nhất là vào mùa thu hoặc mùa đông, để đảm bảo an toàn, xe trên đường phải sáng đèn từ rất sớm.


- Có khi nào con quên không?


- Quy định bên này nghiêm lắm, làm trái đi sẽ bị phạt rất nặng. Hơn nữa xe ở đây thường chạy với tốc độ cao, nên tuân theo luật lệ giao thông là để tự bảo vệ mình chứ đâu phiền hà gì mà mình không làm. Tụi con quen rồi, không dám quên đâu.


- Quen được là tốt lắm. Hệ thống đường xá ở đây thật tuyệt. Ước gì mai mốt Việt Nam mình cũng được văn minh tiến bộ như họ nhỉ.


Nghe mẹ ước ao, con gái tôi an ủi hỏi han:


- Việt Nam mình chắc đã thay đổi nhiều hả mẹ?


         - Quê hương giờ đang “thay da đổi thịt”, có vẻ tươi tắn hồng hào hơn. Chỗ nào cũng thấy xây dựng, cả nước giống như một công trường lớn.


- Vậy nước mình có cơ hội phát triển tốt không mẹ?


          - Mình là nước nông nghiệp lạc hậu mà. Nhưng dù sao mình vẫn có quyền hy vọng. Phát triển là xu thế của cả thế giới chứ đâu riêng một quốc gia nào. Không phát triển thì chịu nghèo khó mãi sao!


- Còn nông thôn có được quan tâm không mẹ? Dân trí có phát triển nhiều chưa?


          - Nhìn chung đã khá hơn, nhưng những vùng sâu vùng xa, nhất là vùng dân tộc miền núi thì còn nghèo lắm. Thay đổi từ từ chứ không thể một lúc mà xong được.


- Con nghe nói bên nhà còn nhiều tiêu cực lắm.


          - Con muốn nói đến nạn quan tham nhũng nhiễu dân chứ gì?


          Tôi cảm thấy phải nói thêm điều gì đó cho con an lòng:


- Chuyện ấy thì thời nào chả có, cả thế giới đều vậy chứ đâu riêng nước mình. Nạn tham nhũng cũng cản trở sự phát triển của đất nước nhiều lắm. Bằng nhiều cách, hễ có chút quyền trong tay là nhiều người trong số họ lại tự làm vấy bẩn mình. Khổ nhất là họ ngày càng tinh vi, nhiều khi mang cả vẻ thánh thiện nữa. Họ ngỡ che được mắt dân con ạ.


          - Còn những người tốt đâu? Chẳng lẽ làm ngơ trước tình hình đó hả mẹ?


- Những người thật sự thương dân, vì dân cũng không phải ít, nhưng nỗ lực của họ chỉ được phần nào thôi. Họ đau lòng và im lặng chứ làm gì được.


- Nghe nói chính phủ Việt Nam đang khích lệ tinh thần dân chủ lắm mà. Phải vậy mới biết được ý dân để hoàn thiện hơn bộ máy nhà nước chứ. Dân chủ là động lực phát triển đó mẹ. Các nước phương Tây rất coi trọng vấn đề này.


- Cũng có chủ trương đó, báo chí và các cơ quan truyền thông nhắc tới luôn, nhưng thực hiện nó đâu dễ dàng gì. Dân mình vốn quá e dè và luôn muốn “phòng xa” mà con.


 


Nói tới đây tôi bất ngờ thốt lên đầy kinh ngạc. Trước mắt tôi là thảm cỏ xanh mướt, mênh mông tít tắp như chạm chân trời. Tôi rất muốn được dừng lại, xuống xe tháo bỏ giày vớ, đi chân trần thật nhẹ nhàng trên cỏ, và lắng nghe… rồi lăn mình trên đó cho thỏa thích. Nhìn đâu cũng một màu xanh ngăn ngắt. Hai hàng cây xanh biếc bên đường cũng đang lướt qua vun vút. Không kìm được thích thú, tôi quay


sang hỏi con gái:


- Màu xanh này có giữ được lâu không con?


- Chỉ mấy tháng hè thôi mẹ ạ, sang thu lá sẽ chuyển sang màu vàng, đỏ rất đẹp. Nhất là lá cây phong bởi hình dáng và màu sắc của nó. Ðôi khi một chiếc lá lại có đủ các màu vàng, nâu và đỏ, hòa hợp nhau thành một sắc độ vừa sâu, đằm và sang trọng, rất đặc biệt khiến ai nhìn thấy cũng xao xuyến.


Tôi dịu dàng nhìn con gái của mình, nói vui:


- Mẹ cũng yêu lá phong lắm, nhưng không phải một tình yêu bình thường, mà bởi những gì con cảm về nó nữa đó.


- Con nói thiệt mà. Mẹ ở đây tới mùa thu thế nào cũng được tận mắt chứng kiến. Có khi mẹ yêu nó còn hơn cả yêu con nữa đó!


- Nó thật đáng yêu vậy sao? Mẹ không tin đâu, tình yêu của mẹ dành cho con gái phải là số một chứ.


Thảo Hương nghiêng người qua tôi, cười nũng nịu như hồi còn nhỏ xíu.


         


Ðã giữa buổi sáng, nắng tràn trên mặt đường thật dịu. Xe vẫn bon bon nhẹ nhàng. Tôi ngả người ra phía sau, tựa lưng vào thành ghế định nhắm mắt một chút. Sợ tôi mệt và sốt ruột nên con gái lên tiếng:


- Mình đang ở trên đất Bỉ rồi. Tới trạm xăng sẽ dừng lại ăn sáng và nghỉ ngơi một chút. Sau đó mình lại tiếp tục đi. Mẹ có mệt lắm không?


- Mẹ không sao. Nhưng con lái xe đường dài phải tập trung liên tục, chắc căng thẳng lắm?


- Dạ con không sao đâu. Bên này đường sá tốt, tuy đường dài nhưng chạy tốc độ cao nên cũng không mệt như ở mấy nơi khác mẹ ạ…


 


                                                           * * *


            Trưa tháng bảy, nắng Paris không chói chang gay gắt như ở quê nhà, nhưng cũng đủ làm mẹ con tôi phờ phạc. Có lẽ đêm qua không ai tròn giấc vì phải khởi hành rất sớm. Riêng tôi trằn trọc mãi với niềm vui sắp vỡ: “Mình sẽ thế nào khi gặp anh? Có “sà vào lòng và ở lại mãi mãi” như thư mình đã viết cho anh? Có “hôn anh thật nhiều” như mình vẫn trò chuyện với anh mỗi đêm trong những trang nhật ký? Hay chỉ dịu dàng im lặng ngắm nhìn anh như ngày xưa?...”  Lòng khấp khởi với giây phút cảm động sắp tới, giấc ngủ của tôi cũng trốn biệt đâu mất.


Phải lái xe đi lòng vòng mãi mới tìm được chỗ đậu. Hai mẹ con xuống xe đi bộ tìm nơi ăn uống nghỉ ngơi. Quận mười ba ở Paris có nhiều quán ăn Việt rất ngon. Tôi nghĩ bụng ăn cơm Việt Nam giữa Paris chắc thú vị lắm. Chợt con gái quay sang nói với tôi:


- Bây giờ cũng đã muộn, chắc bệnh viện đã cho bệnh nhân nghỉ trưa cả rồi. Mình ăn cơm xong, đi lòng vòng thăm quận 13 một chút. Đó là nơi tập trung buôn bán của người Á châu mẹ ạ. Ðầu giờ chiều mình sẽ vào bệnh viện thăm ông Boudarel. Như vậy có được không mẹ?  


- Ðược chứ con, mẹ cũng nghĩ vậy là hợp lý nhất.


- Vậy mình ghé chợ cho mẹ ngắm hàng hóa bên này coi có gì khác ở Việt Nam không nha. Nói chung cũng đầy đủ hết đó mẹ.


- Có mắm tôm không hả con?


- Dạ có chớ, ngoài mắm tôm còn mắm ruốc, mắm nêm, rồi mắm cá lóc, mắm cá linh, mắm cá sặc... đủ loại hết. Bên Ðức cũng có nhiều chợ châu Á nhưng không đầy đủ, phong phú như ở đây. Lúc nào có dịp sang Paris là con đều ghé đây mua sắm, thích nhất là vô tiệm bán trái cây, chỉ nhìn đã đủ mê rồi.


Nghe đứa con gái xa quê lâu ngày nói về chợ châu Á với vẻ hứng khởi, thèm thuồng, lòng tôi quặn lên niềm xót thương.


Hai mẹ con thong dong bước dưới nắng hè Paris, bận rộn và mệt mỏi như cũng đã tan biến đi.


 


* * *


 - A lô, Bouda ơi anh khỏe không? Hướng dẫn cho em lối lên phòng của anh đi. Em đã tới gần anh lắm rồi nè.


- Em đó hả? Em đang ở đâu? Ðã tới Paris rồi sao?


- Em đang đứng dưới sân bệnh viện La Pitié Salpetrière đây. Anh Cang (*) đã mail cho em như thế. Có đúng anh đang điều trị ở bệnh viện này chứ?


- Ðúng rồi, anh vui quá. Em có nhận được thư tay anh nhờ Cang chuyển giúp tới em không?


……………………………………………………………………………………. (*) Một Việt kiều tại Pháp, là người đã giúp đỡ tôi giữ liên lạc với Boudarel.                                                                                                                                                                                                                           


- Dạ có. Sức khỏe của anh ổn không?


- Em lên ngay đi. Lầu ba, số phòng mười bốn nhé.


- Dạ vâng. Bệnh viện lớn quá, em tìm hoài vẫn chưa tới được nơi anh ở.


- Em bình tĩnh, vào một phòng nào đó của bệnh viện rồi hỏi thăm bác sĩ, họ sẽ hướng dẫn cho em.


- Dạ, anh ráng chờ chút nữa nhé. Em sắp gặp anh rồi.


- Ừ, em làm vậy đi.


- Dạ vâng. Em chào anh.


 


Vừa thấy chúng tôi xuất hiện ở cửa phòng, gương mặt anh sáng rỡ. Anh chống tay lên thành ghế loạng choạng đứng dậy. Tôi vội chạy tới đỡ cho anh khỏi té. Hai ông bà già nhìn nhau rồi luống cuống ôm chặt như sợ sẽ mất nhau lần nữa. Thảo Hương đứng cách một khoảng xa, ý tứ nâng máy chụp hình về hướng tôi để ghi lại những khoảnh khắc hiếm hoi. Tôi đỡ anh ngồi xuống, hai bàn tay anh níu chặt cánh tay tôi, ngước nhìn, miệng anh như lắp bắp điều gì đó tôi nghe không rõ, rồi anh mỉm cười âu yếm. Vẫn nụ cười rất ngọt của ba mươi tám năm trước, nụ cười đã in vào tâm khảm tuổi mới lớn của tôi, nó hiền hậu và lặng lẽ ám ảnh tôi không rời.


 


          Chợt bừng tỉnh, tôi kịp thoát ra khỏi cơn mê ban ngày, quay lại giới thiệu con gái với anh. Anh từ tốn hỏi han sức khoẻ và cuộc hành trình từ Ðức qua Paris của mẹ con tôi. Rồi Thảo Hương nghiêng qua nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe với ánh mắt, nụ cười đầy vẻ ý nhị và hóm hỉnh:   


- Con muốn đi dạo một mình ngoài kia, mẹ duyệt không?


- Ðịnh để mẹ ở lại đây sao?


- Con nghĩ mẹ cũng cần được một mình với ông chứ. Mẹ yên tâm, mười bảy giờ con sẽ quay lại.


- Mình còn phải đi thăm bà nội và cô Út Dung ở Antony nữa đó, con nhớ quay về sớm nhé.


- Con sẽ trở lại đúng hẹn mà, mẹ đừng lo.


- Ðược rồi, con đi cẩn thận nha.


 


- Dạ vâng. Thưa bác, thưa mẹ con đi.


 


Ðưa con ra tới thang máy rồi tôi quay lại phòng bệnh ngay. Anh vẫn ngồi nhưng đôi tay dang rộng, ánh mắt và nụ cười như muốn nói: “Mau mau đến với anh”.  Tôi hăm hở lao vào vòng tay ấy tìm lại hơi ấm hằng khao khát. Ðể yên cho anh ôm và hôn lên tóc, lên mắt, lên môi. Tôi cũng quàng tay ôm anh thật sát, cảm thấy trái đất như ngừng quay, mọi nỗi thống khổ của tôi đều tan biến, và mọi khái niệm, mọi lý lẽ, mọi thuyết giáo trên cõi đời này đều trở nên mờ nhạt.


Cứ lặng im phăng phắc. Lặng im để lắng nghe mọi nỗi đời đã trải của hai người ào ạt xô về. Lặng im như không còn sự lặng im nào hơn thế. Trong vòng tay anh, tôi choáng ngợp hạnh phúc, trái tim đập rộn ràng cùng vô vàn cảm xúc dâng tràn.


Vẫn ôm tôi trong tay, anh nhẹ nhàng cất tiếng. Giọng anh trầm đục, khàn khàn rất khó nghe. Ðó là di chứng của những cơn tai biến mạch máu não đã hành hạ anh suốt nhiều năm qua. Những câu hỏi ngắn, bình dị khẽ vang bên tai tôi, nghe như nỗi day dứt chất chứa trong lòng anh từ lâu lắm rồi:


- Em bay (*) đi đâu?


…


- Sao em không tìm anh?


…


- Từ ngày đó em sống ra sao?...


Tôi buông anh ra, ngồi ngay ngắn, từ tốn trả lời:


- Em xin lỗi, chuyện dài lắm Bouda ơi. Anh có quá nhiều chuyện buồn rồi, em không muốn anh khổ thêm vì chuyện của em.  


            - Hãy nói cho anh biết em bay đi đâu? Tại sao không liên lạc với                                                  anh?


- Em đã tìm anh nhiều lắm chứ, nhưng có được đâu. Hơn nữa, em đã gặp quá nhiều chuyện không vui. Biết kể anh nghe từ đâu bây giờ? Hãy nói về mình đi, em rất muốn biết mọi điều từ anh cơ.


……………………………………………………………………………………


(*) Khi chuyện trò với tôi, Boudarel hay dùng chữ này để nói đến người đã rời xa anh.


- Anh bây giờ là con số không!


          Vừa nói anh vừa khép đầu ngón tay trỏ vào đầu ngón tay cái thành một vòng tròn nhỏ trước mắt tôi. Nhìn anh cười chua chát mà tôi cảm thấy lòng mình quặn đau, và một cục đắng trào lên ứ nghẹn ngang cổ:


- Em đã biết anh gặp nhiều rắc rối, cuối đời vẫn phải gánh chịu khổ nạn. Nhưng anh nói về mình như vậy làm gì, buồn lắm. Những việc anh đã làm cho cuộc đời này chẳng phải đã quá đủ sao?


          Boudarel vẫn chưa thoát khỏi những suy nghĩ nặng nề, hình như anh muốn khẳng định điều gì đó với tôi:


- Anh muốn nói: không sức khỏe, không tiền tài, không danh vọng và không rất nhiều thứ khác nữa.


          Tôi thoáng nghĩ trong đầu: “Người gì ngoan cố quá đi, bực mình!” Rồi liền đế thêm vào cho đủ:


- Còn “bất lực” nữa chứ! Anh có nhớ đã nói với em như thế trong điện thoại cuối năm ngoái không? Em đã mất ăn mất ngủ về nó, vì đâu dễ gì anh cho em biết những đau buồn của mình. Chắc tinh thần anh lúc ấy tồi tệ lắm. Ðó là cuộc nói chuyện đầu tiên của mình sau ba mươi tám năm, anh nhớ không?


          - Anh nhớ rồi. Anh đúng là con số không và bất lực thật sự. Em vẫn yêu anh chứ?


          Anh nói câu đó với vẻ điềm nhiên và còn nhìn tôi mỉm cười. Ðôi mắt xanh của anh còn muốn nói gì thêm mà thăm thẳm lạ lùng. Tôi cảm thấy bị thôi thúc như cần khẳng định điều gì đó với anh:


- Nếu không sao em lại đang ôm anh chứ? Em đã yêu những gì anh có, kể cả cuộc đời đầy thác ghềnh, những đau khổ và bất hạnh của anh.


          - Cảm ơn em. Anh hạnh phúc lắm! Anh rất nhớ đường Cột Cờ và phố Hàng Bông Hà Nội, vì những nơi ấy đã từng in dấu kỷ niệm của chúng ta.


- Còn cả đường Hoàng Diệu, đường Trần Phú và vườn Bách Thảo nữa. Ngày đó, mình đã nương vào bóng tối mờ ảo của ánh điện bị khuất dưới những tàn lá sấu, những tán cây xà cừ để đến với nhau - bởi luôn sợ bị “người ta” bắt gặp. Anh nhớ không?


          Anh không nói gì, chỉ cười hiền và nhìn đắm đuối, rồi hôn lên trán, lên mắt tôi thật nhẹ nhàng.


          Ðể biết thêm về anh, tôi chẳng giữ ý nữa mà huyên thuyên hỏi chuyện ngày xưa:    


- Khi em “bay” mất rồi, anh sống thế nào?


          Anh nhìn tôi mà mắt đăm đắm xa xăm, chậm rãi trả lời:


- Anh buồn cùng nhiều nỗi buồn khác nữa. Nó mang tính chính trị, em đừng biết thêm làm gì.


          - Em rất muốn biết, vì nó liên quan tới anh mà.


- Nhà nước Việt Nam đã tỏ ra không hiểu anh và các bạn bè của anh nữa. Ðó là những người đã kề vai sát cánh, đã hết lòng vì Việt Nam trong suốt chín năm kháng chiến. Chuyện dài, nó vừa tế nhị vừa phức tạp và nặng nề lắm, em đừng quan tâm cho khổ.


          - Anh muốn nói đến Rudy Schröder, Erwin Borchers, Ernst Frey phải không? Và cả Walter Ullrich, Georges Wachter nữa?


- Sao em biết những người bạn này của anh?


- Em biết vì đã được đọc một số bài viết về họ, những con người đáng kính. Họ là những trí thức và quân nhân đã từ bỏ hàng ngũ của mình, trung thành với sự nghiệp kháng chiến. Họ mong muốn tham gia vào một hoạt động chính nghĩa có tính chất đạo lý. Họ từng coi Việt Nam là tương lai, là tiền đồ, là đất nước của họ; và họ đã xả thân xứng đáng với lý tưởng đó, Em còn biết cả tên Việt (*) và trách nhiệm quan trọng của từng người trong thời kỳ đó nữa cơ. Họ đã mang những cái tên rất hay và ý nghĩa anh ạ.


- Cảm ơn em đã hiểu về họ như thế. Giá như nhân dân Việt Nam đều hiểu họ như em, chắc chắn các bạn anh sẽ vui lắm, dù có người đã ở thế giới bên kia.


- Chắc có điều gì đó không được thông suốt hoặc nhầm lẫn thôi


anh à. Em tin lịch sử sẽ làm sáng tỏ mọi điều. Việt Nam là đất nước thủy chung, đâu thể quay lưng với những ai đã hết lòng vì mình. Anh đừng tự dằn vặt cho thêm khổ tâm. 


……………………………………………………………………………………


(*) Walter Ullrich ở trong quân đội lấy tên Hồ Chí Long


- Georges Wachter vốn là kỹ sư được đưa vào quân giới với tên Hồ Chí Thọ


- Rudy Schroder có tên là Hồ Ðức Nhân, làm ở Ðài Tiếng nói Việt Nam


- Ernst Frey trở thành Nguyễn Dân phụ trách huấn luyện quân sự


- Erwin Borchers có tên là Chiến Sĩ, làm báo địch vận.


          - Anh và các bạn đều hiểu Việt Nam, yêu Việt Nam và tin Việt Nam nên mới dấn thân một cách nhiệt thành đến thế. Em biết không, các bạn anh từng tự hào coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình đấy!...


          Nói tới đây, anh đột ngột ngưng lại nhìn tôi với ánh mắt thăm thẳm. Có lẽ thời trai trẻ của anh đang cuốn xoáy, ào ạt xô về. Lòng tôi như thắt lại, lặng đi hồi lâu. Cảm thấy câu chuyện không thể dừng ở đây, tôi phải nói điều gì đó cho anh bớt nặng nề:


- Anh à, ai cũng biết mọi vật luôn thay đổi, và những thay đổi đó luôn có nguyên nhân của nó. Huống hồ một đời người, một thể chế, hay một thế hệ. Tất cả đều bị chi phối bởi những trạng huống lịch sử của nó. Một lần đổi thay là một lần tái sinh, hoặc ngược lại. Những bước đi của sự đổi thay có thể rất ngay ngắn, nhưng cũng chắc gì đã hoàn toàn chỉn chu, chắc gì không có những bước lệch lạc. Và những bước lệch lạc ấy ai dám chắc không có những sinh linh bị giẫm đạp, hả anh! Tuổi trẻ của anh với tấm lòng đầy nhân ái và trái tim nóng hổi nhiệt tình, anh hăm hở bước đến thế giới đại đồng như mình hằng mong ước, và không hề bận tâm đến án tử hình đã bị chính phủ Pháp tuyên vắng mặt. Anh đã hóa thân thành một người Việt Nam chân chính để cùng đi tới đích. Trên mỗi bước đường anh đi có quá nhiều thác ghềnh, chông gai, nụ cười và nước mắt. Anh đã phải trả giá bằng sinh mạng của mình bởi con đường đã chọn. Mình chỉ là hạt bụi của lịch sử thôi mà... 


Tôi chợt nghe anh cười thành tiếng. Ngưng ngay sự huyên thuyên của mình, tôi cũng cười theo:


- Anh cười em hả? Cười em nói linh tinh chứ gì?


          - Em không nói linh tinh. Em giỏi lắm!


- Anh cười em vì dám nói chuyện lịch sử và triết học với giáo sư triết, nhà “Việt Nam học“ phải không? Em bất chợt “to gan” một chút vì thấy anh buồn quá, chịu không nổi.                                      


          - Em muốn an ủi anh hở? Anh cảm động lắm. Em có hay trao đổi cùng bạn bè về những vấn đề tương tự?  


- Dạ chưa bao giờ. Em chỉ để dành chuyện trò với anh thôi.


          Anh lại quàng vai tôi, vỗ về. Tôi vùi đầu vào ngực anh nũng nịu:


- Em xin lỗi đã khiến anh nhớ lại những ẩn ức một thời. Thôi anh nói chuyện vui cho em nghe đi.


 


          - Anh không có chuyện nào vui. Thời kỳ ấy anh buồn lắm.


          Tôi đành gỉa vui, năn nỉ:


- Thôi mà, chuyện anh lấy vợ và sinh con là vui chứ, anh kể đi.


          - Sau một thời gian ngắn anh đã lấy vợ và có một bé gái xinh đẹp. Anh hy vọng việc đó sẽ giúp mình vui lên và sống tiếp. Nhưng chỉ ít lâu sau anh đã cùng vợ con rời Việt Nam để sang nước thứ ba làm việc và sinh sống, vì không thể về Pháp bởi cái án tử hình. Khi ở đó, anh trở thành kẻ thất thế. Ít lâu sau, vợ anh bỏ đi cùng đứa con gái còn bé xíu. Ðó là năm 1964, anh đã rất buồn về chuyện này. Năm 1966 anh được lệnh ân xá khi tướng Charles de Gaulle lên nắm quyền. Anh về lại Pháp năm 1967 sau hai mươi năm xa cách, và dạy ở Ðại học Denis Diderot (Paris 7) cho đến ngày nghỉ hưu.


Ðầu những năm chín mươi anh lại gặp nạn, đây là thời kỳ bi đát và đen tối nhất đối với anh. Những thế lực cực hữu Pháp đã xúi giục một số cựu tù binh Pháp ở Ðông Dương vu cáo anh là cai ngục, là chính ủy, là hung thần ở trại giam M113 thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc. Họ đòi truy tố anh vì “tội ác chống nhân loại”, bắt anh phải “trả giá” cho sự dấn thân của mình. Báo chí và các cơ quan truyền thông của Pháp đã không tiếc lời mạ thị, bôi nhọ và lên án anh một thời gian dài. Họ đòi lật lại vụ án tử hình, họ bôi bẩn tường nhà, thậm chí có người quá khích đã bắn vào nhà anh. Thời kỳ ấy anh thật đơn độc và đau lòng vì những người bạn từng cùng chí hướng nay bỗng quay lưng. Anh thật sự thấm thía khi suy ngẫm về “hành trình” của mình.


- Bouda ơi, thôi đừng nói nữa. Em đã hình dung được và hiểu tất cả rồi. Anh hãy bình tâm bỏ hết mọi chuyện qua một bên nhé. Hãy nâng niu từng phút sống còn lại của mình, đó là điều quan trọng nhất của anh bây giờ. Em xin anh, được chứ?  


          Bỗng anh ôm tôi vào lòng thật chặt như sợ lại “bay” đi mất. Ánh mắt thiết tha như muốn nói điều gì nhưng không thốt thành lời. Và những ngón tay anh cứ lặng lẽ nhẹ nhàng, chậm rãi mơn man trên tóc tôi…


         


Thảo Hương chợt xuất hiện trước cửa phòng. Biết phút chia tayđã đến, gương mặt anh hơi biến sắc. Nhẹ nhàng rời anh đứng lên, tôi quay lại nắm chặt hai bàn tay anh, khẽ khàng:


          - Anh à, mẹ con em sẽ về Ðức ngay đêm nay, vì ngày mai phải


làm việc. Bây giờ phải chia tay anh rồi. Tuần sau em sẽ trở lại Paris và ở bên anh thật lâu.


- Em nhớ nhé. Anh đợi lắm đấy.


- Dạ, chắc chắn mình còn gặp nhau mà. Anh yên lòng tịnh dưỡng nha.


Anh ôm tôi hôn và lưu luyến chia tay. Tôi nhớ mãi dáng anh khó nhọc khi chống tay lên ghế đứng lên, men theo thành giường rồi dựa cửa nhìn theo, vẫy vẫy…


 


24. Tin dữ từ Paris


Hai giờ sáng, điện thoại bàn réo gióng giả. Tôi hoảng hốt bật dậy, chạy vội vàng ra phòng khách nhấc máy. Một giọng đàn ông từ đầu giây bên kia, tức tưởi:


- Mất rồi em ơi!


- Anh nói sao?


Anh Phước (*) nhắc lại mà như gào lên trong máy:


- Boudarel mất rồi. Anh vừa xem cáo phó trên truyền hình Paris. Không thể đợi đến ngày mai mới cho em hay, nên anh phải gọi ngay về cho em giờ này.


Tôi choáng váng muốn xỉu:


- Anh Phước nói sao? Làm ơn nói lại cho em nghe đi!


Tự nhiên anh nói với tôi chậm rãi hẳn lại:


- Georges Boudarel đã mất rồi. Ngày 26 tháng 12. Em nghe rõ chưa?


- Dạ, em nghe được rồi. Mà... có thiệt không anh Phước?


- Em hỏi kỳ cục quá, truyền hình Pháp đọc cáo phó mà không đúng hả!


- Em xin lỗi. Họ còn cho biết thêm gì nữa không anh?


- Anh không nhớ hết đâu. Chỉ nhớ là họ có nhắc nhiều đến công trạng của Boudarel đối với Ðảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam.


Tôi lẩm bẩm như người mất hồn: “Bouda ơi! Vậy là em vĩnh viễn mất anh thật rồi sao…”


- Em bình tĩnh nhé, đừng quá buồn mà ảnh hưởng sức khoẻ. Xin chia sẻ với em. Anh sẽ gọi về cho em biết thêm thông tin sau.


- Dạ, cảm ơn anh Phước đã báo cho em tin dữ này. Anh cho em gửi lời thăm chị.


 


Buông rơi điện thoại, ngã người xuống salon, tôi nghe những tiếng ong ong vang trong đầu. Thứ âm thanh kỳ dị này như cắt cứa từng nhát sắc ngọt vào óc tôi. Vội vàng nhắm mắt lại, tôi thấy mình hụt hẫng, chao đảo như đang quay trong tâm bão… Chỉ còn một mình, với nỗi đau, nỗi kinh hoàng thật sự, tôi cắn chặt răng để không bật ra tiếng khóc. Hai quai hàm bỗng nhiên bị …………………………………………………………………………………………


(*) Một người bạn Pháp gốc Việt ở Paris.


cứng lại, run rẩy lắp bắp tên anh. Sao lại như thế! Mới vài đêm trước                              thôi, trong chiêm bao tôi đã nghe anh gọi tên mình, tuy yếu ớt nhưng có vẻ khẩn thiết, hối thúc lắm. Hình như có điều gì linh thiêng mách bảo tôi phải sang Paris với anh ngay. Chưa kịp làm gì hết thì anh đã… "Mới gọi đó mà Bouda! Lẽ nào anh trốn chạy em nhanh như vậy chứ? Không nhớ mình đã hẹn hò gì với nhau sao!... Bây giờ mới hơn hai giờ sáng, em phải làm gì cho anh được đây”.


Tôi luống cuống, quýnh quíu. Biết là mình phải làm gì đó cho anh ngay tức khắc nhưng lại không biết phải bắt đầu từ đâu. Cứ ngồi thần ra đó mà đau hoài thì cũng không ổn. Tôi thật sự muốn bay qua Paris để thắp cho anh nén nhang rồi quay về cũng được. Nhưng tôi lại không có điều kiện để thực hiện một chuyến bay quá gấp gáp như vậy. Phải làm sao đây? Tôi không thể yên lòng nếu không làm một việc gì đó cho anh ngay. Chợt nhớ tới cuốn nhật ký - trong đó tôi đã cẩn thận chép lại những lá thư của anh gửi về, những cuộc chuyện trò qua điện thoại và những trang tôi viết về anh. Tất cả giờ bỗng trở thành quá khứ. Ranh giới giữa hiện tại và quá khứ sao mong manh như tơ tóc. Sẽ chẳng bao giờ tôi còn được nghe giọng nói trầm ấm của anh từ Paris gọi về nữa. Những lá thư điện tử, thư qua bưu điện hoặc thư tay của anh sẽ không bao giờ tôi còn được nhận nữa. Không thể tin điều đó Bouda ơi… Tôi bật đứng dậy lục tìm cuốn nhật ký, rồi đọc ngấu nghiến từ đầu đến cuối. Càng đọc càng nhớ và càng thương anh vô cùng.


Ðọc xong cuốn nhật ký thì trời cũng vừa hừng sáng, tôi ra phòng khách bật đèn, tìm chọn một nơi thích hợp để sửa soạn hương khói cho anh. Tôi phải làm công việc thiêng liêng này, vì biết anh chẳng có ai chăm sóc cho việc ấy. Hơn nữa, trọn một đời anh đã vì Việt Nam, ít nhất cũng còn một người Việt tưởng nhớ tới anh chứ! Tôi muốn tỏ lòng yêu kính, biết ơn và thương tiếc anh theo phong tục Việt Nam. Nhất định tôi phải làm một việc gì đó để phần nào bù đắp cho sự quên lãng của nhân tình thế thái. Và tôi sẽ làm được.


 


Nhà tôi nhỏ lắm, nơi đẹp nhất, trang trọng nhất đã dành đặt bàn thờ ông bà và cha mẹ rồi, chỉ còn nơi đặt tủ sách gia đình là tạm coi được thôi. Tôi quyết định chọn nóc tủ sách làm bàn thờ anh. Phủ ngay ngắn lên nóc tủ một tấm vải trắng rồi đặt di ảnh của anh lên đó. Chờ trời sáng rõ, tôi đi chợ mua hương hoa, trái cây, chân đèn, bát nhang và nến về làm lễ. Có một việc quan trọng tôi cần làm ngay là phải thông báo tin dữ này cho những người bạn của anh biết, đó là anh Bảy Cần, chị Xuân Mai, anh Huỳnh Văn Tiểng, anh Nguyễn Văn Kiên... Họ là những người bạn rất quý trọng và thương mến anh, từng đồng cam cộng khổ ở chiến khu Ð thời chín năm kháng chiến, và ở Ðài Tiếng nói Việt Nam lúc miền Bắc mới trở lại hòa bình (1954). Tôi cảm thấy ấm lòng khi nhận được những lời an ủi, chia buồn từ bạn bè của anh, nhất là những nhắc nhớ về kỷ niệm một thời oanh liệt. Họ đã cùng bên nhau chia sẻ bao hy sinh gian khổ, mà vẫn giữ vững lòng tin vào một ngày mai của Việt Nam. Tôi nén nỗi buồn đau vào lòng để lo chu toàn cho anh. Mỗi bữa tôi đều


cúng cơm và thầm thì chuyện trò với anh bên di ảnh. Vẫn ánh mắt sáng và nụ cười trìu mến nhân hậu, anh nhìn tôi an ủi nâng đỡ. Ánh mắt ấy như níu tôi gần bên anh mãi.


                                                             


* * *


Một hôm chị Hai tôi đến thăm, sau khi thắp nhang trên bàn thờ tổ tiên ông bà, chị cũng thắp nhang và khấn trước bàn thờ Boudarel. Lòng tôi ấm lên một chút vì được chị của mình chia sẻ. Không ngờ sau đó chị gọi tôi lại gần, ôn tồn nói:


- Em không đặt bàn thờ “ông Tây” này ở đây được đâu. Nó vừa đối diện lại vừa cao ngang bằng với bàn thờ ông bà cha mẹ mình. Coi không ổn chút nào. Hơn nữa bạn bè tới nhà chơi, em sẽ trả lời với họ ra sao? Có phải rắc rối cho em lắm không!


- Em chỉ đặt bàn thờ anh ấy tạm thôi mà, để tiện hương khói và cúng cơm mấy ngày đầu. Boudarel được một trăm ngày thì em sẽ đưa anh lên chùa Thiên Minh. Em đã xin phép thầy trụ trì ở chùa đó rồi, đến ngày thì các thầy sẽ làm lễ cầu siêu và nhập Hương Linh anh vào chùa, chị à.


Tôi muốn dừng lại, nói như vậy chắc chị Hai hiểu và thông cảm rồi. Tự dưng, như cảm thấy còn ấm ức trong lòng, tôi lại ngập ngừng nói tiếp:


- Nhưng mà… chị Hai à… đây là nhà của em… nên… em có quyền làm những việc cần thiết mà lòng mình muốn chứ. Em có làm ảnh hưởng gì tới ai đâu. Bạn bè có hỏi thì em trả lời: “Ðó là một người đặc biệt”. Vậy cũng được chứ sao!


Chị Hai có vẻ phật ý, nghiêm mặt nhìn tôi, giọng hờn mát:


- Ai không biết là nhà của em. Chị chỉ nói vậy, còn tùy em suy nghĩ.


- Dạ, tất nhiên rồi. Em sẽ liệu mà.


Thấy tôi xuống giọng, không ngờ giọng chị cũng mềm lại, nhưng chẳng khác mệnh lệnh tí nào:


-           Nghe lời chị, tính liệu ngay đi!


Tôi buộc miệng lẩm bẩm: “Tội nghiệp cho anh quá! Nhang khói chưa ấm chỗ!”.


Nhà tôi nhỏ hẹp nhưng lại nhiều cửa sổ. Cái nào cái nấy chiếm gần hết diện tích mấy bức tường. Ðã vậy bức tường bên trái còn bị thấm ẩm, không thể đặt bàn thờ anh vào đó được. Những khoảng trống còn lại thì đều không thể là nơi đặt bàn thờ. Tôi thấy ý kiến chị Hai cũng đúng, vậy phải làm sao đây. Suy đi tính lại mãi, tôi đành quyết định dời bàn thờ anh vào phòng ngủ của mình. Chỉ có cách đó là ổn nhất, không sợ ai nhòm ngó, cũng không sợ có lời ra tiếng vào. Phòng ngủ là thế giới riêng biệt của tôi, chắc chắn sẽ an toàn tuyệt đối. Nghĩ sao làm vậy. Tôi thắp cho anh ba nén nhang và nói rõ


việc di chuyển bàn thờ, xin anh hiểu và phù hộ: “Vậy cũng tốt anh ạ. Em sẽ nhang khói và chuyện trò với anh mỗi đêm…”.


Tôi loay hoay xếp đặt cho yên chỗ của anh trong phòng mình, phải là nơi trang trọng nhất mới được. Di ảnh của anh được đặt trên mặt chiếc tủ nhỏ bằng gỗ gõ màu ấm, nằm sát tường gần cửa phòng. Lư trầm, lọ hoa, bình nhang, chân nến cũng được sắp bày ngay ngắn. Tôi hài lòng ngắm nghía rồi mỉm cười, cảm thấy rất ấm áp vì điều đó. Phòng ngủ là không gian riêng tư, không ai tham gia ý kiến gì được. Tôi hoàn toàn yên tâm với quyết định của mình.


Ban thờ anh đặt trong phòng tôi được gần ba năm, cứ ngỡ là sẽ mãi mãi. Nhưng không ngờ bất ổn lại đến, khiến tôi muốn làm ngơ cũng không được.


Bữa đó là một ngày hè oi ả, tôi nhìn ra cổng khi nghe có tiếng còi xe hơi. Vui quá vì Lệ Trâm và Mỹ Dung đến thăm. Chúng tôi là bộ ba thân thiết từ nhiều năm trước. Tôi là biên tập âm nhạc, Lệ Trâm là ca sĩ, Mỹ Dung là kỹ thuật âm thanh của Ðài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Mấy chị em thường hỗ trợ nhau trong công việc và có nhiều điểm chung nên mỗi lần gặp mặt là chuyện trò không dứt. Tếu táo thả ga, những trận cười cũng được xả ra hết cỡ.


Ðang ăn uống ngon lành, quạt máy đã bật số lớn nhất mà Lệ Trâm vẫn luôn miệng kêu nóng bức chịu không nổi. Tôi đành thỏa hiệp với hai nàng:


- Ðược rồi, cứ ăn xong thì sẽ mát ngay. Vào phòng chị mở máy điều hòa là ổn chứ gì.


Lệ Trâm nhanh nhảu:


-           Ðem đồ ăn vô phòng luôn đi chị. Bảo đảm sẽ ăn ngon hơn đó.


Mỹ Dung lên tiếng phản đối liền:


- Ðem đồ ăn vô phòng ngủ cho nó hôi rình hả. Ăn xong đã cô nương!


- Yên trí đi, chị vô phòng mở máy điều hòa trước nghen.


Ba chị em tôi chất lên một cái giường đôi, trong căn phòng tuy nhỏ nhưng mát rượi. Tha hồ “tra khảo” nhau đủ chuyện buồn vui. Ðang cười như nắc nẻ bỗng Lệ Trâm lộ vẻ thảng thốt, khựng lại hỏi:


- Ủa, chị Mai thờ ai vậy?


- Bí mật.


- Bí mật lắm hả? Sao tụi em không biết gì hết?


- Ðã nói là “bí mật” mà tụi em biết sao được.


Mỹ Dung cũng vội quay về hướng có đặt bàn thờ, lên tiếng:


- Người Pháp hả chị Mai? Ðẹp quá! Chắc là người vô cùng đặc biệt của chị phải không. Kể cho tụi em nghe “bí mật” này đi. Giữ kín hơi bị lâu à nhen.                                   


- Chuyện dài mà không vui em ơi. Mình nói chuyện khác đi.


Lệ Trâm không chịu thôi, giọng nửa đùa nửa thật:


- Chị không kể cũng được, nhưng em thấy không nên để bàn thờ anh trong phòng ngủ của chị. Bộ định không lấy chồng nữa hả?


Tôi thụi nhẹ vào lưng Lệ Trâm, trả lời cho qua chuyện:


-           Trời ơi, con nhỏ này rắc rối! Có ai dòm tới chị nữa đâu mà…


Mỹ Dung cũng góp thêm:


- Em thấy Trâm nói đúng đó. Lỡ ai vô phòng chị mà thấy bàn thờ vậy, thì còn dám gì nữa…


- Hai em là ngoại lệ. Chưa có ai dám “liều mạng” vô đây đâu. Thôi, đừng nói linh tinh nữa. Phòng chị là nơi yên ổn, an toàn nhất cho “người đặc biệt”  này đó. Chị tính rồi, đúng là không có chỗ nào tốt hơn.


Trâm vẫn khăng khăng:


 - Em chưa thấy ai đặt bàn thờ trong phòng ngủ bao giờ. Không tốt cho chị đâu. Nghe em, dời anh ra phòng khách đi. Thu xếp chỗ nào đó, cũng ổn thôi mà.


Không ngờ Lệ Trâm tỏ ra quan tâm và ân cần như vậy, tình cảm ấy đã khiến tôi chạnh lòng, cảm thấy quyết định lâu nay của mình bị lung lay.


 


Một hôm khác Hữu Dũng đến thăm, tôi đem chuyện này tâm sự với em trai của mình. Dũng trầm ngâm hồi lâu rồi nói:


- Chị để em sắp đặt và dời bàn thờ anh ra phòng khách cho. Ý kiến chị Hai, Mỹ Dung và Lệ Trâm đều đáng quan tâm. Mình sẽ khắc phục để tránh sơ suất chị ạ. Không nên chuyển dời bàn thờ nhiều, dễ bất ổn lắm, mà cũng tội cho anh nữa.


- Nhưng nếu dời anh ra phòng khách thì sao tránh được những tò mò thắc mắc của bạn bè, hả em?


- Chị lo gì chứ? Nhà của chị, chuyện của chị, quyền của chị - có nhất thiết phải giải thích với mọi người không? Ai thân thiết thì chị tâm sự, không thì thôi. Hơn nữa, việc hương khói cho anh Boudarel không phải chỉ cho riêng chị đâu, nó còn mang ý nghĩa lớn hơn nhiều đó.


- Ý em là sao?


- Chị không nghĩ tới à? Nếu ai hiểu biết về cuộc đời và sự nghiệp của anh Boudarel cũng sẽ nể trọng anh vô cùng. Người Việt Nam lại càng hơn vậy. Em nói thật đó. Nén nhang chị thắp cho anh mỗi đêm còn có sự gửi gắm của nhiều người nữa. Chị đừng quên anh có rất nhiều bạn bè, cả những nhà trí thức lớn trên thế giới, họ rất yêu quý, kính trọng và đã hết lòng vì anh(*). Em tin anh sẽ vui khi biết vẫn còn nhiều người tưởng nhớ và nặng lòng với mình. Ðâu phải thân xác không còn là xong hả chị, ảnh biết hết đó!


- Cảm ơn em đã thấu hiểu và dành cho anh nhiều tình cảm.                     


- Chị yên tâm, để em lo cho.                                      


Vừa dứt tiếng, Dũng đã rời khỏi salon, đi lui đi tới ngắm nghía căn phòng. Bỗng Dũng quay lại, đột ngột hỏi tôi:


- Mình đặt di ảnh anh trên đàn piano được không chị? Vừa đạt yêu cầu vừa đẹp và lịch sự.


- Chị sợ bị vang động, ảnh hưởng không tốt em à.


        - Chắc không sao đâu, anh sẽ nghe nhạc hàng ngày càng tốt.


Vừa nói Dũng vừa cười.


- Nếu không có chọn lựa nào khác, chị đành phải ít đụng đến đàn thì mới


…………………………………………………………………………………………..


(*) - Nhà văn Nguyên Ngọc: “G.Boudarel đã sống một cuộc đời rất gian nan, nhiều sóng gió, nhưng thật đẹp. Luôn là một con người trung thực đến cùng và là một chiến sĩ của tự do”.


- Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (hiện ở Moskva): “Anh là một con người luôn luôn quan tâm đến cái mới, luôn luôn đứng về phía cái đúng; một người bạn thẳng thắn, cởi mở”.


- Nguyễn Văn Kiên (nguyên biên tập Ban Pháp ngữ Đài TNVN, trong bài: Boudarel – người bạn, người đồng chí của nhân dân Việt Nam: “Anh là một người Pháp chân chính đã đóng góp công sức, trí tuệ vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Anh là người xứng đáng được quý trọng và biết ơn”…


- Daniel Hémery, nhà sử học, là đồng nghiệp của G. Boudarel trong suốt 30 năm, và cùng hoạt động trong Mặt trận Đoàn kết với Đông Dương (FSI): “Georges không phải chỉ là một bộ óc bác học, một giáo sư xuất sắc, luôn luôn tìm tòi, đọc sách bốn phương tám hướng, học hỏi không ngừng nghỉ để giảng dạy, thực sự chiến đấu cho một đường hướng giáo dục mà chúng tôi muốn thực hiện. Bouda thực sự là một militant…”


- Agathe Larcher trong bài viết Thầy Georges: “… Qua những bài giảng của ông, tôi học được nhiều nhất, xa nhất, không phải chỉ học làm sử, mà học cả làm người… Tôi yêu quý thầy Boudarel vì ở ông, tôi hiểu được sự đa nghĩa của con người, sự phức tạp của mỗi chọn lựa vượt ra ngoài khuôn phép của thành kiến và chuẩn tắc của thời đại, sự mảnh mai, mòn mỏi cũng như mạnh mẽ của con người… Georges Boudarel làm tròn công việc của một nhà giáo và thực sự đã làm hơn thế nữa rất nhiều.


- Tạp chí Diễn Đàn số 112, Paris tháng 12. 2001: “… Bên cạnh Bouda đã thành hình một Ủy ban ủng hộ, mà hàng đầu là hai nhà toán học, bạn chí cốt của Việt Nam – bà Hélène và ông Laurent Schwartz (L. Schwartz, cha đẻ của thuyết phân bố I théorie des distributions, giải thưởng Fields, thành viên Viện hàn lâm khoa học Pháp; người đã thành lập các Ủy ban Việt Nam thập niên 1960)… Một ban trị sự của hội đã được thành lập, gồm Laurent Schwartz (chủ tịch danh dự), Jeanine Gillon (chủ tịch), Catherine Derivery (tổng thư ký), Heinrich Schutte (thủ quỹ), Christopher Goscha, Nguyễn Ngọc Giao, Jean - Claude Serex.


- Tin Nhanh Việt Nam (24.3.2008) trong Câu chuyện đời người của một nhà Việt học (N.N.Giao):“…Niềm an ủi lớn là xung quanh Boudarel, đông đảo bạn bè Pháp, Việt, Mỹ, Đức đã bảo vệ ông, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho ông trong suốt 12 năm cuối đời.


được.


- Quyết định vậy đi. Chị đừng băn khoăn nữa. Em thấy anh “ngồi” ở đó là ổn nhất.


- Thôi vậy cũng được. Chị vào phòng thắp nhang cho anh rồi mình chuẩn bị làm công việc nha.


 


Bàn thờ Boudarel đặt trên đàn piano gần sáu năm rồi, không đêm nào tôi quên thắp nhang cho anh. Mỗi lần thầm thì với anh về những buồn vui trăn trở, về những nỗi đời cực nhọc, ngang trái, ánh mắt và nụ cười anh như hóa  giải hết mọi điều cho tôi. Ánh mắt và nụ cười ấy luôn tỏa ra ánh sáng dịu nhẹ, vừa đủ ấm áp, vừa đủ nâng đỡ tôi những lúc chông chênh nhất.


"Bouda ơi! Cứ thế nhé! Em sẽ hát bài Đợi chờ(*) cho anh nghe mỗi ngày!".


(còn tiếp)


 


Nguồn: Lật từng mảnh ghép. Tự truyện của Trương Tuyết Mai. NXB Hội Nhà văn, 2014. Tác giả gửi www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »