tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
31.07.2013
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (3)

Những bài báo


Tự thuật cảnh Hương Giang buổi chiều


Thành Nam mây tạnh, bóng ác hầu chênh. Gió phất phơ sóng bạc vỗ gành, cây ẩn ước rớn vàng chói nước. Mấy lớp lâu đài chồng chập, đôi ngàn thảo thọ xanh um. Lắng giọng ve như tiếng sáo nhặt khoan, thoảng hơi gió như cung đàn cao thấp. Cảnh đã xinh mà tình lại thích, khéo thừa ưa gặp gỡ lúc thanh nhàn. Vui chân dạo bước thạch đề, nhìn xem cảnh trí có bề phong quang. Như khi ấy: bóng chiều bảng lảng, xe ngựa rộn ràng, các sở làm việc đã nghỉ, chuông trường Giám, trống tòa Khâm, kiểng Quốc học, còi hỏa xa, chiêng nhà bệnh đều náo nức mà thổi một khúc nhạc mới văn minh. Sáu nhịp cầu Thành Thái chật ních, nào người danh lợi, nào kẻ bán buôn, qua qua lại lại, trông đó mà sanh cái vô hạn tư tưởng, cảm tình phong phú ấy biết bao nhiêu. Ôi! Người sanh ở đời phải trông thi thiết[1] đã đem thân vào trường tranh cạnh, thì nóng sốt nóng nả mà đua chen cho tới cấp văn minh, thế mới khỏi phụ ơn nhà, nợ nước, bằng không giảng cầu sự tấn hóa, mở mang đường lợi ích, để cho tan nát cái trí não, xua đùa theo ngày tháng như thoi, chẳng uổng quá vậy ru! Phương chi người mỗi ngày một đông, cảnh một ngày một đổi. Thần kinh xưa vẫn là thắng cảnh phồn hoa đệ nhất trong nước. Núi có Ngự Bình, Kim Phụng, sông có Hương Thủy, Bồ Nguyên. Tả Bạch Hổ, hữu Thanh Long, quanh mấy dặm vẻ vang tòa cẩm tú. Cũng phong cảnh ấy, cũng nhân vật ấy, xưa vốn chất phác, tả thủy mạc, nay nhờ tay thày thần bút, điểm nhiễm[2] cho thành cái bức tranh sơn thủy linh động. Thiệt nên yêu mến mà quí hóa thay!


Ngàn năm vẫn nước non nhà


Cảm ơn đào chú[3] mới ra anh tài!


 Xem như cảnh Hương Giang lối này, thuần phong tục mỹ, vật phụ đàn khương, cũng đáng giá ngàn vàng một khắc, dễ thiếu chi năm bước một lần.


 Đầy đàng bửu mã[4] hương xa, nức dặm thanh sơn thủy tú. Nhan sắc ấy chi nhường Tây Tử, Hiệu Tần[5] này thẹn với Đông Thi. Nôm na góp nhặt mấy lời, dám ghen ả Tạ đua tài nàng Ban.


                                                                Nam Phong, số 13, tháng 7-1918


Ngày xuân đi chơi núi


Đào say sưa thắm, hớn hở chào xuân, liễu nõn nà xanh, dịu dàng trước gió; oanh chào ngõ hạnh, gần xa nô nức tiếng oanh, én liệng vườn mai cao thấp nhởn nhơ cánh én. Xuân quang vô hạn, yên cảnh biết bao! Đầy đàng ngựa lại xe qua, rực rỡ quần điều áo ngải. Chen chân kẻ ngược người xuôi, lố nhố mũ đen, dù trắng. Trời không mưa không nắng, người bán cổ bán kim, cụm năm, cụm bảy, tụi trẻ tụi già, đều lũ lượt kéo nhau đi chơi xuân. Trông đó cũng vui thay! Nhưng không thích hợp với tính tình tôi, thời cũng không lấy gì vui lắm, vậy nên lên xe tay bảo nó kéo dần dần noi theo đàng Jules Ferry[6], qua cầu Bến Ngự thẳng tới núi Ngự Bình, ngồi trong xe ngắm phong cảnh mới thiệt là thú. Hai hàng cây bóng đổ êm đềm, dưới con đàng bằng thẳng trắng xóa, hình như trải vóc lụa mấy nghìn thước, hai bên viền xanh; trông mấy khóm dương, ẩn ước lâu đài chồng chập. Ngoài thì một dải Hương Giang nước trong văn vắt, thuyền chài cá, đò đưa người, nháo nhức những nơi tân thứ. Hết sông đến núi, rừng cỏ đìu hiu, dặm trời khoáng đãng. Khi ấy chừng hơn tám giờ, mặt trời còn chưa cao mấy, màu sương còn ươm đượm ngành dương khóm trúc, vùng cỏ nội hoa, vẫn còn hạt nước lác đác, ánh bóng mặt trời nhấp nhới, xa trông hình như mấy muôn hạt ngọc hoàn chiếu theo đầy đồng cây lúp xúp vậy. Hoa vàng hoa tím, lá biếc lá xanh, lũ bướm lũ ong, bay qua liệng lại ngẩn ngơ nhìn mãi, bỗng chốc miệng ngâm câu cổ thi:


Thời nhân bất thức dư tâm lạc


Tương vị du nhân học thiếu niên[7]


Câu ngâm vừa dứt, thì xe kéo vừa sắp đến nơi; ngảnh mặt nhìn tường kia núi Ngự Bình là đấy. Núi ấy hình tự nhiên như cái bình phong của tạo hóa gây dựng nên một nền trấn cõi Việt Nam ta vậy. Bề cao kể từ mặt nước trở lên là 135 thước tây, mặt tiền nhắm ngay cột cờ, xa kinh thành độ chừng 4 kilomètres, cây thông kể hàng nghìn hàng vạn, chất ngất xanh um, vuông dặm đất bóng im mà mượt. Dưới chân núi có một cái nhà bia nho nhỏ niên hiệu Minh Mạng ngự đề thi nhất thủ, đàng đi lên đỉnh núi, có ba trăm ba mươi cấp đá xây. Từ xưa nay Quốc triều ta mỗi đến ngày mồng chín tháng chín, tiết đăng cao thường năm, vua năng ngự lên thưởng tiết tại núi ấy.


Khi ngài ngự xa giá về rồi, các quan và các tao nhân mặc khách, nhân ngày trùng cửu đó mà du sơn đề vịnh, hoặc có câu gì hay, đắc ý tuyệt diệu thì khắc vào cây thông để làm kỷ niệm, sang mấy năm trở lại đây, vẫn ít thấy, cũng lấy làm tiếc thay! Xưa kia con đường từ Bến Ngự đi lên giáp chân núi vẫn hẹp hòi; thế mà người ta vẫn chia lau rẽ lách, lại thường hay du lịch, lãm thắng[8]. Đến giờ bốn phía chân núi đều có đường quan rộng rãi, ban chiều chỉ có xe hơi xe ngựa rong ruổi, người Tây đi hóng mát mà thôi, còn người ta vắng vẻ không ai là kẻ đoái hoài phong cảnh, dấu vết của cựu thời. Ờ hay là hiện nay thời phương tấn thủ, thế đạo hoằng khai[9], trong xã hội những người tai mắt, ai nấy đều chăm chỉ vào trong học giới, công, kỹ xảo, bách ban cơ khí ngõ mong tiến hóa, mở mang cho kịp với thế giới văn minh. Ngày thêm một ngày, tháng trọn một tháng, coi tấc bóng như vàng, có đâu thong thả mà du sơn ngoạn cảnh, thưởng thắng, tầm u như đời trước đặng. Thế thì lại nên mừng cho phong cảnh nòi giống ta, vì một tấm nhiệt thành cao thượng ấy, chắc đặng hưởng tương lai hạnh phúc vậy. Địa linh xuất nhân kiệt, nhờ đất nước mới nên người, lòng yêu mến biết mấy mươi cho vừa.


Tôi là người đa sầu đa cảm ngắm phong cảnh chừng nào tôi lại càng nghĩ ngợi bâng khuâng chừng nấy. Tư tưởng đổi ra một cách khác, vì khi nãy tôi vừa mới gặp một bọn người đi chơi xuân, đánh áo đánh quần, sắm sửa rất bảnh bao làm cách văn minh, ra trang đài các, gẫm mình tự đắc trong tay sẵn có đồng tiền, khoe khoang tửu điếm trà đình. Ngày tiêu chừng nấy miễn cuộc chơi cho thỏa thích, dầu trăm ngàn chục cũng chẳng cần. Đua chen cho kịp giọng kịp hình kẻo sợ nửa mình thành hủ lậu. Ôi! sự cải lương là nghĩa làm sao? Chớ không phải là làm cho tốt bộ tướng ngoài, xài phí đồng tiền của đời mới gọi là cải lương, mới gọi là văn minh. Có câu nói: văn minh chẳng tại áo quần. Còn tự do pháp luật mới là tự do. Nếu người ta không biết điều tiết kiệm, chỉ chuộng sự phồn ba[10] quên mất cái bổn phận, cái nghĩa vụ của mình, phóng đãng hình hài, lắm lúc đến thương phong hóa, chi bằng khi nào muốn giải trí chúng ta nên mua vui với non nước, hưởng theo cái phong thú của tự nhiên của trời đất. Thanh giá thay! Còn gì thích hơn nữa. Lảm nhảm một mình, bóng mặt trời đã xế, xe kéo về đến nhà thì đồng hồ đánh bốn giờ, bèn lấy bút ghi lại mấy câu gọi là ngày xuân đi chơi núi.


Nam Phong, số 21, tháng 5-1919


 


Vấn đề Nữ học


Huế, le 5 décembre 1920


Thượng Chi tiên sinh văn kỷ,


 


Mới đây tôi có được đọc kỳ báo thứ 40 thấy có bài của Nguyễn tiên sinh bàn về vấn đề nữ học, tôi cũng vội vàng lấy làm vui lòng mà làm một bài gởi ra đây. Tôi cũng tự nghĩ rằng tôi là người thế nào mà dám cùng những bậc cao lớn tranh biện, huống hồ sự đời phải trái biết đâu mà chừng; nhưng cái lòng nhiệt thành của tôi đối với bọn nữ học ngày nay cũng có cái cảm tình không thể làm ngơ được, nên tôi sực nhớ cổ nhân có câu: Trí nhân bách lự, tất hữu nhất thất; ngu nhân bách lự, tất hữu nhất đắc, thế thời lời nói của tôi cũng vị tất toàn là vô ích hết thảy đâu. Nếu có ích lợi gì một tí, người ta cũng phải nên làm, làm để cho có ích! Nay cái vấn đề nữ học thật là một sự rất quan trọng thứ nhất trong mấy nghìn năm của nước ta, cho nên ý kiến mới cũ thường trái ngược nhau. Bởi vì “người ta muốn bước lên thời phải có vấp có ngã, chỉ duy đứng yên một chỗ thời không việc gì mà thôi”. Câu nói ấy ngài cũng từng bàn qua về bài trả lời cho ông Nam Minh trong số báo 35 đó. Nay tôi xin ví dụ như có hai con đường, một bên mới khoáng rộng bằng phẳng, lạ mắt khó trông, lại đông người đi, một bên con đường cũ thời hẹp hòi cỏ rạ um tùm, thường than vắng tẻ, tưởng không bao lâu họ sẽ quay sang bên con đường mới kia hết. Cách xô đẩy nhau bạo quá thành ra không có thứ tự, miễn đi được là hơn, dầu muốn ra tay ngăn trở cũng không phép vãn hồi cho đặng, là vì lòng khuynh hướng của người đời đã do theo thời thế mà xoay vần vậy. Người có trí thức nên coi theo chiều sóng gió mà đưa dần lên, chỉ nẻo đem lối cho khỏi lầm lạc, thời tốt hơn hết. Còn như câu nệ quá, thời tôi nghe như lời đắp đê cản nước của ngài đã nói, sau này muốn sửa sang cũng đành phải chậm trễ, mà lại thiệt hại nhiều bề.


Văn hèn ý cạn, dám đâu góp một phần ngôn luận, trời bắc gió nam, xin kính chúc hai chữ hương cát[11].


Đạm Phương


Một cái vấn đề rất khó giải quyết thay là cái vấn đề nữ học, đã lâu nay mà chưa giải quyết được. Có người bảo rằng con gái không nên cho học rộng, vô ích, vì không trông giao thiệp với ai, chỉ dạy biết nấu nướng may vá chăm chỉ trong việc gia đình là tốt rồi. Còn như học rộng, đỗ bằng cấp lớn, bằng cấp nhỏ, làm ra công này việc nọ, có nhiều điều không tiện, bởi vì tính tình người con gái yếu đuối mỏng mảnh dễ xiêu động, trong khi tốt nghiệp rồi, Nhà nước bổ đi làm công việc, xa cha mẹ vắng chị em, ít nghe lời khuyên răn, thường hay lung tính, sinh lắm sự dở dang, nghĩ mà nên sợ. Mà lại cũng có điều nên ghê nữa là người con gái thường thường hay có tính hẹp hòi nghĩ cạn, mỗi khi làm nên thời tự phụ, bảo mình là người gồm hiểu văn chương, thông biết sự vật, xướng cái chủ nghĩa tự do rất là kịch liệt, lạm quyền bình đẳng, không còn nghi ngại chút nào.


Đời xưa có nói: người đàn bà ghen không hại bằng người đàn bà dữ, trong đám gia đình mà thành ra thị chiến, cảnh ngộ như hoa tươi gấm đẹp, bỗng dưng như sấm động trời long, nói như thế thời ai nghe cũng rùng mình rởn óc, không còn chi là lòng ham muốn cho con gái đi học nữa. Cái hy vọng đã bị ngăn trở một cách mãnh liệt như vậy, e cho phần trông cậy của sự học vấn về sau phải sa sút, ấy đó lại thật là một điều đáng tiếc, vì “con sâu làm rầu nồi canh”, nông nỗi như thế, tưởng nên bàn qua mấy lời để cho chị em nhàn lãm.


Than ôi! Người ta ở đời quí hồ biết coi theo bộ máy đời mà xoay, ví như người muốn làm thợ khéo mà không bắt chước thức mới kiểu lạ thời không ai dùng; muốn làm người buôn bán mà không biết cách cất hàng cho hợp thời dụng thời không ai mua; làm kẻ học trò mà không biết khuynh hướng theo thời văn, thời khó bề thi thố, nhưng trong các nghề nghiệp muốn mới, muốn lạ, muốn khôn khéo đến đâu, mà phải tồn một phần trung hậu ở trong, người ta mới phục. Nếu thợ khéo đem lòng gian trá, buôn rành giữ mặt đảo điên, học hay mà nhiệm ý phóng túng, lắm khi cái nết xấu của mình nó làm hại đến cái nghề xứng đáng cũng là thường thấy. Bởi vậy cho nên thiên kinh, vạn quyển, đời nào nước nào cũng khuyên răn dạy bảo, cách ăn ở, việc công nghệ phải thay đổi mỗi ngày cho được thắng tiến, chớ không ai bảo thay đổi cái lòng trung tín thành thật đi bao giờ.


Trí với đức, tuy vẫn hai lẽ có khác nhau, nhưng mà nó có một mối liên lạc với nhau rất là mật thiết; bỏ một lấy một đều không hợp cả, phải gồm đủ hòa hai, nhiên hậu mới trọn vẹn một con người xứng đáng. Nay sự học đã biết hi thời thích dụng, chỉ còn cái nghĩa vụ của bổn phận chưa được hoàn toàn, thế là tại mình, trong hai phần bỏ rơi đi một nửa, khiến cho người bàng quan không phân biệt cho rõ, chi bằng cứ vì sự duy tân, mà người đàn bà mất hết phẩm hạnh, chẳng oan uổng sự học vấn lắm ru! Lấy lẽ công bình mà nói, thời những người tính nết hèn xấu, vị tất học đã đến nơi nghĩa lý sâu xa của sự học. Vả lại những người không theo tân học ai đã dám chắc là người trinh nhàn nhu thuận hết cả chưa? Điều ấy thực không sao giải quyết ngay được.


Cổ nhân cũng có câu: “Nữ tử vô tài tiện thị đức”. Nghĩa là con gái không tài ấy là đức. Trộm thấy nhiều người phòng khuê cửa các, ăn ở với cha mẹ không có lòng thảo, đối với chồng con không có đạo tòng, chuyên nghề hãn ngược[12], sinh giọng điêu toa, thậm chí không kể luật pháp dương phạt âm trách là cái chi chi, muốn sao làm vậy, thế thời bởi tại học sách mới, hay sách cũ, nhưng mà hỏi ra thời cũng không có học chữ nước nào đến, chớ có phải tại gì có tài mà đến nỗi thất đức như vậy!


Phương chi sự học vấn với sự đức hạnh cũng như chữ phú quí với chữ nhân từ, nó có ảnh hưởng với nhau, cũng như hai điều đã nói trên kia, người có học vấn thời phải có đức hạnh mới có danh giá, người có phú quí nên nhân từ mới được vững bền. Đức hạnh là cỗi gốc cho sự học vấn, nhân từ là nguồn lành cho sự phú quí, chớ không phải có học vấn có phú quí, toàn thị là người đức hạnh nhân từ hết cả đâu.


Nay sự học vấn của con gái là cốt để bổ ích thêm trí thức tư tưởng cho con người biết lo xa nghĩ rộng, khỏi bị mê hoặc ám muội như trước; đã là người thời biết cho đủ tư cách làm người, cuộc sinh tồn cạnh tranh là chung cả nhân loại có phải riêng chi một ai, mà người làm được người làm không được. Trừ ra một hạng người đã qua thời kỳ sự học và những nhà thôn trang tập quán theo cái chủ nghĩa doanh nghiệp điền viên truyền gia đã có mấy đời, thành một qui củ rất xứng đáng rồi thời không nói làm chi; còn như hạng người ở quanh các tỉnh thành, ruộng đất ở đâu, hoa lợi gì có, nếu không học tập nghề nghiệp mưu sinh tất đến cùng bức, dầu nhà sang giàu đến đâu mà ăn không ngồi nể, cũng đến non mòn núi lở, mà con cái trọn đời không thành ra một công việc gì, cảnh ngộ như thế, mười phần đã đến tám chín.


 Còn như đã muốn học tập nghề nghiệp buôn bán, mà không học tập chữ nghĩa toán tính, thời buôn bán, chẳng qua tiền chục tiền quan, chớ bạc trăm bạc nghìn đã không thể trù hoạch nổi, tư tưởng không lấy đâu mở mang nghề nghiệp cho được tinh xảo, ganh đua giữa chốn thị trường, thâu được quyền lợi có phải là sự dễ đâu, kiến thức đã kém, quyền lợi ở đâu mà đến; mà lại hại thay một điều là số đàn bà con gái lại về phần số nhiều, ấy là một cái hiện trạng nguy hiểm cho cuộc sinh kế tương lai lắm lắm. Các ngài cao minh quân tử cũng đã từng công nhận cho bọn nữ lưu là đông hơn, thời các ngài thử nghĩ cái sinh kế của bọn họ sau này sẽ ra thế nào, không lẽ người đàn ông nuôi nổi năm bảy người đàn bà, thời người đàn ông ấy cũng đến bối rối trong đám gia đình, mưu danh mưu lợi chi chẳng qua vì phủ dục[13] rất cần kíp, còn có tư tưởng gì cao xa mà làm sự công cho xã hội nữa. Chi cho bằng mỗi người đều phải biết cách luân lý tự thân, khỏi bề phiền lụy đến ai, chẳng là hay hơn; vả lại những hạng người thiếu nữ kia nếu không học thời cũng không làm nên được công việc gì ích lợi hơn, mà lại có lắm sự “nhàn cư vi bất thiện”.


 Ôi! Người ta đã sinh ra trên mặt đất, lẽ nào cũng phải lo nuôi sống nổi cái thân, vì cái thân đã hữu dụng rồi, thời sự dùi mài có khó gì mà không làm được. Người đàn bà cốt phải có đức hạnh làm bản, nghĩa ấy dầu cho thiên cổ bất dịch, không những từ đây về trước đã thế, nhưng dầu cho đến muôn ức nghìn năm nữa về sau, cũng không có thể thay đổi bao giờ, vậy cho nên học hạnh kiêm ưu mới là danh giá; còn như học mà vô hạnh, chính là danh giá tội nhân, chớ có phải học giới danh giá đâu, mà người đời bình phẩm cho hư tiếng tân học của nữ giới.


Nam Phong, số 43, tháng 1. 1921


Cái trình độ nữ ngôn đời bây giờ


Người ta đối với đời, rất cần dùng về khoa ngôn ngữ, bởi vậy mà lời nói phải có học mới dựng lên lời nói khuôn phép, lời nói chính đáng, có đạo đức, có giáo dục, câu nói phải tùy theo từng hạng người mà xét cao thấp, không những không giống nhau mà lợi hại có khác nhiều, lấy cái trình độ mà so sánh thì người có học vấn lời nói khác người không có học vấn, người có tri thức lời nói khác người không có tri thức, chớ không nhứt khái[14] cho như nhau đặng, đàn ông đàn bà cũng vậy.


Bảo rằng: lời nói người đàn bà đời xưa không khi nào ra khỏi cửa buồng, dầu có học tập cũng vụ cầu cho đúng phép phụ ngôn, thì giữ gìn lời nói cốt phải dịu dàng, ít điều, ít lẽ mà tồn hồ đức hạnh ở trong, không cầu làm cho ai biết, miễn đủ lề lối cư xử trong gia đình, làm hết phận sự của người đàn bà đó mà thôi.


Còn như đối với xã hội tự hồ không can thiệp gì, nhưng mà có phải không can thiệp đâu. Một bên trực tiếp với xã hội, một bên gián tiếp với xã hội, cái hình thức tuy có khác, mà tinh thần đều một chủ nghĩa. Bởi cớ tại làm sao mà người đàn bà lại không được trực tiếp với xã hội? Là vì sự học vấn còn chưa phổ thông và thời kỳ chưa được hiệu dụng, cho nên nữ ngôn chưa được kiến trọng[15] với đời. Thế mà gián hoặc cũng có người xuất hiện ra luôn, xem như tiền cổ các nước, biết bao là bậc nữ anh hùng, nữ thường thơ, cũng nhờ thiện ư từ lệnh[16] mà làm nên danh dự để đời, kể sao cho xiết.


Đây chỉ lược kể bản quốc ta như Hai Bà Trưng, bà Triệu Ẩu, toàn là bậc thượng lưu anh thơ trong xã hội, biết bao nhiêu nghĩa khí trung trinh, xướng khởi những lời nói thơm tho làm sao, mới thu phục được lòng người, dựng cờ nương tử, rạng tiếng nghìn thu, làm vẻ vang cho nhà cho nước, như vậy thì có đáng gọi nữ ngôn chỉ dùng trong khuê khổn[17] mà thôi không? Lại cho đến những lối hàn mặc tài hoa cũng đã đằng danh lắm thay, kìa như Bản Triều có đức bà Diệu Liên công chúa, đức bà Huệ Phố công chúa, Bà Huyện Thanh Quan, đều là văn chương đáng giá nghìn vàng, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.


Thiết tưởng cái khí tượng rực rỡ ấy, cái phong vận thanh tao ấy, những nhà kiệt sĩ văn nhân trong nước cũng đã từng công nhận cho là siêu quần bạt tụy lắm rồi.


Trong cái thời đại học giới nữ lưu chưa mở mang, mà đã có người như vậy, cho nên người ta có ba hạng người, ví như người có đầu non góc bể, suốt đời lam lũ, chân lấm tay bùn, thì còn có tư cách gì mà làm gương cho ai, có lẽ gọi là đàn ông toàn thị hơn đàn bà hết cả không? Đàn bà những người quê mùa dốt nát, buôn đầu đình bán cuối chợ thì ai dám tỉ nghĩ[18] với các bậc người mà người ta đã cho là đứng vào hạng người, chớ không phải có đủ hai tay hai chân đi ngay đứng vững mà là người. Vậy thì trước phải do cái phẩm giá con người mà sau định bình mới là đúng. Cổ nhân lại có câu: “Bất dĩ nhân phế ngôn, bất dĩ ngôn thủ nhân”, lời nói có ý vị thay.


Phương chi, hiện nay nhà nước đã lập trường giáo dục nữ lưu, là cốt muốn đào luyện nhân tài trong hàng khuê tú, để ban bố văn minh học thuật cho phổ thông toàn thể quốc dân, không phân biệt nam nữ, cũng đều được ra mà hiệu dụng với đời, cái trình độ nữ ngôn bây giờ đã lần lần mà tiến lên, không phải như trước nữa, ấy đó là một cái tang chứng rất rõ ràng, tưởng không nói, nói một đường làm một nẻo, bạ ăn bạ nói, vào tai ra miệng, trau chuốt những lời phù hoa xảo trá, làm mất cả sự thật, không giữ gìn đức hạnh, làm hèn cái giá trị nữ ngôn với đời, thì con người ấy ai cầu làm chi!


Ôi! Cuộc đời chẳng qua nhất trường ổi lỗi[19] ví như một tấn tuồng diễn trên sân khấu, phải có đủ tướng, lão, đào, kép, bông lơn, chạy hiệu; nhưng đáng vai nào thì phải biết vai nấy, người xem mới vui mắt. Nếu kép mà trở lại đóng vai đào, dầu thanh âm ý chỉ có hay đến đâu, mà nhận kỹ tinh thần cũng ngỡ ngàng ra lắm. Nói tóm lại thời trên chốn vũ đài cần phải đủ cả các thức người, nó mới hoàn toàn được.


Nam Phong, số 49, tháng 7.1921


Gái trinh liệt


(Dịch sách Tàu)


Nàng Vương Tú Văn tiểu tự Tú Mân người Kim Lăng, ở phường Sào Phố, con gái ông thơ lại; nhà cũng thường thường bực trung. Nàng từ bé tập nghề thêu dệt, lại gồm thông sách sử; trong xóm có chàng Hạn Sinh, cũng con nhà thế gia, Hạn Công là người danh sĩ tính hay chứa gửi thơ điển họa đồ bản xưa, bao nhiêu cổ khí, phàm đã có trước danh thời ông hết sức thâu trữ chân tàng. Vậy nên đồ xưa rất nhiều. Cha nàng Tú Văn cùng Hạn Công, hai nhà qua lại quen biết đã lâu, Vương ông thường phục cái tài nghiên cứu của Hạn Công rất tinh, mỗi khi gặp đồ ngoạn hảo cổ tích như Châu đỉnh Thương di[20], mà đến hỏi ông cũng đều phân biệt nhận rõ đặng cả, cho nên mua không đến nỗi lầm giá lắm.


 Có một ngày kia, Hạn Công sang chơi nhà Vương ông, tình cờ lại gặp nàng Tú Văn đương đứng trước sân, tựa khúc lan can, xem hoa thược dược, ông thấy cái phong tư yểu điệu nhàn nhã mà rủ lòng yêu, mới hỏi nàng bao nhiêu tuổi? Nàng thưa rằng: mười một tuổi. Vừa người cha từ trong nhà đi ra, Hạn Công bèn hỏi: “Phải nữ công tử đó chăng? Ngài thật có phúc mới sinh một người con gái như thế”. Vương ông cười nói rằng: “Ấy là nàng “nữ Tương Như”nhà tôi đấy”. Nhơn lại truyền nàng ra đứng hầu. Nàng Tú Văn không những nhan sắc đã tuyệt vời, mà thiên tư lại càng thông tuệ lắm. Vương ông bảo nàng thử đọc Đường thi, bài “Trường hận ca” cho Hạn Công nghe, thời tiếng rảng rảng khiến người nghe rất sảng khoái tâm thần, giờ lâu nàng lại lui vào phòng trong. Hạn Công mới hỏi đã từng thụ sinh nơi nào chưa? Vương ông nói muốn chọn rể hiền, cho kén lứa không dễ.


Ngày khác nhà Vương ông có người đến bán một cái ngọc quê mà không biết thuộc về thời đại vào, bèn cầm đến hỏi Hạn Công, ông lại bảo Hạn Sinh ra yết kiến Vương ông, và tỏ cho biết rằng chàng đã lầu nhuần kinh sử, lại khéo nghề viết chữ đủ bốn thể; những bài bi văn như đời Hán, đời Ngụy, đời Tấn, đời Đường, đều nhận thuộc cả, tuy tuổi còn bé, song người phẩm hạnh đứng đắn lạ thường. Hạn Công chỉ người con cười mà nói rằng: “Nó có thể trúng tuyển được chăng?”. Vương ông cũng cười trả lời rằng: “Chỉ sợ ngài nói đùa vậy, chớ nhà chúng tôi được người rể như thế, còn mong gì”.


 Hai bên ý hợp, bèn giao ước với nhau, một lời nói nên nợ. Hạn Công lấy cái kim hoàn trao cho nàng Tú Văn, để làm sính vật. Hơn một năm, Hạn Công phải bệnh tạ thế, thời nhứt thiết việc đám ma chay, người cha nàng Tú Văn chiếu liệu cho tiêm tất cả; không bao lâu bà Hạn mẫu cũng quyên trần. Nhà chàng Hạn Sinh bấy giờ đã khốn đốn lắm, gặp luôn những việc biến lớn, cho nên tư bản cũng có hao mòn đi nhiều, song đồ thơ ngoạn hảo chưa đến cầm bán cho ai.


Không ngờ một hôm, kẻ cướp xông vào nhà hành hung tra hỏi tiền của, chàng lấy tình thật kêu cầu hết sức, mà chúng nó cũng tìm kiếm tiền bạc không có, sau thấy trên gác có những bản bia cổ tích, và các cái đỉnh lớn bằng đồng, thời mừng reo ầm lên mà nói với nhau rằng: So với tiền bạc thời các vật này còn hơn giá gấp bội. Lúc đó người khiêng kẻ vác, chở hết cổ khí trong nhà, không rơi một mẩy. Thảm thay cho chàng Hạn Sinh, từ đó về sau, thường khi không có một đồng tiền trong tay.


Hồi bấy giờ, Vương ông mới có ý không bằng lòng gả con gái cho chàng nữa, ăn năn việc trước đã lời hứa ra, nay muốn kiếm chuyện chàng mà chỉ trích ra cho con gái mình đừng thuận ý cùng chàng nữa. Bà mẹ cũng hết sức bài giải, làm sao nàng cũng không nghe. Nàng Tú Văn nói rằng: “Nhà chồng không may gặp sự rủi ro, thế là cái số phận của con xui khiến ra như vậy, nay thấy điều nguy mà lỗi đạo, gặp sự biến mà đổi lòng, thời còn chi là tình nghĩa vợ chồng. Tuy còn chưa về nhà người, nhưng lời cha mẹ đã đính ước từ lúc Hạn Công hãy còn, nếu phụ ước, thời không những đối với người đời đã hổ thẹn nhơ nhuốc khó coi, mà tưởng tượng đến kẻ dưới suối vàng, lại càng không yên tấc dạ lắm”. Cha mẹ nàng biết cái chí không thể chuyển dời được, nói thầm cùng nhau, sau dầu có việc gì, nhất thiết không nên thương thuyết với nàng, mà chàng Hạn Sinh có tới yết kiến đều phải cự tuyệt mới xong.


Hai ông bà Vương thị, nghĩ hết kế nọ lại đến kế kia, mượn người mai chước đến bảo chàng rằng: “Chàng tuổi đã khôn lớn, sao không có một sự nghiệp gì làm danh giá cho mình, và không lẽ bắt con gái nhà họ Vương đợi mãi đến bạc tóc ra hay sao, việc cưới hỏi bây giờ chàng tính thế nào?”. Hạn Sinh không biết trả lời làm sao, đành phải chịu sự hổ thẹn, để cho người ta mai mỉa. Họ lại cứ thôi thúc mãi, bất đắc dĩ chàng phải nói, hiện chưa sắm đủ lục lễ[21] nên không dám đến xin ngày. Người bạn cùng Hạn Sinh, là Phạm Bất Đường, tính người hào hiệp, nghe lọt tin ấy, nổi gan tức giận nói với Hạn Sinh rằng: “Lời ấy không phải vì thiếp cầu hôn mà đến đâu, chính nó muốn đòi thơ thoái hôn đó. Đại trượng phu ở đời, lo gì không có gia thất, mà phải chịu những hơi tiếng của kẻ thị tỉnh cục súc làm đê tiện cái phẩm giá người đến nhường ấy, sau chúng nó còn tới quấy nhiễu, thời anh cho nó ít đạp tống ra khỏi cửa, đừng để cho nó lôi thôi mà em ghét lắm”.


 Quả không bao lâu, người mai lại đến, chàng chủ ý nhìn người ấy, xem thử nói câu gì nữa, người mai cứ ấp úng nói không ra tiếng, thò tay vào túi lấy ra một khối vàng, đặt lên án thư mà thưa rằng: “Chàng có thể nhận lời cho, xin dâng khối vàng này để làm tạ lễ”. Hạn Sinh nói: “Xin nói…”. Mai nói: “Người con gái họ Vương sinh trưởng phú quí đã quen, cha và mẹ xem tài ngọc báu trên tay; nay về nhà chàng ăn rau lộn tấm, thế không kham được sự khó nhọc, dầu có bức hiếp lắm, cưới về cũng chẳng qua một vài tháng, rồi cũng tìm ông gia bà gia dưới chín suối mà thôi, chớ chắc là không cùng chàng đến đầu bạc vậy, nếu chàng biết nghĩ lại, mà làm một sự phúc đức vô lượng, thời nên cho ly thơ, để nàng được cùng ở với cha mẹ trọn đời, ấy là ông bà họ Vương cảm tạ mà đáp ơn chàng bằng khối vàng này”. Hạn Sinh nghe chưa hết lời, đứng thẳng dậy, tay đập vào ghế bàn mà quát to lên rằng: “Mày xem ta là một người bán vợ hay sao, dám đem vàng mà làm mồi nhử ta, ta nói thực cho mày biết, dầu người con gái kia, muốn theo ta đi nữa, là ta cũng quyết không khi nào nhận những người muội tâm ấy là ông bà gia, ly thơ thời ta cho ngay”. Nói xong bèn lấy bút mực viết giấy, gói cả khối vàng và ném ra ngoài cửa, đuổi người mai ra rồi đóng chặt cửa lại. Trong giây phút thời nghe tiếng gõ cửa, Phạm Sinh lại đến, Hạn Sinh giận run bây bẩy, mách hết đầu đuôi câu chuyện hồi nãy, Phạm Sinh nói: “Có phải như lời dự liệu của em không? Thế này thời anh không nên ở đây lâu dài nữa, phải đi xa mà gây dựng sự nghiệp, ngõ hầu rửa cái hổ thẹn này mới xong”.


Hạn Sinh nói: “Trong tay không còn một đồng tiền, lấy đâu làm lộ phí mà đi”.


Phạm Sinh nói: “Tôi xin giúp anh tự phủ đủ dùng. Nhưng về đường công danh, anh nên chọn trước mới đặng, nay có hai lẽ: một là muốn kim bảng đề danh, mũ cao áo dài, tất phải vào Trường An, tập văn bài thơ phú, nếu muốn lập công “khổn ngoại”[22] thảo hịch lên ngựa, đặng chức trọng quyền sang, thời chi bằng xếp bút nghiên theo việc đao cung, cũng là không khó gì mà không làm được hiển dương cho một đời người ta vậy”.


 Hạn Sinh nói: “Tôi có người anh em bên ngoại, hiện làm Trấn nam quân dinh, lẽ nên qua đó theo đòi xông pha, may ra còn có chút công lao, đợi ngày hiệu dụng”.


 Phạm Sinh nói: “Phải lắm”. Bèn lui về mượn nhà thân thích được trăm lượng bạc, đưa cho Hạn Sinh để sửa soạn hành trang.


 Từ khi nhà họ Vương được tờ ly thơ của Hạn Sinh thời giấu kín không cho nàng Tú Văn biết, ngày nào cũng cho người mai chước dạo tìm kẻ xứng đáng mà gả con gái mình, nói dối với người rằng: “Ông có người con gái thứ hai, phong tư rất đẹp, tuổi mới cài trâm, thơ họa cầm kỳ, không món gì không tinh, lại có chiếu ảnh chơn dung ra, xin những nhà danh lưu đề vịnh, để cho những lời phẩm bình sẽ làm chói rạng, cái vẻ mỹ miều càng thêm giá trị, thời các bậc hào hoa vương tôn quí khách đua nhau vào cầu hôn nạp sính. Mà thật thế, quả không bao lâu, có chàng Phan Sinh em ruột một ông Hầu tước, mới mất vợ, đương kiếm mối tục huyền. Hôm nọ nhân đến chơi nhà quan Thái sử, bỗng thấy cái ảnh nàng Tú Văn tựa khúc lang[23], tay cầm nhánh hoa hàm tiếu, phong vận xinh đẹp, trong đời có một. Khi ngâm đến bài thơ đề tặng, thời biết rằng người này không những sắc đẹp mà thôi, lại còn thứ tài tình như nàng Ban, ả Tạ, dầu tiên nữ hạ trần, cũng chẳng qua giống nàng là cùng, bèn cất tiếng than rằng: “Nếu được người vợ tài sắc dường ấy, rất là toại nguyện”. Phan Sinh mê mẩn tâm thần, hết sức hỏi han cho đặng; nhưng thiểm[24] vì một điều, là nhà nàng danh dự không được môn đương hộ đối, cho nên phải tốn mấy nghìn bạc mới mưu cùng người mai dong, để nói cười làm người tiểu thiếp mà thôi. Người mai cũng ham lợi, mới đem những lời khôn khéo lung lạc, làm cho ông bà họ Vương nghe rất êm tai, nào là ngày sau làm phu nhân, sinh quí tử, thừa hưởng bạc vạn tiền ngàn, ăn sang mặc quí, cửa rộng nhà cao. Tục ngữ có câu: “Một ngày dựa mạn thuyền rồng, còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài”. Tuy thứ thất mà thật là chính thất người thường mười phân chưa được một. Trong lúc nạp thái, lễ nghi đủ cả, mà nàng Tú Văn thời không cho biết, bắt nàng ở chơi nhà bà cô, xa độ mấy dặm đường, để cho nàng đừng trông thấy, sợ nhứt đán nàng không bằng lòng, thời lỡ làng cơ hội ra; đến khi lễ thân nghênh sắp đến, mới đem xe đón nàng về, trong nhà đèn nến sáng choang, màn thêu trướng gấm, đàn sáo dập dìu, cha mẹ nhắc tay nàng mà bảo rằng: “Con từ nay được hưởng phú quí vinh hoa rất mực, khỏi làm vợ một tên học trò khó, quanh năm chịu sự khổ não, còn chi là thú vui của người đời”.


 Nàng nghe câu nói, mất cả hồn vía, khóc òa, nước mắt như mưa, không ngẩng mặt lên được. Giờ lâu, khúc nhạc thời trang đã trỗi tiếng, mọi người đều xúm xít lại thay áo đổi xiêm, giục nàng lên kiệu. Nàng Tú Văn bức tình quá, bèn lấy chiếc kim hoàn là vật giao ước thuở trước, nạp vào trong miệng. Chiếc kim hoàn mắc ngang cuống cổ, khí thở không đặng, chết ngay trong giây phút. Cả nhà hoảng hốt, cứu chữa vô phương, tiếng kêu khóc vang lừng; chàng họ Phan thấy thế cũng tháo lui, tân khách đều tan hết.


 Qua hôm sau thân thể nàng Tú Văn vẫn còn nóng, cha mẹ ngồi quanh giữ mãi, bỗng nghe có tiếng người kêu gọi rằng: “Vương ông có muốn người con gái sống lại, thời cho ta, ta sẽ cứu chữa cho”. Vương ông thất kinh chạy ra tiếp vào, thời một ông đạo sĩ râu bạc quá bụng, mặt mày phương phi, ngỡ là lời nói huyền hoặc mới mắng rằng: “Thôi đi đi, nhà này không tin nhảm đâu”. Đạo sĩ cười nói rằng: “Ta tới để chữa lỗi cho người đây, có phải nữ công tử đó là vợ Hạn Sinh chăng? Hạn Sinh bây giờ đã vinh hiển lắm rồi, chẳng bao lâu thời về cưới vợ, thế thời ngài định trả lời cho chàng ra làm sao? Ngài là một người xấu ruột, lẽ không đáng sinh một người con gái trinh liệt như vậy ngày sau phụng dưỡng ngài; song tôi đã không biết đến thời chớ, nếu đã biết đến nghĩa không cứu không yên lòng”. Nhơn bảo người nhà đem ra một bầu nước trong hòa ba hoàn thuốc đổ hết vào mồm nàng Tú Văn, chừng năm phút đồng hồ nghe tiếng trong cổ sò sè kêu lọc ọc ẩu ra nước thuốc và kim hoàn theo luôn. Nàng mở bừng hai con mắt hỏi: “Con đây đương ở dương thế hay ở âm ty rồi, trong cơn mỏi mệt như có người mách rằng số phận con cùng Hạn Sinh được gặp nhau, tin tốt lành sắp tới bây giờ, cha mẹ đừng lo”. Vương ông thấy vậy mừng rỡ xiết bao, cả nhà cúi đầu lạy tạ, thời đạo sĩ đi mất bao giờ không hay.


 Sáng mai, quả nhiên Hạn Sinh mình mặc nhung phục cưỡi con ngựa hồng, kẻ trước người sau hầu hạ uy nghiêm một đoàn kéo tới, làm cho hai ông bà Vương thị, phần thì hổ thẹn, phần thì lo sợ, mới biết chàng nay đã thăng chức Giám tư đại viên.


 Nguyên trước chàng mang kiếm tòng quân thẳng tới dinh Trấn nam, người em bên ngoại của chàng hiện làm phó tướng coi nhiều quân sĩ. Từ được chàng Hạn Sinh tới yết kiến thời mừng lắm, bao nhiêu việc giấy mực tứ bảo văn hịch đều ủy thác một tay chàng giùm giúp hết thảy. Trong quân thường được đại thắng luôn, một tháng thưởng trật có ba lần, cho nên mới hai ba năm mà đã lên đến chức ấy. Có một ngày kia chàng đang ngồi thảo lộ bố[25]. Chợt thấy một ông đạo sĩ đi thẳng vào mà bảo chàng rằng: “Tướng công phải mau mau về nhà chớ chậm trễ thời phu nhơn đến nguy hiểm”. Hạn Sinh còn muốn hỏi thời ông đạo sĩ rảo bước đi ra không kịp hỏi han câu gì nữa. Hạn Sinh nửa tin nửa ngờ, nhưng cũng nhơn thế mà xin về thăm quê hương cho luôn dịp. Khi đi đường gần đến tỉnh thời lời truyền thuyết nàng Tú Văn nuốt kim hoàn tự vận, may nhờ thuốc tiên cứu khỏi bây giờ chàng mới tỉnh ngộ lại lời ông đạo sĩ thật có linh nghiệm. Hạn Sinh nói: “Tiên nhơn khiến ta về để gỡ mối thảm sầu cho người con gái trinh liệt, ta nỡ nào quên lời hẹn cũ, phụ người vợ hiền như thế ru?”. Trong khi tới nhà Vương ông, hàn huyên mấy lời rồi chàng lập tức đến Lệnh doãn phân trần gốc ngọn, quan Lệnh doãn cho đòi Vương ông đến dinh ngay ngày ấy, bèn làm lễ nghênh hôn, nhứt thiết lễ nghi cổ nhạc đều do quan Lệnh doãn sắp đặt rất tề chỉnh, lại tặng một cái biển ngạch đề bốn chữ “Trinh liệt nữ tử” để tinh biểu một việc danh dự về sau cho những người khuê các biết noi theo cái gương tốt ấy.


 Đương thời thiếu chi là lời biểu ca tụng cái đức hạnh nàng Tú Văn, hoặc trường thiên, hoặc đoản cú, không xiết sao lục, chỉ có bài “Kim hoàn khúc” hay hơn hết xin dịch ra đây để hiến các độc giả thêm vui câu chuyện.


Họ Vương có gái mỹ miều


Thi thư từng đọc dệt thêu đủ nghề


Xuân xanh xấp xỉ cập kê


Hương trời sắc nước nhiều bề thanh tân


Tiếng thơm đồn khắp phương lân


Xe tơ sớm đã châu trần có nơi


Hạn Sinh tài mạo tuyệt vời


Phong tư thanh nhã tính người hào hoa


Kim hoàn tín vật trao qua


Hai bên ý hợp mặn mà biết bao


Ngờ đâu đổi vật dời sao


Mười năm dư thấy tiêu hao khác thường


Thương thay thân phận lỡ làng


Nợ duyên sao khéo vơ càn vơ xiên


Thôi thôi một thác trọn nguyền


Kim hoàn liều một giấc yên suối vàng


Mơ màng hồn phách chưa tan


Bỗng đâu nhờ thuốc linh đơn cứu đời


Cho hay cũng việc có trời


Cảm tình trinh tiết thỏa lời non sông


Nàng càng tuyết sạch giá trong


Chàng càng trân trọng tấm lòng trước sau


Muôn chung ngàn tứ có nhau


Chữ tình càng nặng càng sâu càng nồng


Trong khi sánh bóng trướng hồng


Gẫm âu danh tiết nhờ trong kim hoà


 


Hữu Thanh, các số 14,15,16, ra ngày 15-2, 1-3, 15-3-1922.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.


www.trieuxuan.info







[1] Thi thiết: thi hành và kiến thiết




[2] Điểm nhiễm: thợ vẽ tô vẽ, điểm xuyết đường nét, màu sắc.




[3] Đào chú: đào tạo nhân tài.




[4] Bửu mã: ngựa quí.




[5] Hiệu Tần: bắt chước Tây Thi nhăn mày mà không giống, bắt chước không nên.




[6] Đường Jules Ferry: nay là đường Lê Lợi, bờ nam sông Hương.




[7] Thơ Trình Hạo đời Tống. Tạm dịch: Người đời đâu biết lòng ta sướng/ Lại bảo an nhàn thói thiếu niên.




[8] Lãm thắng: xem phong cảnh.




[9] Gặp thời buổi rộng mở, hãy nỗ lực tiến tới.




[10] Phồn ba: phồn hoa.




[11] Khương cát: bình an, tốt lành.




[12] Hãn ngược: ngang ngược, hung dữ.




[13] Phủ dục: nuôi nấng, vỗ về.




[14] Nhứt khái: nhất khái, nhất thiết, tất cả.




[15] Kiến trọng: coi trọng.




[16] Thiện ư từ lệnh: lời nói, lời kính xưng tốt lành với người khác.




[17] Khuê khổn: chỗ đàn bà con gái ở.




[18] Tỉ nghĩ: so sánh.




[19] Nghĩa là: Không vì người mà bỏ qua lời nói, cũng không vì lời nói mà nhận người.




[20] Châu đỉnh Thương di: những cổ vật đời Thương, Chu ở Trung Quốc.




[21] Lục lễ: sáu lễ trong hôn nhân là: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh.




[22] Khổn ngoại: ngoài chốn phòng khuê, ý nói có mặt nơi biên viễn.




[23] Khúc lang: lan can của hành lang quanh co.




[24] Thiểm: đồng nghĩa với hiểm (từ địa phương).




[25] Lộ bố: một loại công văn để hở, không niêm phong, để thông báo rộng rãi.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »