1. Bi hài kịch của một cuộc trả giá
Nếu cái bi kịch đói chỉ có một kịch sĩ duy nhất và chỉ là màn độc thoại đang ngang qua những câm nín đầy bi thương, thì những cuộc mặc cả mà tôi kèn cựa để bán những tài sản riêng có thể bán được đã xảy ra như một màn bi hài kịch mà nụ cười cứ xen lẫn cùng nước mắt. Người bán, kẻ đang cố nuốt giòng nước mắt, khóc thầm cho nỗi khổ đau và niềm tủi nhục mà cái đói là nguyên do chính, lại phải nở nụ cười cho cái dối trá và điệu bộ của người mua đang cố cò kè cắt xén bớt số tiền phải trả để mua một món hàng thật sự quí và có giá trị với cái giá thấp tột cùng.
Những gì chúng tôi bán trước tiên là những bộ trang phục mà vợ chồng tôi hay mặc lúc còn thời vàng son để dự những buổi chiêu đãi hay lễ lộc được mời, trước khi Cách Mạng về làm đảo lộn mọi trật tự của xã hội, kéo người dân ra khỏi những truyền thống và thói quen đã có từ hàng ngàn năm mà cái thần thánh của các lãnh đạo và cái phong cách sống trong sáng của họ phải là mẫu mực mới cho xã hội! Tất cả nữ trang bằng vàng chúng tôi đã bán hết trong thời Kháng Chiến để giúp gia đình cầm cự qua ngày và trụ lại trong hàng ngũ kháng chiến. Nhưng sau khi về lại Hà Nội, cha mẹ tôi và bạn bè đã cho chúng tôi vô số quần áo đắt tiền: áo lụa, sa tanh, gấm thêu, vải nhung từ Trung Quốc, những bộ quần áo mà vợ tôi từ nay không còn dịp để mặc. Về phần tôi, tôi đã mang về, sau những chuyến công tác ở Bắc Kinh, Vienna, Lục Xâm Bảo những bộ âu phục may đo bởi những người thợ may bậc thầy chuyên cung cấp quần áo cho nhân viên các sứ quán.
Nay thì nhiều tập quán thói quen đã thay đổi. Tất cả phụ nữ phải phô trương diễn hành với những bộ đồng phục mà các cán bộ nữ quyết định: quần đen, áo trắng. Tất cả các ông đều mặc đồng phục kiểu Stalin hay Mao, sau đó là kiểu dáng do quí ông lãnh đạo cộng sản và các cán bộ quyết định: áo cổ đứng, quần rộng. Áo dài, quần trắng của phụ nữ, áo sơ mi và cà vạt của đàn ông thì bị cái khắc khổ của những người cộng sản kết án là những tàn tích của tư sản. Người ta có thể cười hay khóc vì đó. Người ta có thể cười khi thấy cả dân chúng trong những bộ đồng phục rõ ràng là đơn giản và rẻ tiền, nhưng vô danh, giết đi tính cá biệt của con người, giết đi nhân cách riêng của họ, và giết đi những tính cách riêng của mỗi người là những cái cho phép người ta có thể hiểu, gây thân thiện và ngay cả để giao tiếp, chia sẽ thông cảm với họ. Một người nước ngoài, hay ngay cả người bản xứ cũng không thể dễ dàng phân biệt thiên hạ, giữa người này người kia. Có người cười cho rằng đó là điều giả dối, nhưng người ta vẫn thấy đó là điều vĩ đại. Cả dân tộc đã trở thành nô lệ cho ý muốn của lãnh đạo, nô lệ tới mức vâng lời cả những ý tưởng bất chợt và kỳ quặc của họ, trở thành một khối đồng nhất với một kích cỡ quá lớn. Đó là một điều vĩ đại không thể chối bỏ nhưng nó cũng là một nguy hiểm cho an ninh của các dân tộc và cho hoà bình thế giới. Một Hitler ở Đức, một Moussolini ở Ý, chỉ có quân đội và thanh niên là mang đồng phục, thế mà cái tội ác của chủ nghĩa phát xit đến nay vẫn còn làm nhân loại kinh hoàng, lợm giọng. Làm sao có thể lường trước được những tai hoạ kinh hoàng gây bởi cả một dân tộc đang dậm những bước chân lính trận dưới lệnh của những ông chủ mà quyền hành là quá lớn, không giới hạn, không kềm chế, nảy sinh những ý tưởng hoang đường điên rồ có thể gây ra những thảm hoạ ở tầm thế giới.
Người ta cười, khóc. Nhưng, tệ hơn nữa, người ta đang cảm thấy thật đáng tiếc cho một dân tộc đang bị kết án phải mang một thân phận tôi tớ về tư tưởng, một sự tự sát về tâm hồn và con tim.
Vì thế, tôi hiểu rằng không thể có gì nhiều trong việc đi bán những quần áo đắt tiền ở một thủ đô mà chuyện ăn mặc khắc khổ đã được cộng sản quản lý chặt chẽ. Không có một cửa hàng bán đồ cũ nào ở Hà Nội. Đồng phục nam, nữ đều dùng những loại vải rẻ tiền, làm trong nước, không được bền, khi người ta muốn bỏ thì chỉ có việc vứt vào thùng rác như những miếng giẻ rách.
Tôi đến những tổ hợp may mặc. Họ lịch sự từ chối: “Chúng tôi biết những quần áo của ông thuộc loại đắt tiền. Nhưng chúng tôi biết bán cho ai bây giờ trong khi không còn ai mặc những thứ ấy? Chúng tôi đành phải làm mỗi một việc là cắt nhỏ nó ra để may quần áo cho trẻ con. Nhưng đấy cũng lại là một điều đáng tiếc nữa. Những cán bộ bình thường thì đâu có tiền, mà dẫu có tiền họ cũng không dám mua cho con vì sợ bị các đồng chí khác phê bình, khám phá ra những kẻ này còn mang những mầm mống của chủ nghĩa tư bản! Con cái những ông lớn thì ăn mặc như những hoàng tử, công chúa với những bộ quần áo do những cán bộ trong ngành ngoại giao hay ngoại thương mang về biếu sau những chuyến đi công tác ra nước ngoài để cầu mong những đặc ân và che chở.
Nhiều ngày tôi đã đi quanh những con đường, lê theo mình gói quần áo, từ phố Huế qua phố Hàng Lụa, từ phố Hàng Đường quanh qua phố Hàng Gai. Không ai muốn những đồ cũ của tôi. Cuối cùng khi tôi qua phố Hàng Buồm, một người đàn bà tốt bụng khi nhìn thấy dáng bộ thiểu não của tôi bèn hỏi thăm cớ sự. Chính bà ấy đã cứu tôi khi cho tôi địa chỉ một nhóm kịch may ra họ có thể mua đồ của tôi để các nam nữ diễn viên có trang phục mà diễn trên sân khấu. Tôi nghe theo lời khuyên và xoay sở lần chót để thanh toán gói đồ.
Chuyện xảy ra làm cho tôi mang nhiều suy nghĩ. Không biết là có phải áo cà sa làm nên ông sư không, nhưng những bộ quần áo tôi mặc trong thời mà tôi còn chút tự do thật sự là một phần trong cách ăn ở của tôi, không thể lộn ngược bề để may thành bộ áo riêng cho những người hầu trong nhà. Và khi tôi không có phương tiện và khả năng để đóng một vai diễn phụ hay một tài tử chính, chẳng thà để những bộ quần áo này cho những diễn viên nhà nghề mà cuộc sống là hai mặt: một ở ban ngày ngoài xã hội và một về đêm trên sân khấu, giữa cái thực và cái tưởng tượng. Chính đó là cái logic của sự đời.
Tôi cũng được biết qua người phụ trách trang phục cho Nhà Hát, cũng là người đã mua quần áo của tôi, kể cho tôi nghe rằng hiện tại một cô gái có địa vị đang chuẩn bị lễ cưới và muốn kiếm một bộ đồ đẹp nhưng không thể thực hiện vì thiếu tiền. Cô gái ấy bèn đến Nhà Hát hỏi thuê một bộ đồ để có dáng một nàng công chúa huyền thoại hay con của một đại đế nào đó. Người con gái nào cũng chỉ một lần trong đời làm đám cưới. Cô ấy có thể được tha thứ vì đã làm một chuyện giả dối ngây thơ, cũng chỉ để tránh né trong một vài giờ cái thực tế hiện ra như một bài văn nhạt phèo và chán ngắt, để trốn chạy vào những vần thơ mơ mộng, để xoá tan đi cái ham muốn không được thoả mãn và cho phép con người tự lừa dối lấy mình. Tất cả xã hội trên thế giới đều có đầy nhan nhản những bà Emma Bovary[5] với con tim chứa đầy những cơn thèm khát không được thoả mãn, họ mỏi mòn chống chọi những khổ đau mà chờ đợi ảo ảnh của một “nơi nào đó” có niềm vui và tự do lấp lánh. Ở Việt Nam, mỗi người đều phải sống hai mặt trong kiếp sống người máy. Bề ngoài, họ chơi trò xưng tụng giáo điều để tránh không bị tập thể trừng phạt, khẳng định cái tính láu cá ranh mãnh của một kịch sĩ. Bên trong họ cố dồn ép những đòi hỏi của hy vọng vào bóng tối và im lặng, đẩy những thèm khát không được thoả mãn, những khát vọng cháy bỏng vào những vùng đất trời huyền bí mà không một thần linh chính trị nào có thể khám phá được.
Trong một đất nước bị sống trong khắc khổ và nghèo nàn, tất cả những ham muốn dù chính đáng dường như đều bị đông lạnh, cho nên số quần áo cũ, dù rất đắt tiền, được mang ra bán đổ bán tháo với giá rẻ mạt cũng không nuôi gia đình tôi được lâu. Ăn uống tiết kiệm đến mức cao nhất giúp chúng tôi khỏi chết đói nhưng với điều kiện là chúng tôi phải chịu đựng cảnh mắt mờ, chân bước muốn không nổi và những cơn co giật đau quặn của cái bao tử phải bóp cái trống không. Những bữa ăn mà rau muống là món chính đã làm da chúng tôi trở nên thâm tái. Bà con tưởng chúng tôi mắc bệnh sốt rét. Chẳng thà để họ nghĩ như thế để tránh cái xấu hổ vì bị đói.
Sau quần áo cũ, đến phiên chăn màn, chén kiểu và những dao nĩa bằng bạc. Tôi gói dễ dàng 24 cái khăn ăn cùng với hai khăn trải bàn màu mè thêu rồng, lân. Hai gói mỗi gói gồm 12 bộ đồ dùng theo cách ăn Á Đông có tô chén, đũa ngà và bộ kia cho bữa ăn kiểu Tây gồm dao, nĩa và muỗng bằng bạc chạm trổ, mâm và ly pha lê hiệu Bohemia, chúng tôi để kín cả mặt bàn. Những tia nắng còn sót lại của buổi chiều quét lên một góc của những món đồ sứ và bạc làm chúng trở nên rực rỡ lộng lẫy. Bộ chén đĩa, những đồ dùng bằng bạc toả nét lung linh trắng như tuyết bên cạnh những chiếc ly thuỷ tinh lấp lánh như những đốm lửa. Chúng tôi bị choá mắt trong một lúc. Dường như đối với tôi, giữa cuộc hành trình trong sa mạc, một cảnh tượng đẹp đẽ như thế đã gợi lại trong tôi kỷ niệm những ngày huy hoàng trong quá khứ. Tôi chao đảo những bước đi đầy buồn tủi và cay đắng, chẳng còn mấy chốc tôi sẽ ngã quỵ xuống đất dưới cú sốc của cái khổ sai hiện tại so với cái huy hoàng của năm xưa. Một trang sử đời tôi đã sang trang, tôi buông mình bật khóc cho nửa đời người còn lại, con người của tôi năm xưa và con người của tôi hôm nay đã thật sự chết rồi.
Tôi hiểu rằng tôi không nên gõ cửa nhà các ông lớn: họ thường tổ chức yến tiệc trong nhà để chiêu đãi những nhân vật chính trị, kinh tế, văn hoá đến viếng thăm Hà Nội từ các nước cộng sản. Hơn nữa, mặc dù trong túi lúc nào cũng đầy ngập vàng, nhưng các ông lớn không để mình sơ suất làm lộ ra cái giàu sang vì nó sẽ là sẽ là đề tài cho những tin đồn làm cho họ bị mất uy tín dưới mắt của Đảng. Tôi không thể mang những đồ sành sứ, chỉ cuốn bộ khăn ăn và khăn trải bàn vào một gói và để nó vào cái giỏ sau cái xe đạp. Tôi biết mình phải đi đâu. Tôi bước vào sảnh của một khách sạn lớn nhất Hà Nội dành riêng cho những khách viếng người nước ngoài giàu sang qua đấy. Tôi mở gói đồ và giới thiệu nó cho người trách nhiệm của khách sạn và mời ông ta đến nhà để xem những đồ sứ và bạc. Hắn kênh kiệu và làm duyên như một con mụ lố bịch trước một kẻ bảnh bao như muốn cầu cạnh một ân huệ nào đó. Hắn thú nhận: “Đây là những món hàng rất đẹp. Tôi không chối cãi điều đó. Nhưng ông muốn tôi làm gì với chúng? Khách đến từ các nước anh em cũng nghèo kiết xác. Họ chưa bao giờ gọi gì thêm, luôn luôn bám vào tờ thực đơn thường ngày, không bao giờ uống rượu mạnh và khi phải cho tiền phục vụ thì họ tỏ ra rất dè xẻn. Thật ra, nói họ là dân keo kiệt thì cũng không công bằng lắm, vì tôi nghe nói ở các nước anh em, cũng như Việt Nam mình, lương bổng công nhân viên bị tiết giảm đến mức tối thiểu, hay có khi còn ít hơn thế! Tôi thấy ông đã lớn tuổi chắc ông đã qua một thời kỳ khá dễ thở.”
Người đối thoại với tôi, sau khi đảo mắt nhìn quanh để biết chắc là không có ai đang nghe lén, rồi trả lời cho tôi: “Mấy cán bộ công sản dạy chúng tôi rằng dân chúng trước đây phải lê cuộc sống đầy đau khổ vì phải chịu áp bức bởi phong kiến và thực dân. Tôi không biết ở những nơi khác thì như thế nào, chứ ở nơi tôi ở, thiên hạ không hề vui sướng hạnh phúc như họ nói. Dĩ nhiên là thời ấy vẫn có người giàu kẻ nghèo nhưng ai nấy đều có cái mà ăn và nếu quần áo có phải vá, họ cũng có áo quần để mặc! thực dân Pháp cũng không ra mặt một cách dễ dàng trông thấy. Họ nằm ở đâu trên giai cấp cao, và nếu có đàn áp và bóc lột, thì họ làm qua một giai cấp trung gian nào đó”.
- Thông qua trung gian một cái gọi là nền hành chánh bản xứ mà đứng đầu là tầng lớp quan lại.
- Nhưng, thực tế phải công tâm mà nói, những ông quan lại nói trên là những người tốt nghiệp từ Trường Luật Hà Nội, họ biết rõ những chuyện gì sẽ xảy ra cho mình nếu bị lọt vào tay những anh cộng sản đỏ. Dĩ nhiên, họ ngồi trên những chiếc ô tô và sống cuộc đời xa hoa giàu có. Nhưng họ tham nhũng một cách vừa phải, và nếu tôi có thể nói thêm là họ còn có nhân đạo. Luật Hình Sự mà họ biết rõ là một hàng rào an toàn buộc họ giữ mình không đi ra ngoài chấn song của pháp luật. Bên cạnh đó, tờ báo châm biếm Phong Hoá, những bài viết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn bằng cách liên tục chế nhạo các quan lại đã dựng nên một rào cản xã hội ngăn chận những bóc lột vô chừng mực của họ. Kết quả là ngay ở những làng quê, nhà riêng dù bằng tranh vẫn còn tồn tại, và nông dân vẫn chưa bao giờ biểu tình phản đối hay yêu sách. Ít ra là theo như tôi biết.
- Nhưng ở phố thì tình hình ra sao?
- Dân thành phố thì sống tốt hơn nhờ những việc trong chính quyền, trong những xí nghiệp thương mại hay công nghiệp lớn, hay trong những ngành buôn bán nhỏ. Đường xá sạch sẽ, lòng đường cũng như lề đường. Tất cả những vi phạm về vệ sinh công cộng đều bị phạt tiền. Không còn trộm cướp, ngoại trừ một vài bọn móc túi hoạt động ở các chợ, nhưng ở phố yên tĩnh và an ninh là rất tốt. Tôi không phải là một giáo sư để phân tích nghị luận, tôi chỉ nói theo những gì tôi thấy mà tôi cũng không tìm hiểu nguyên do hay đưa ra những lời bình luận. Vì còn nợ mái tóc bạc của mình nên tôi phải tôn trọng sự thật, giữ danh dự và nhân cách của tôi.
- Ông có nghĩ đến việc rút lui về nghỉ ngơi cho khoẻ không?
- Tôi đã nghĩ đến chuyện đó và đã nạp đơn xin về nhưng lãnh đạo buộc tôi phải ở lại để huấn luyện cho bọn trẻ mới vào làm. Tôi làm bếp trưởng đã hai chục năm nay. Vào những ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, thiên hạ nhảy đầm, còn tôi thì phải phục vụ rượu săm banh cho họ. Trong những bữa ăn lớn, mấy món nhậu kiểu Na Uy và món thịt dăm bông trộn vỏ bánh mì là món rất được ưa chuộng của một số khách không keo kiệt tí nào về phần tiền phục vụ. Tôi như con cá vẫy vùng trong nước.
- Và bây giờ thì sao?
- Thời thế đã thay đổi. Tất cả tiếp viên là những công an hay là những người quen của họ. Họ theo dõi khách hàng, lục lọi hành lý, nghe ngóng xem họ nói gì để đi báo cáo cho những “nơi trách nhiệm”. Tôi cũng nằm trong hệ thống giám sát của họ. Thật chán hết sức. Cạnh đó, nếu họ chỉ làm công việc của họ thì tôi cũng nhắm mắt để cho họ làm những chuyện bên lề đó. Nhưng ở đây họ lại phá hoại bao nhiêu là thứ: nhà cầu, vòi nước, máy hút bụi, máy giặc, chén đĩa sành sứ. Nhưng khốn nạn thay, chuyện như thế đó, tôi chẳng làm gì được.
- Vui chuyện với ông làm tôi quên mất mục đích tôi đến đây: liệu ông có thể mua cho tôi mấy bộ bát đĩa và khăn ăn này không?
- Chắc chắn chúng tôi sẽ cần chúng cho những buổi tiệc lớn và những buổi hội hè. Tôi chỉ là kẻ vô tích sự thôi. Có lẽ ông nên nói chuyện với ông uỷ viên chính trị. Chính ông ta là người quyết định mọi chuyện.
Người đàn ông già đời trong nghề đã hết sức trong công việc để làm người có ích, nhưng lại không có chút tiếng nói nào trên các vấn đề. Đó là cách mà mọi chuyện đang xảy ra trong thế giới cộng sản.
Cái Tết đầu tiên xảy ra trong phiền não và nước mắt. Chúng tôi phải nhịn bốn bữa ăn để có thể dành ra tiền để trang hoàng bàn thờ của tổ tiên với một nải chuối xanh, bó nhang, vài nắm hoa và một cái bánh chưng. Chúng tôi thật hạnh phúc dù đang trong cảnh thiếu thốn vẫn có những món truyền thống trên bàn thờ của gia đình dù không phải là những món có giá trị cao như chúng tôi muốn, nhưng cũng xem là khá đầy đủ. Trong khi chờ nén nhang cháy hết, nỗi thống khổ làm chúng tôi thật đau lòng, cố nén dòng nước mắt chực trào dâng trên khoé mắt. Ngày mai rồi ngày kia, chúng tôi sẽ làm sao đây khi chúng tôi không còn gì để bán? Dĩ nhiên là chúng tôi có thể kéo rê thêm nhiều ngày nhiều tháng, nhưng chừng nào chúng tôi mới ra khỏi con đường hầm? Câu hỏi cứ theo chúng tôi ngày đêm làm chúng tôi mất ngủ.
Bây giờ là đến lúc những cuốn sách và những băng nhạc bước vào đường của bóng tối và cõi chết. Tôi làm một danh sách khoảng ngàn cuốn sách và cả trăm cuốn băng mà tôi mua sắm qua bao nhiêu năm, và lấy đó làm niềm vui thú. Tôi ngây thơ tin rằng cái gia tài văn hoá quí giá và duy nhất ở Việt Nam kia sẽ được chào đón nồng nhiệt và giúp tôi có chút gì để ăn trong nhiều năm sắp đến. Nhưng than ôi, không phải thế.
Tôi tìm đến Cục Lưu Trữ và Thư Viện Trung Ương và đề nghị với họ một bản sao của tất cả các tác phẩm của tôi, bắt đầu là những luận án Tiến Sĩ của tôi và toàn bộ những tác phẩm mà tôi đã phát hành tiếp theo sau đó.
Tôi chờ đợi được người ta long trọng đón tiếp. Người giám đốc Thư Viện Trung Ương xưa kia là một công chức ngành quản thủ thư viện của thực dân và đã học được nghề qua công việc, như người ta thường nói. Ông ta không phải qua trường Pháp-Điển Văn Khố chuyên về quản thủ Văn Khố (Ecole des Charles). Người tốt nghiệp xuất thân từ trường Văn Khố là ông Ngô Đinh Nhu, nhưng vì công việc ở đó không thích hợp với mình, ông Nhu quay ra làm chính trị nhưng lại trúng loại chính trị tệ hại nhất vì bị cả nhân dân và cộng sản kết án. Với bản án kép xếp như một án tử hình. Sớm hay muộn, ông ta cũng sẽ bị nghiền nát dưới sức nặng của số mệnh.
Như thế, ông giám đốc Thư Viện Trung Ương của tôi ngày xưa đã làm một chọn lựa đúng. Ông ta được gia nhập Đảng và khi trở về Hà Nội, bỗng nhiên được đề bạt lên chức Giám Đốc của cái Sở mà xưa kia ông ta là một nhân viên. Cái chi tiết nhỏ này giúp chúng ta hiểu cái giọng lưỡi của ông ta khi ông ta chính thức từ chối mua bộ sách riêng của tôi:
- Đồng chí, tôi vẫn tiếp tục gọi ông với hai tiếng “đồng chí” vì chúng tôi, những người cộng sản, vẫn hy vọng là ông sẽ ra khỏi những sai lầm bắt nguồn từ nền văn hoá Tây Phương mà ông hãnh diện đang khoe khoang, nhưng chúng tôi thì ghê tởm. Ông không tự cho mình là kẻ chống cộng, ông huênh hoang cho mình là người thực tiễn bởi vì ông dựa trên thực tế để đúc kết thành những phê phán, và ông tự cho mình là công lý khi vạch trần những thành công bên cạnh những thất bại. Ông cho rằng khi ông tuân thủ cái logic mà chúng tôi coi như đã lỗi thời, tệ hại, là ông vẫn còn trung thành vào cái thiên hướng của người trí thức là không muốn phản bội. Một nước tư bản như Pháp, kiêu hãnh với chủ nghĩa tự do của họ, chấp nhận thái độ đó. Nhưng về phía chúng tôi, chúng tôi kết án nó. Chúng tôi kết án thái độ đó, nhân danh chủ nghĩa cộng sản mà chúng tôi tin đó là kẻ duy nhất nắm giữ sự thật, và kẻ đã dạy cho chúng tôi rẳng người dân khôn ngoan là phải biết tôn trọng và tuân hành nhà chức trách. Nhà chức trách thấy xa và thấy rõ hơn chúng ta. Họ là hiện thân của sự tốt đẹp, và nếu các ông không đứng về phía họ thì phải biết rằng cái xấu đang chờ đợi các ông với những thói hư và kinh hoàng của nó. Giữa chúng ta, cho tôi hỏi ông: có phải Đảng đã dành cho ông biết bao nhiêu là ưu đãi hay không? Mười uỷ ban chấp hành trong các tổ chức quần chúng, còn có trí thức nào đạt kỷ lục như thế? Và người ta đã đòi hỏi ông những gì? Chỉ cần ông nhắm mắt làm ngơ trên một số sai lầm mà tất cả ai trong chúng ta cũng đều biết. Chúng tôi muốn che khuất nó đi, chỉ làm toả hương những chiến thắng mà những tràn vỗ tay phải kích động và cao hơn lúc thất bại rất nhiều. Chúng tôi chỉ yêu cầu ông hoàn toàn im lặng trước về phần hư hại của thực tiễn, không cần ông phải dối trá với lương tâm của mình bằng cách phát minh ra những thắng lợi tưởng tượng. Một thái độ sống như thế sẽ rất có lợi cho Đảng và cho chính cả ông. Tại sao ông không làm như một số trí thức khác? Họ chỉ thề trung thành với Đảng là đã nhận được bao nhiêu là lợi lộc cho bản thân họ và cho gia đình? Ngược lại, cứ khư khư bám vào cái văn hoá Tây kia, cứ giữ cái nhận thức khách quan và tự tin kia về công lý, về thực tiễn, ông đã phạm tội phá hoại mà ngày nay ông phải gánh chịu những hậu quả tai hại.
- Đồng chí, tôi rất cám ơn ông đã giúp những ý kiến tốt. Nếu ông là một mỹ nhân ngư, tôi đã phải nhờ các thuỷ thủ cột tôi vào cột buồm như Uylisses, người đang mê mẩn tiếng hát của người cá nhưng vẫn cố thoát ra khỏi hai cánh tay đẹp đẽ của nàng. Ông làm cho tôi nghĩ đến chuyện con rắn trên vườn Địa Đàng đã rót những tiếng nói độc hại vào tai Eva để làm cho nàng vào bẫy. May mắn thay, tôi không phải là đàn bà, và ngày nào đó bên cạnh trái táo sẽ còn có nhiều thứ trái cây ngon lành khác để cho người ta chọn. Dầu thế nào, tôi cũng phải công nhận là cái tinh quái xảo trá mà ông đang thừa hưởng nó thật là hùng hồn thuyết phục. Cho phép tôi được trả lời cho lý lẽ của ông. Cái văn hoá Pháp mà ông đang kết án, nó đã thấm nhập và đang chảy trong dòng máu con người tôi. Nó đã tạo ra con người tôi như bây giờ, luôn luôn đi tìm công lý, quan tâm một cách đam mê đến khách quan và thực tế nhưng rất tin vào con người, yêu mến con người và chấp nhận tranh đấu cho con người tránh khỏi sự tàn ác và tuỳ tiện của những kẻ độc tài độc đoán. Ông khuyên tôi phải tuân phục nhà cầm quyền, được thôi, nhất là khi tôi chỉ muốn không gì khác hơn là trật tự và yên bình. Nhưng chuyện tuân phục nhà chức trách và tuân phục uy quyền cũng không có nghĩa là không được mở mắt nhìn những sai quấy và lỗi lầm của họ. Nếu tôi giữ yên lặng thì dĩ nhiên chuyện đó sẽ được dàn xếp giữa chính quyền và nhân dân, nhưng nó sẽ tự làm cho mình mất uy tín và lòng tin của quần chúng. Vì vậy, đây là vấn đề là phải biết thái độ nào là thích hợp nhất trong những trường hợp như thế: hoặc không nói gì hết để ngồi hưởng những ban phát của nhà cầm quyền, đứng ra đồng ý với họ và như thế sẽ tránh bị họ đánh, hoặc đứng ra làm một hành động đúng đắn để tôn trọng ý muốn của nhân dân, mở mắt cho những ai đang cầm quyền và chấm dứt những nỗi bất hạnh đang làm hao mòn niềm tin của họ đối với lãnh đạo. Như thế với một hòn đá ta ném trúng hai con chim: làm cho nhân dân và nhà nước hoà thuận với nhau, cả hai cùng nhịp bước hưóng về một tương lai huy hoàng và hạnh phúc của toàn thể nhân dân. Tôi tuân phục nhà cầm quyền nhưng tôi mở to hai mắt, minh mẫn đầu óc và sẵn sàng cây bút. Tôi nghĩ đây là thái độ đúng đắn nhất của một người trí thức có lòng tự trọng, có tình yêu dân tộc, biết lo lắng cho hạnh phúc của nhân dân trong khi vẫn mong muốn không chuyện gì hại cho Đảng. Nếu ông nghĩ rằng những điều tôi nói là đúng thì đó cũng là nhờ tôi hưởng một nền văn hoá của Pháp và vùng Địa Trung Hải.
- Tôi đành phải nói với mình rằng quan điểm của ông và của tôi là không thể đi chung với nhau. Tôi rất tiếc, tôi không thể mua những bộ sách của ông, dù tôi biết đó là những cuốn sách rất có giá trị. Hiện nay, tôi không có ngân khoản đề mua những thứ đó. Hơn nữa tôi cũng không thấy điều gì ích lợi từ những cuốn sách về những nền văn hoá đã có từ ngàn năm hay từ nhiều thế kỷ nay mà tư tưởng đã có từ những thời kỳ nô lệ, phong kiến của phương Tây và của chủ nghĩa Tư bản, chúng không thể được dùng để đào tạo những người cộng sản Việt Nam.
Trên đường về, tôi như bị hụt hẫng vì cái khía cạnh đần độn của một lối lý luận phát sinh từ một thứ chủ nghĩa cuồng tín chính trị, nó làm tim tôi tan nát. Tôi tự trách mình đã quên lời dạy của Phúc Âm, đừng bao giờ mang những viên ngọc trai mà cho heo mang, margaritas ante porcos, mất cả buổi sáng tôi mới gượng quên đi chuyện bực mình vừa xảy ra.
Cái sự thực tàn nhẫn làm tôi khóc thét lên vì giận điên người là không thể chờ đợi chi nhiều từ những người trí thức được nhận vào Đảng. Mặc dù là thế, nhưng cũng có một vài trí thức, quá mệt mỏi sau bao năm sống tự dối mình, tự nén mình vào những lúc nổi dậy của lương tâm, đã để cái chất trí thức của mình nổ ra thành những biểu lộ diễn tả sự coi khinh Đảng và những hà khắc của nó. Lợi dụng những chuyến công tác ra nước ngoài họ đã dứt áo ra đi và không bao giờ quay lại. Và khi qua được với Thế Giới Tự Do họ không còn gìn giữ hay giới hạn những lời công kích kịch liệt. Nếu họ còn ở lại trong nước họ sẽ bị kết án tù chung thân và chỉ được khênh ra ra khỏi nơi giam cầm trong tư thế nằm với đôi chân ra trước. Nhưng phần lớn các trí thức lầm lẫn gia nhập vào hàng ngũ của Đảng chỉ còn biết từ bỏ nhân cách của mình, biến thành những tên nịnh bợ mà lòng tận tâm chỉ làm thiên hạ cười và khinh bỉ.
Bài học đau đớn mà tôi đã học từ người đối thoại trên là từ nay tôi phải tránh nói chuyện về văn hoá với những ông bà trí thức đã thành người cộng sản. Nhưng, tôi cũng phải làm gì để có cái ăn trong những ngày tháng sắp đến, tôi cũng phải kiếm cho ra người mua dù phải bán với giá rẻ cho bộ sưu tầm băng cát sét và những bộ sách của tôi. May mắn là vẫn còn những kẻ yêu nhạc, dù là những người nằm trong Đảng, vẫn còn thú nghe nhạc và có một đầu óc phóng khoáng, biết đánh giá cao những tác phẩm của những nhà soạn nhạc lớn của Âu Châu. Sau một vài liên lạc, tôi may mắn thanh toán được cái máy nghe băng và các băng nhạc cổ điển. Nhưng khối sách về văn hoá nước ngoài thì khó tìm được người mua. Đương nhiên, tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp không còn được dùng ở Việt Nam, không thể bán được bộ sách Bude. Mặc dù tiếng Pháp đã bị mất chỗ cho tiếng Nga, tiếng Anh bắt đầu trở lại, vẫn có một số thầy giáo có nhu cầu đọc tiếng Pháp nên tôi đã bán được một số ít. Cuốn Odyssé do V. Berard dịch, bản dịch cuốn Eneide của A.Bellesort thì có được người mua, nhưng những tác giả Pháp thời Trung Cổ, thế kỷ 16, 17, 18 và ngay một số vào đầu thế kỷ 19 thì không ai muốn. Với những tác giả thời cận đại, tôi bán được một số tiểu thuyết của Maurois và Mauriac, những cuốn sách khó như của Valéry, Gide và Caudel thì chỉ gặp sự lạnh lùng của khách hàng. Nhưng cái đói thì không thể làm lơ được, tôi phải mỗi ngày lượn quanh các con phố để tìm gặp những tay bán sách cũ chuyên bán hay cho những người chơi sách tài tử thuê vài cuốn sách của các tác giả lớn.
Cuối cùng tôi cũng phải hiểu ra là mình không nên đắm mình trong cái ảo tưởng về số phận của những cuốn sách không bán được của tôi. Tôi đành phải cân ký bán cho những người thu mua giấy vụn về bán lại cho nhà máy làm bột giấy. Những cuốn sách được mang lên trên cái cân hiệu Roberval. Tôi được trả tiền theo số cân đo được. Tim tôi đập loạn lên mỗi khi tôi phải chất những cuốn sách vào cái giỏ sau của chiếc xe đạp để đem đi bán giấy vụn. Không, nó không phải là giấy, nó là những thịt da của tôi đang bị xé ra từng mảnh. Khi những người mua ném chúng vào góc nhà, tôi phải quay mặt đi nơi khác cố giấu giọt nước mắt đang trào ra! Không có người cha nào còn dám nhìn con mình đang bị ném vào lửa bởi bọn đao phủ! Cái tra tấn đó cứ tái hiện mỗi lần đi bán sách làm giấy vụn, tôi như bị một mũi tên bắn xuyên qua tim mình. Nhiều lần, tôi phải nhờ vợ hay con tôi làm chuyện đó vì tránh cho tôi phải chịu nỗi đau mỗi lần. Một lần trên đường về nhà, cái đau lòng khi phải nhìn thấy bao giá trị quí giá tan biến trong gió thoảng, nhất là trong thùng giấy vụn, những giá trị mà tôi đã dày công sức và thời gian để có, những giá trị đã xây nên con người và đã đi vào máu tôi, cái đói thiếu những chất cần thiết trong cơ thể làm chân tôi trở nên mềm như bún và run lên. Không biết vì cái đau kia hay cái đói triền miên hay cả hai, đã làm ý chí và sức lực tôi bay biến. Cách nhà khoảng một trăm thước, tôi đã té xe đạp và không thể đứng dậy. Tôi phải gượng dậy ngồi bên lề đường, giương mắt nhìn sự vật quay tròn, tôi rán lấy lại hơi thở, sau khoảng hơn mười phút mới đứng dậy nổi và cố dắt chiếc xe về nhà.
Trong lúc tôi phải lượn quanh để bán những cuốn sách thì vợ tôi cũng muốn giúp tôi bằng cách mang những đồ lót và các phụ tùng trang điểm, những chai nước hoa hiệu Chanel, Patou còn được giữ nguyên trong hộp và còn gói trong giấy hoa màu vàng kim tuyến thắt nơ nhung rao bán cho các bà trong giới chức quyền. Không may cho vợ tôi, bà gặp toàn là những bà vừa mới từ quê ra tỉnh, nhiều bà còn bộ răng nhuộm đen thời xưa. Mấy bà tròn xoe mắt, lần đầu thấy những món hàng mà họ chưa bao giờ thấy hoặc nghe nói đến trước đây. Mấy quan, mấy xếp cưới mấy bà trong thời bí mật kháng chiến vì hai lý do: thứ nhất, để đi đúng đường lối chính trị với lý luận rằng quần chúng vô sản ở thành thị và nông thôn đều bị áp bức và bóc lột bởi phong kiến và thực dân, thứ hai là do những phong tục đơn giản còn lại trong nếp sống chưa bị vẩn đục, chưa bị lây nhiễm bởi những thói hư tật xấu của chủ nghĩa tư bản. Bên cạnh đó, những phụ nữ nhà quê kia với niềm tin và sự kiên trì đã thay thế cho việc trau dồi sắc đẹp, đã sống cô đơn một mình trong nhiều năm dài chờ đợi những người chồng đã từ lâu đi làm chiến tranh cách mạng và chỉ trở về khi cần để đánh lạc hướng hay cắt đuôi những tên gián điệp hay để được nghỉ ngơi một thời gian ngắn trước khi lên đường tiếp tục cuộc chiến giành thắng lợi cho giai cấp vô sản.
Bây giờ, Cách Mạng thắng lợi, được đặt vào những vị trí cao nhất của quyền lực, họ mang một nửa kia lên Hà Nội để hưởng những vinh hoa của chủ nghĩa cộng sản, những vinh hoa mà không có cách nào để phân biệt với thứ vinh hoa tư bản chủ nghĩa. Cũng những toà biệt thự đó, với những con chó dữ tợn và đám người hầu thận trọng, cũng những chiếc ô tô bóng lộn, cũng một nếp sống gia đình theo lối đó. Cái khác biệt duy nhất so với những quý tộc tư sản là, những thứ xa xỉ đó giờ đây hoàn toàn do Nhà Nước chi trả, phải cắn răng chi tiêu một số lớn ngân sách lẽ ra phải để dành cho những chuyện cần, thiết yếu. Một điều khác biệt nữa là vợ các ông lớn không nắm giữ chức vụ nào và không xuất hiện chung với chồng trong những dịp lễ chính thức hay những buổi chiêu đãi tiếp tân. Loại logic đó thật là khó hiểu khi mà người ta cứ mãi nêu cao cái nguyên tắc nam nữ bình đẳng, ít ra là trong xã hội. Cũng có thể là các vị hiểu rằng cái nữa kia của mình chưa quen với cái hào nhoáng của giai cấp thượng lưu, không biết cười hay ăn nói sao cho đúng, không biết dùng dao nĩa làm quí ông bị mất mặt. Quí ông chỉ còn biết để vợ ở nhà ngồi chơi trên ghế như những di vật linh thiêng để trên bàn thờ sơn son thiếp vàng.
Vợ tôi trở về mệt mỏi sau những lần tiếp xúc với các bà trong giới mệnh phụ cộng sản. Bà phải cố gắng và kiên nhẫn rất nhiều để giải thích cái vui thú thanh tao mà người phụ nữ ở một tầng lớp cao của xã hội khi dùng những thứ hảo hạng, đến thẳng từ Paris, thủ đô của hoa lệ và ánh sáng. Vợ tôi xoay sở để đạt được mục đích và đã mang về một số tiền đủ để sống vài tháng.
Nhưng với các bà mệnh phụ khác, bà nào cũng là hiện thân của Eva bị mấy món xa hoa hấp dẫn, thật khiếp đảm. Tiền xài cho những món kia được bí mật lấy từ công quỹ. Nếu họ không chùn tay lấy cắp công quỹ thì họ cũng xoay sở để làm sao không gây tai tiếng và làm hư chuyện thăng quan tiếng chức của chồng. Cũng dễ, vì họ không bao giờ chường mặt ra trước công chúng, và chỉ phô trương đến chín tầng mây những quần áo lụa là, những mùi dầu thơm đầy khoái lạc với chồng trong cảnh riêng tư chồng vợ.
Phần tôi, tôi cố mở những lớp dạy tiếng Pháp. Không thiếu sinh viên, họ đều hiểu rằng biết biết thêm một ngoại ngữ, bên cạnh tiếng Nga dạy ở các trường Trung và Đại Học, là một phương tiện tốt để kiếm việc sau này. Một vài người muốn học tiếng Anh. Nhiều người cần học tiếng Pháp đến gõ cửa nhà tôi. Những kẻ hăng hái nhất là những anh chị có tham vọng được đi làm ở Madagascar hay Algérie vì ở đó người ta trả lương như một ông hoàng. Mặc dù Nhà Nước đã lấy đi từ 70 đến 90 phần trăm tiền thù lương và tiền thưởng, để trả nợ cho mình, với phần còn lại họ vẫn còn dư để sống.
Nhưng để được phép đi đến những xứ giàu sang đó, họ chẳng những phải cẩn thận bôi trơn bàn tay của các quan chức ở bộ Ngoại Giao và bộ Lao Động, họ còn phải qua một cuộc xét nghiệm về tiếng Pháp tại sứ quán Algérie hay Madagascar.
Một chân trời sáng sủa được mở ra trước niềm hy vọng của tôi. Nhưng ngay trong buổi học đầu tiên được mở tại nhà tôi, một đám công an đã đột ngột xuất hiện. Xếp của chúng là một gã béo lùn, đôi chân ngắn củn, trán thấp, cặp mắt soi mói, hai lỗ mũi phập phồng như một con chó đang đánh hơi một khúc xương ngon lành. Cả bọn chiếm cả phòng khách và tên xếp, dù không được mời vẫn ngồi đến ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bành. Trước bộ mặt kinh ngạc của tôi, hắn gằn lên từng tiếng một như để nhấn mạnh cái nghiêm trọng của vấn đề:
- Ông có biết tại sao chúng tôi vào nhà ông không?
Tôi đã học từ nhiều năm nay là không ngạc nhiên trườc bất cứ chuyện gì: điều ngớ ngẩn nhất, điều bệnh hoạn nhất, điều đê tiện nhất đều có thể xảy ra ở một nơi mà lòng tin và Luật Pháp không có, nơi mà những giá trị, dù cao quí đến thế nào, đều có thể bị vứt vào đống rác, ngoại trừ đó là những thứ của chủ nghĩa Cộng Sản và của những tôi tớ bệnh hoạn của nó, với sự tôn sùng cá nhân được hàng ngày thực hiện và tệ sùng bái áp đặt. Tôi lắc đầu tỏ vẻ không biết. Hắn ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành, đôi chân ngắn gác chéo một cách trịnh trọng, xoa xoa hai tay và giương cặp mắt long lên nhìn tôi giận dữ.
- Ông giả vờ làm người khờ không biết. Ông biết rõ ông là một tên trí thức thối tha, mình chứa đầy những tư tưởng phản động. Ông dám ngẩng đầu đòi hỏi dân chủ! Ông còn muốn gì hơn cái mà ta đang có? Ông không thấy trước những công sở của chúng ta, trên những giấy tờ chính thức đều có nêu rõ khẩu hiệu của Nhà Nước: Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc? Tự do, hạnh phúc là cho ai, nếu không phải là cho nhân dân? Đảng đã mang lại cho chúng ta cái vinh quang của một thắng lợi cách mạng, một chiến thắng không thể tượng tượng trên chủ nghĩa tư bản. Nếu chúng ta không tin vào Đảng, vào lãnh tụ vô vàn kính yêu của chúng ta thì thử hỏi ta phải tin vào ai?
- Cám ơn ông đã nhắc cho tôi bài học mà tôi đã thuộc nằm lòng. Có phải ông đang đến viếng để cho tôi cái vinh dự được lặp lại những điều đó thêm một lần nữa chăng?
Hắn không trả lời ngay. Với cử chỉ của một ông giám mục, hắn đưa ngón tay út lên ngoắc. Một trong những tay hầu cận vội chạy đến lấy ra từ trong túi xách một cái phích nhỏ đựng đầy nước chè, đổ vào một cái tách nhỏ rồi đưa cho ông chủ kèm theo một ống tre nhỏ, món mà ở nhà quê không nhà nào là không có. Tôi quan sát cảnh tượng đang xảy ra. Nó xảy ra đúng y như những gì đã xảy ra thuở trước, khi các quan lại di hành đâu đó, mọi thứ là đây: một đám tuỳ tùng, một cái phích đựng trà, một ống tre nhỏ để hút nước, và đặc biệt là cái ngoắc ra lệnh bằng ngón tay út mà đám tôi tớ thấy là hiểu ngay phải làm gì. Hãy hy vọng là những tác phong cổ xưa này sẽ chứa những tinh thần mới của cách mạng.
Quan cách mạng nhấp một ngụm trà và ngay tức khắc, người hầu đưa cho ông ta cái điếu cày đã nhét đầy thuốc. Với cái bật lửa, người hầu đốt một thanh gỗ nhỏ, ông chủ đưa chiếc điếu vào mồm, hít lên một hơi dài rồi phun ra những vòng khói màu xanh. Sau đó, với cặp mắt khoái trá, nửa nhắm nửa mở, cổ dựa vào đầu lưng ghế, với giọng nói chậm chạp và trang trọng, hắn buông những lời ra khỏi đôi môi dầy thịt:
- Ông chả hiểu gì cả. Ông đã phạm một cái lỗi tày đình. Nhưng Đảng vẫn cao thượng, cảm thấy tội nghiệp cho tính hấp tấp và cả tin của ông. Đảng không bỏ tù ông, Đảng chỉ lấy lại những vinh dự đã dành cho ông. Để tỏ ra biết ơn sự rộng lượng và tốt lành của Đảng, lẽ ra ông đã phải tự giam mình nơi cô đơn tĩnh mịch để sám hối cho cái tội lỗi ghê gớm của mình. Ngược lại, ông còn mở lớp dạy tiếng Pháp, quan hệ với những thanh niên mà ông có thể đầu độc và làm họ xa rời Đảng. Vì lý do đó, tất cả lớp dạy tư nhân đều bị cấm.
Với bộ dạng bệ vệ uy nghiêm, với bước đi của quan lớn, hắn bước ra khỏi nhà, theo sau là bầy chó sói. Cái độ lượng của Đảng vừa chối từ một cái phao cứu hộ cho kẻ đang bị chết đuối. Phúc đức thay cho thứ nhân đạo không muốn làm kéo dài mạng sống của một sinh vật khốn khổ, nhưng rất xứng đáng, đang lê lết trong sự đoạ đầy của cơn thuỷ triều cộng sản, hoàn toàn bất lực cho mình và bất lực cả cho những người đang quản lý nó.
Chuyện trả giá để bán những bàn ghế thì rất khó khăn và kéo dài. Đồ đạc gồm toàn những thứ đáng giá: những chiếc ghế bành, chiếc trường kỷ, tủ chưng những món lạ và đồ kỷ niệm, bàn giấy, tủ sách, thảm lót hiệu Hàng Kênh, những bức tranh sơn mài của Coromandel, tất cả đều làm theo kiểu xưa và toàn bằng gỗ gụ, những bình hoa lớn bằng sứ của Trung Quốc đạt trên những cái đế ba chân, những bình đựng bông bằng pha lê, những bức tranh của các hoạ sĩ danh tiếng đóng trong những cái khung mạ vàng… Lê Phố là hoạ sĩ đã vẽ kiểu mấy cái tủ đựng bát đĩa, những cái ghế bành gỗ và những món đồ gỗ khác từ những kiểu dáng xưa, nhưng tất cả đều do nhà điêu khắc nổi tiếng Ngô Trâm chạm trổ. Trong thời tôi còn huy hoàng, những món này là cả một gia tài, nhưng lúc còn làm luật sư, tôi chỉ có việc mở vòi là tiền chảy vào như nước. Đời thật ngắn và chịu bao nỗi thăng trầm. Nếu một người có thể tự cho mình các thứ mà vẫn nằm trong khuôn khổ của xã hội, thích hợp với những ý thích của mình thì tại sao không họ lại không được vui hưởng một cách thanh tao và thuần khiết những cái đẹp và đường nét? Khi tương lai tôi vẫn chưa bị phủ mờ bởi những hiểm nguy nhất định, tôi đã rất bằng lòng với cuộc sống mà không hề cảm thấy có nhu cầu tự đặt cho mình câu hỏi liên quan đến chuyện mình thích gì hay đam mê gì. Nhưng khi biết không sớm thì muộn tôi phải chia tay vĩnh viễn những vật dụng đã cho tôi những niềm vui không tả và không bao giờ quên được, tôi đã dành hết niềm vui để mở ra những đối thoại với từng món trong bọn chúng để gợi nhớ cho tôi những kỷ niệm dính liền với chỗ đó, và cũng là biểu lộ con người đạo đức và tâm linh của tôi. Tôi cố tìm thấy tôi, nhận ra tôi qua những đồ vật mà tôi đã treo móc vào chúng những thớ thịt và mẩu vụn của cuộc đời và quá khứ của tôi.
Tại sao ngày xưa tôi không mua sắm những món làm theo phong cách phương Tây tiện dụng hơn mà những đường nét sắc sảo gọn gàng, cái đơn giản về mầu sắc và cách bố trí hài hoà rất hợp với cái tính Cartesien của tôi[6], hợp với cái tình yêu của tôi dành cho sự logic và sự sáng tỏ? Tại sao giờ đây tôi phải chịu một ngọn lửa bất ngờ sôi sục kéo dài cháy đốt tâm can cho những dấu vết của quá khứ đầy dân tộc và truyền thống kia?
Bất chợt, tôi lại nhớ vào năm 1936, khi tôi trở về Việt Nam luôn, tôi học tiếng Trung, tham gia phác hoạ văn phạm Việt Nam với nhóm Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và hợp tác làm cuốn tự điển với Khai Trí Tiến Đức. Cái gì đã khiến tôi luôn giữ thái độ sinh hoạt đó? Tôi, một người là chưa bao giờ ngưng tán dương đề cao những tác dụng lợi ích của nền văn hoá Pháp, một nền văn hoá đã tôi luyện thành một người như tôi ngày hôm nay? Tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi như thế này: “Tôi trở về với truyền thống và dân tộc, không phải với cái giá của một cuộc đấu tranh cam khó và với những cố gắng bền bỉ, nhưng bằng cách để mình trôi theo một con đường dốc không thể thiếu một cách dễ dàng và tự nhiên. Những kẻ dù có trang bị một kiến thức khoa học rộng lớn, những người chống văn hoá Pháp mà tôi đã tiếp đón ở trường, và hay những kẻ chống văn hoá Việt, văn hoá mà tôi thấm nhuần suốt cuộc sống, tất cả bọn họ đều không có những cái nhìn lành mạnh và đúng đắn về văn hoá là gì. Một nền văn hoá xứng đáng với tên gọi của nó không bao giờ có chuyện tự phân biệt mình qua sự duy nhất, không bao giờ kiếm cách biến mình thành độc tôn, không bao giờ tự mình đóng khung trong tường kín. Ngược lại, văn hoá là khoảng không gian ngự trị ở tầng cao vi vu muôn ngàn ngọn gió, nơi đến của tất cả những tâm hồn tốt lành không có bất cứ thứ phân biệt đối xử nào, như là một con suối trong dành cho mọi sự khát. Mỗi người có một nền văn hoá riêng, nhưng tất cả cùng hoá chung trong nền Văn Hoá lớn của nhân loại, mục đích duy nhất và sau cùng là nhằm tạo nên một con người toàn diện, tinh hoa, với những đức hạnh không thể thay hình đổi dạng được, có những giá trị riêng của con người, đưa họ lên tầng cao nhất của nhân tính. Khi tất cả những nền văn hoá của từng quốc gia quyện chung thành Văn Hoá của nhân loại, như những giòng sông cùng đổ vào biển cả, thì làm sao lại có chuyện có thể hình dung ra những đối kháng, mâu thuẫn hay xung đột giữa các văn hoá riêng và nền Văn Hoá lớn?
Cái gì có thể phân chia rạch ròi giữa animus và animas[7]? Cái gì không thể hoà được giữa cái văn hoá Pháp đã tạo nên tri thức của tôi và cái văn hoá Việt đã nặn khuôn linh hồn tôi?
Để lòng mình trầm lắng, yên tĩnh lại, tôi cảm xúc mủi lòng nhìn từng món đồ trong nhà. Mỗi món là một phần của những ngày qua và một phần của linh hồn tôi, tất cả chúng là một nữa của con người và sự sống của tôi. Nay mai, chúng sẽ rời tôi, từng đứa một, đi về một nơi vô định, rồi sẽ đến ngày mà trí nhớ của tôi chỉ đủ sức nhớ lại những hình ảnh mờ ảo, chợt ẫn hiện như một cảnh vật lúc hoàng hôn thoáng vụt qua cánh cửa sổ của con tầu hoả đang chạy nhanh. Chưa bao giờ tôi lại thấm thía bởi câu thơ nhức nhối: “Đi là chết trong lòng một ít…”
Người khách đầu tiên là một cán bộ cộng sản trong bộ đồ kaki xanh, với áo cổ cao và mang đôi dép cao su làm bằng lốp xe bỏ, một vẻ bề ngoài cho biết ngay ông ta thuộc gốc chính trị nào. Ông ta không có cái vẻ của một kẻ lang thang, mặc dù cặp mắt đang nhớn nhác ngạc nhiên, hết nhìn món này nhìn qua món khác như đang tự hỏi làm thế nào mà có tay trí thức có thể mua sắm và sống với những món đồ như thế. Tôi có thể đoán được những ý nghĩ đang xảy ra trong đầu của ông ta. Hắn chắc đã tự bảo đây là một tay phản động có tầm cỡ mới có thể sống xa hoa như thế: quả thực, hắn chỉ nghĩ rằng trong bất cứ xã hội cộng sản nào, như ở Việt Nam, giới trí thức đã bị đưa vào cuộc sống nghèo khổ, bị nguyền rủa dồn dập dưới sự khinh thường của lãnh đạo, nếu một tay trí thức nào đi ra ngoài qui luật đó, hắn ta chẳc chắn là một tên phản động làm giàu bất chính. Nhìn cặp mắt chằm chặp soi mói và cử chỉ của hắn ta, tôi nghĩ, nếu hắn không manh động với tôi thì hắn cũng không dành cho tôi những kính trọng phải có. Đương nhiên, hắn đang thi hành lệnh của chủ nhân. Nhưng để làm gỉ? Chính hắn đặt câu hỏi đầu tiên: “Vì sao ông muốn bán đồ đạc?” - Chắc là ông cũng thừa biết, tất cả trí thức ở Hà Nội đều làm chuyện đó. Tôi đã phạm lỗi lầm, dường như thế, và đã bị loại khỏi đoàn Luật Sư và công việc giảng dạy. Không còn nguồn lợi tức nào, và để nuôi gia đình tôi đành phải bán những đồ đạc mà tôi có từ nhiều năm nay. Đó là những món chót còn lại của tôi.
- Ông vừa nói hai chữ “Chắc là”. Như vậy ông vẫn chưa nhận lỗi và vẫn còn hận Đảng. Có người sẽ thất vọng thấy ông vẫn không quay lại với con đường của lý lẽ.
- Ông bạn trẻ của tôi ơi, tôi không biết là ông có hiểu là mọi phán đoán đều dính dấp đến tính chủ quan của người đưa ra lý luận đó. Dưới tác động của cái chủ quan, ai có thể cho rằng mình là đúng đây? Trong một nền dân chủ đích thực, xứng đáng với tên gọi của nó, luật là do đa số quyết định. Trong một số nơi khác, luật là do những kẻ nắm quyền. Một phán quyết bằng bạo lực và dựa vào bạo lực thì không thể có một giá trị chung cuộc của sự thực. Nó sẽ bị lịch sử huỷ bỏ, và chuyện đó xảy ra ngay trong lúc những kẻ làm án kia còn sống, thời gian và hoàn cảnh trong quá trình tiến hoá, sẽ lôi họ ra khỏi những giấc mơ trì độn và họ sẽ phải tự đấm ngực sám hối. Nhưng tôi nghĩ là ông đến đây hôm nay không phải để nói những chuyện đó, mà tôi cũng chẳng có hứng thú để nói đến. Vậy xin ông cho biết lý do của cuộc viếng thăm.
- Tôi được lệnh đến xem ông đã ra làm sao và giá cả những món ông muốn bán.
- Thật vậy, Đảng có tai mắt khắp nơi, không để cái gì vuột khỏi tầm mắt. Nhưng tôi nghĩ là những báo cáo của công an cũng đã cung cấp đầy đủ tin tức về con người khiêm tốn của tôi. Không, vẫn chưa đăng cáo phó tôi chết, cũng chưa phải lúc, nhưng cũng sắp thôi. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn sự rộng lượng và lòng cao thượng của Đảng đã chưa đưa tôi lên máy chém hay ra đứng trước trụ xử bắn. Đó có thể là điều tốt đã dành cho tôi. Cám ơn Đảng đã quan tâm muốn biết tin về tôi. Những món đồ đem ra bán là những cái gì cuối cùng mà chúng tôi có, và đó cũng là tấm ván cứu hộ cuối cùng cho gia đình chúng tôi. Tôi hy vọng là chúng có thể bảo đảm cho chúng tôi sống còn khoảng hơn chục năm nữa.
- Hơn chục năm? Ông định đòi giá bao nhiêu vậy?
- Trước khi trả lời câu hỏi của ông, cho phép tôi được hỏi ông, lãnh đạo định mua lại đồ đạc của tôi để dùng vào chuyện gì vậy?
- Ồ… Chuyện đó thì tôi chưa thể nói được, chưa thể nói là sẽ đem những của này đi về nơi nào. Nhưng tôi nghĩ là hiện nay các quan hệ ngoại giao đang lớn mạnh, chắc cũng dễ kiếm chỗ để những món ấy trong các phòng tiếp tân hay đại sảnh.
Tôi vừa kiếm ra câu thần chú cho điều bí ẩn. Thực tế là, chuyện mua đồ chỉ là một cái cớ cho cuộc thăm viếng bất ngờ của một tay cớm để vào nhà một kẻ đang bị một án chết đang treo. Tôi nghĩ rằng giới quyền cao chức trọng đã xem tôi như một kẻ không thể cứu được nữa và như dân gian thường nói, là tại sao phải nuôi ong tay áo! Người ta không muốn giết tôi vì không muốn khuấy lên những xúc động của giới trí thức và những khối nhân dân khác. Nhưng người ta cũng mong tôi chết đi để tránh cho Đảng phải chịu những phiền phức do ngòi bút và tiếng nói của tôi. Vì thế, biết được thâm ý của Đảng, tôi dễ dàng tìm ra câu trả lời để nói cho kẻ thay mặt họ:
- Tôi muốn yêu cầu ông khi về lại, nhân danh tôi mà cám ơn các quan chức đã gửi ông đến gặp tôi. Tôi sẽ rất cảm kích nếu ông nói giùm với họ là tôi sẽ biết ơn họ đến chết về những việc mà họ đã làm cho tôi. Dù đang nắm sinh mạng tôi trong tay, họ vẫn không kết án chết vì cái “tội ác” của tôi, nhưng họ, vì công lý và nhân đạo, đã chọn kết án tôi cả đời. Một đời dở sống dở chết, hấp hối và cuối cùng cũng hết đời. Nếu bây giờ các ông ấy thấy đồ đạc tôi cũng gọi là xem được thì họ cứ lấy chúng đi, như họ đã lấy ba căn nhà thừa tự mà tôi đã hiến cho nhân dân. Nếu họ không muốn mang tiếng là mang gương mặt của kẻ cướp thì họ trả cho tôi bao nhiêu cũng được. Như vậy là tôi cống hiến tất cả những gì tôi có như là một người cộng sản chân chính.
Tôi đã không lầm. Tôi không còn gặp lại anh chàng vô tích sự đó, và sau đó cũng không có người nào như bọn đó đến nhà. Chỉ với ý nghĩ là Đảng cho người đến mua rẻ đồ đạc của một người mà họ kết án sống trong sự đói cũng đủ làm tôi không thể nén mình để bật ra những tràng cười ha hả… Người ta có thể phiền trách những lỗi lầm của Đảng, nhưng với cái thâm hiểm như thế. Không là không!
Một thời gian sau đó, bỗng dưng có một người ăn mặc trang trọng, com lê cà vạt hẳn hoi, đến gõ cửa nhà tôi. Thời buổi này mà ăn diện thế thì hoạ là mấy anh Việt kiều thôi. Tại sao? Thời ấy chỉ có những người nước ngoài và những người trong ngành ngoại giao có việc qua Hà Nội mới không phải mặc những đồng phục cộng sản. Nhưng khi nhà ngoại giao xong công tác ở nước ngoài về, trở lại vai trò công chức của bộ Ngoại Giao, họ phải cải đạo về lại với cái tôn giáo của áo đại cán và đôi dép râu, như thế chỉ có Việt kiều là đóng bộ, cà vạt.
Người khách Việt Nam của tôi tự giới thiệu là một doanh gia đang có ý định mở một khách sạn cao cấp tại Hà Nội dành cho du khách quốc tế. Chỉ cần nhìn là có thể biết ngay ông khách từ nước nào đến và thuộc giới người nào. Ông ta có một khổ người cao lớn so với người Việt trong nước với một làn da sáng của những người sống ở các nước ôn đới mà nắng không làm đen da, khuôn mặt nhẵn nhụi, vầng trán rộng, cao dưới một mái tóc chải chuốt cẩn thận thoáng một mùi nước hoa kín đáo thơm phức. Sau cái gọng kính vàng, đôi mắt ông ta nhìn kẻ đối thoại như muốn tìm sâu những ý nghĩ của họ. Với giọng nói chững chạc rõ từng chữ từng âm như để tránh những lỡ lầm của đầu lưỡi có thể làm lộ ra những ý định đằng sau của mình nhưng cũng đủ để cho thấy sự nghiêm chỉnh trong lời nói và sự trình bày. Nhưng nụ cười ông ta thì rất thân thiện, mời đón dễ gây thiện cảm và dường như có thể tạo nên một cuộc trao đổi chân thành và thông cảm. Ông ta tự giới thiệu:
- Tôi đã ra khỏi nước từ ba mươi năm trước và đã lập nghiệp ở Mỹ, mở một công ty nhập khẩu và vận tải biển với một đội thương thuyền nhỏ. Ở nhà tôi chưa bao giờ bỏ qua bất cứ chương trình truyền hình phát thanh nào bằng tiếng Việt hay tiếng Anh về Việt Nam. Tôi có nhiều liên lạc với ngưới Việt ở các nước như Pháp, Canada, Anh Quốc, Úc, Đức và dĩ nhiên là cả ở Mỹ. Tôi không phải là cộng sản, nhưng tôi cố tìm hiểu cái ý thức hệ đó, nhưng sẽ không bao giờ ngần ngại giúp sức nếu những việc làm của họ chừng nào họ còn làm vì yêu nước chứ không phải vì chủ nghĩa. Chúng tôi, những người Việt sống ở nước ngoài không bao giờ ngần ngại nói thẳng: cho dù là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản hay bất cứ thứ chủ nghĩa nào mà đem lại hạnh phúc cho nhân dân, kiếm cách làm cho dân tộc bớt nghèo, bớt khổ thi chúng tôi sẵn sàng đóng góp, đặc biệt là những giúp đỡ nhân đạo như trường hợp nạn đói hay lụt lội chẳng hạn. Chúng tôi dạy con nói tiếng Việt, giáo dục chúng những phong tục tập quán của quê nhà và chúng tôi cảm thấy hạnh phúc được thấy thế hệ sau rất xứng đáng với sự chờ đợi của chúng tôi, thấy chúng vinh dự mang tên Việt và có tổ quốc Việt Nam.
- Chúng tôi được thông tin về những gì quí ông bà mang lại cho dân tộc và đất nước. Đặc biệt là ở những vùng thường bị thiên tai, dân ở đó không ngần ngại nói rõ là gạo cứu đói không phải đến từ Chính phủ mà đến từ những tấm lòng yêu nước thương dân của nhân dân trong nước và hơn nữa từ những người ở nước ngoài.
- Chúng tôi hạnh phúc vì chuyện ấy. Cái truyền thống đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của những người cùng chung một mẹ, không phải mới có đây mà có tận thời bà Âu Cơ. Chúng tôi có một điều thấy tiếc về vấn đề này, nếu chúng tôi có thể nói được, đó là sự hiểu lầm giữa Nhà nước và chúng tôi. Trong mấy chục năm, họ chỉ chúng tôi bằng đủ thứ tên gọi, đổ đống lên chúng tôi đủ thứ nhục mạ ti tiện, cho chúng tôi là những kẻ phản quốc. Khi chính trị che mờ lý lẽ, chúng tôi chấp nhận chuyện đó. Nhưng từ đó mà quay lưng với cả khối đáng kể người Việt ở nước ngoài với rất nhiều người thành đạt, đầy khả năng về khoa học, kỹ thuật, là những quản trị viên trong mọi ngành kinh tế, đặc biệt là những người có khả năng tài chánh lớn có thể góp phần xây dựng tổ quốc. Đó là một điều bệnh hoạn, một điều khùng điên không thể tha thứ được. Nếu những người muốn giúp Việt Nam đang phàn nàn về chuyện đó thì những kẻ chống lại vỗ tay hoan nghênh là Việt Nam đang tự mình cắt bỏ những đóng góp giúp đỡ của những đứa con của mình, như vậy sẽ làm cộng sản tan rã nhanh hơn.
- Thật đúng lúc để nhớ lại một câu nói dân gian là Jupiter làm mù mắt những kẻ mà nó muốn bị thua. Nhưng hiện nay chính phủ đang chăm chút Việt Kiều, đề cao lòng yêu nước của họ!
- Nhiều người trong chúng tôi đã phì cười về chuyện đó. Tiền làm thay đổi bộ mặt của thói đời và tấm lòng con người. Có lẽ người ta nên cám ơn mãnh lực của đồng đôla làm nên phép lạ đã làm biến hình, tẩy trắng khuôn mặt đen quỷ dữ của Sa Tăng biến chúng thành thiên thần của Thiên Đàng. Nhưng tôi thấy có một sự kiện mà tôi cho rằng có ý nghĩa. Có một số người trong chúng tôi đã dấn thân vào một cuộc đấu tranh bền bỉ cho nhân quyền ở Việt Nam. Lời nguyền rủa mà những người cộng sản đã tung ra ào ạt chẳng chứng minh gì khác ngoài cái hận thù tàn bạo mà họ có đối với nhân quyền: họ đứng về phía phi nghĩa và một thiểu số độc tài. Họ ngoan cố không chịu thấy sự thực là chuyện bảo vệ nhân quyền không có gì là phản quốc hay phản nhân dân cả. Kẻ nào trộn lẫn hai thứ đó vào nhau sẽ bị nhân loại đào thải. Họ là những kẻ đáng thương tội nghiệp hơn là đáng sợ. Sớm hay muộn, giờ trừng trị cũng sẽ đến.
Nhưng chính cái bệnh ấu trĩ của người cộng sản mới làm tôi kinh hoàng. Với tất cả những quyến rũ của chủ nghĩa tư bản, người ta lại kéo kinh tế thị trường, luật cung cầu, lý thuyết về giá cả, kinh tế tự do gộp chung lại và gọi đó là kinh tế năm thành phần, lợi nhuận, etc… rồi người ta dán lên đó cái nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa, và thế là trò chơi đã sẵn sàng: người ta đã có thể giương cao cái cựa và ném ra tiềng gáy cúc cu của chủ nghĩa xã hội… Người ta đã khởi sự dân chủ từ lâu nay, nhưng vì chê bai chủ nghĩa tư bản nên người ta lại phải trang điểm thêm cho dân chủ một tính từ “xã hội chủ nghĩa”. Và giờ đây thì sự loạn ngôn đầy náo nhiệt: khẩu hiệu được tung ra, kêu gào đó là Đổi Mới, nhưng chẳng có gì thay đổi: tham nhũng, hối lộ càng ngày càng toả rộng vùng bị nhiễm, không có một ông trùm nào bị đưa ra Toà hay bị những bản án. Nhục nhã và tệ hại hơn nữa là người ta đã sắp xếp cho kẻ phạm những tội quy mô đào thoát ra nước ngoài, hay nhắm mắt làm ngơ cho họ di dân đến nước khác để tránh những cuộc điều tra hình sự, trước dự thẩm hay trước Toà, để không làm liên luỵ tới những vị chúa tể và khỏi gây ra những phẩn nộ có thể hiểu được của công luận. Trong khi chờ đợi, những kẻ hút máu của nhân dân đã cất giấu an toàn những tài sản trộm cắp được, và sau một thời gian bị lưu giữ hoàn toàn hình thức dưới một thứ tù giam mà chúng có thể sống một cuộc sống xa hoa, họ có thể được giảm án, tha tội và được trả lại tự do để trở về sống yên bình, được tôn kính để tận hưởng thành quả của tội ác trước đây. Việc kiếm ra giải thích cho hiện tượng này là rất dễ dàng: cộng sản không cho rằng những tội hình sự mà các đồng chí của họ phạm là phải bị đem ra bêu thây và bị trừng phạt nghiêm khắc. Thật vậy, nếu thanh danh Đảng bị giảm và bị ô nhục thì niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng mất đi, điều đó chẳng phải là vì do kẻ thù mà là do chính kẻ nằm trong ruột Đảng. Từ khi tôi vào Việt Nam, nhiều người bạn của tôi cho biết những tin tức đó, dù là những tin có thể làm lương tâm nổi loạn, đều là điều có thật. Những kẻ bị các lãnh đạo hận thù và bị kết án với những cái chết đầy bí ẩn là những kẻ thù chính trị đã đi sai “đường lối” của Đảng và nhất là những kẻ muốn bứng họ ra khỏi những chức vụ lãnh đạo cao nhất. Thật vậy, đó là những cuộc đấu đá dơ bẩn để dành quyền lực được che đậy dưới cái áo khoác đỏ của chính trị. Nhưng cái gì kinh hoàng và không thể tưởng tượng được là ở trong cũng như ngoài Đảng, có những trí thức nổi tiếng đạo đức mà ai cũng kính phục lại tham gia vào cuộc chơi, chấp nhận lời biện minh của Đảng, đưa cao quả đấm lên trời, bước đi trong hàng ngủ của Đảng, vừa gào to những khẩu hiệu giả dối. Ở đây phải công nhận là nền giáo dục cộng sản là thành công, họ thuyết phục được những người, dường như đầu óc vẫn còn minh mẫn nhưng lại không tin vào những gì mắt thấy, tai nghe mà ngược lại còn tôn xưng những tôn chỉ của Đảng, để tăng thêm niềm tin vào những gì Đảng quyết định và ra lệnh như là kẻ duy nhất nắm giữ sự thật và là nhà tiên tri Phúc Âm Marxist-Leninist. Loại cuồng tín biến sự đa dạng thành rô bốt, biến con người thành những cỗ máy chỉ biết cử động khi có lệnh đến từ bên ngoài thật sự làm những cái đầu biết suy nghĩ lo ngại.
- Tôi thấy chỉ có một phương thuốc duy nhất là cái văn hoá trí thức làm phát triển lý tính, gìn giữ tinh thần phê phán, rèn luyện năng lực phán đoán, rao giảng sự thật và khách quan, cỗ võ cho sự trong sáng và chính xác trong việc quan sát và thấu hiểu các hiện tượng, tính logic trong lý luận và nhất là biết hoài nghi đố với những anh Don Quichotte vừa cưỡi ngựa vừa tung ra những lời khoe khoang khoác lác chẳng những không thuyết phục được ai mà còn tỏ ra ngây thơ, dốt và ngu xuẩn! Chính nhờ nền văn hoá của Pháp được hưởng ích lợi mỗi ngày đã giúp tôi giữ được, chăm sóc và phát triển con người của tôi giữa cuộc sống bị xói mòn bởi chủ nghĩa hình thức và thân phận nô lệ.
- Cái ý thức phê phán và chủ nghĩa hoài nghi thì ít phát triển ở những nước nói tiếng Anh, như nơi tôi đang sinh sống, nhưng đầu óc thực tế và chủ nghĩa thực dụng lại giúp chúng tôi tự giữ mình không tuột trên con giốc của sai lầm bởi những định kiến và chủ nghĩa theo thời mà đập mình vào khối đá của quyền lợi mà tan vỡ. Cũng vậy, những gì tôi thấy ở Việt Nam làm tôi thật sự kinh hoàng. Trong những lần đi thăm nhiều nơi trong nước, đặc biệt là ở những vùng phía Bắc, tôi vẫn không thể hiểu được sự chịu đựng của giai cấp nông dân phải sống cảnh nghèo hèn đau khổ mà chưa bao giờ thấy họ vùng lên phản kháng, cũng không thấy họ kiếm cách tìm hiểu nguyên do hay thuốc trị. Khi tôi rời nước ra đi ba mươi năm trước, người ta lúc ấy rất hiếu động, năng động và luôn dám chế giễu những kẻ đang cầm quyền chứng tỏ là cái đầu của dân chúng vẫn tốt và vẫn biết cái gì là hợp tình hợp lý. Cái năng động càng làm cho dân chúng thêm tức giận khi phải đối mặt với cái nghèo, cái bất công. Ngọn lửa năm xưa đẩy quần chúng nổi dậy làm Cách Mạng Tháng Tám đã tàn lụi nơi nào rồi? Tại sao giờ đây họ trở nên như chết rồi không còn sinh khí, bất động trong sự thờ ơ? Tại sao họ lại chịu đựng ngồi khóc một cách thụ động hay có thể đang khóc vì tuyệt vọng như thế? Họ không còn tin mình còn sức gì trong trí óc và hai cánh tay nữa sao? Họ, những người đã viết nên những trang sử rực rỡ.
Tôi không thể thấy cái gì ngao ngán hơn là cảnh tượng sáu mươi triệu người đang trôi dật dờ không chút nghị lực như những xác người trên biển cả. Họ đã bị lừa bịp, phỉnh gạt, phản bội và điều không thể hiểu được là người ta chỉ biết kêu than đói khổ trong khi tài nguyên thiên nhiên thì đầy dẫy và đang chờ khai thác. Những quan hệ làm ăn khiến tôi phải đi qua các nuớc như Thái Lan, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Mã Lai Á. Ba mươi năm trước đâu có nước nào trong nhóm đó dám nói rằng dân tộc họ là hơn dân tộc Việt Nam? Có phải chăng họ cũng bắt đầu từ nghèo khó, có cùng những điều kiện kinh tế, xã hội, tinh thần, cũng phải trải qua những mâu thuẫn, những xung đột tương tự? Thế mà ngày nay thì họ được hưởng mức sống cao hơn, hưởng thụ những tiện nghi tối thiểu về nhà ở, nhiều tự do hơn trong cuộc sống và nhiều nụ cười lạc quan hơn trên khuôn mặt. Tại sao cái sung túc tối thiểu làm cho cuộc sống trở nên hiện hữu và có ý nghĩa, dân mình, một dân tộc chưa bao giờ nhường bước cho bất cứ nước láng giềng nào trên bất cứ khía cạnh nào, vẫn chưa có? Điều quan trọng cho mỗi người trong chúng ta ở Việt Nam là cần phải đặt câu hỏi và kiếm ra giải pháp, dẫu sao cũng nằm trong tầm tay mà thôi.
- Tôi thật phục ông đã có những nhận xét xác đáng và những lý luận có chất lượng của ông. Tôi thấy rõ là ông đã lấy cảm hứng từ một tình yêu chân thành và nóng bỏng cho dân tộc mà ông là một thành viên. Nhưng tôi thì không chia sẻ với ông cái lạc quan mà ông ước tính rằng giải pháp là nằm trong tầm tay. Theo quan điểm riêng của tôi, vấn đề chính yếu là việc giáo dục các tầng lớp quần chúng. Giáo dục phải dạy về những giá trị mà lòng trung thực và sự biết tôn trọng. Con người sẽ trở nên loại người gì mà Trường học muốn tạo như thế đó. Thứ giáo dục theo kiểu Spartan[8] chỉ để dành cho việc đào tạo ra những người lính, đẩy tuổi trẻ vào những cối xay người đen tối, và những bài tập quân sự. Nhưng giáo dục chỉ có thể vận hành có hiệu xuất và cống hiến những kết quả tích cực nếu có toàn xã hội cùng góp sức với nó. Những giá trị bồi đắp cho tuổi trẻ chỉ có ý nghĩa và hiệu quả nếu toàn nước, bất kỳ nơi đâu, nhân dân đều tán dương và vinh danh chúng. Trong thời phong kiến, người dân được dạy và buộc phải tuân thủ những điều răn của Tàu và tuân phục cả những người thầy đã tuyên dạy chúng. Một kẻ nông dân thất học, nếu có nhặt được một mẩu giấy có chữ viết những điều răn trên đó thì hắn ta cũng ném vào lửa. Trong bậc thang xã hội, người thầy được đặt trên cao hơn cả người cha. Nếu chuyện là vậy là vì cha là đấng sinh thành và thầy có công dạy dỗ nên người. Nên người, đó là cái mục đích duy nhất và tối hậu của giáo dục. Vì vậy, muốn được xứng đáng mang danh “nên người” là con người phải được tô điểm bằng những đạo đức, chỉ riêng chúng, đã nâng cao và tán dương nhân tính của con người. Trường học dạy nguyên tắc, đạo đức ứng dụng nó trong gia đình và ngoài xã hội. Chế độ quân chủ ngày xưa bổ nhiệm những nhà nho, nhất là những người thi đỗ những kỳ thi Hương, ba năm tổ chức một lần, vào những chức vụ cao nhất của triều đình. Tên những người đỗ Tiến Sĩ được khắc trên bia đá, các làng không ngừng hãnh diện đã có con em đỗ đạt ra làm quan, trong số đó có những người đã làm điều tốt lành cho đồng bào nên lúc chết đã được dân làng tôn lên thành Thành Hoàng của làng và xây đình thờ phượng. Văn chương, bằng chữ viết hay truyền khẩu, đều đưa ra những tấm gương phải theo của những ông quan thanh liêm và trung chính với Vua và nhân dân, và đả kích không chút thương xót những ông quan leo được lên những nấc thang cao của vinh quang duy nhất nhờ những thủ đoạn nô lệ và hạ cấp. Trong một xã hội như thế, sự vô đạo đức là khó xen vào để kiếm chỗ. Quần chúng nhân dân không cần phải lên tiếng đòi hỏi trừng phạt những kẻ lạm dụng chức quyền hay ăn hối lộ. Cơn thuỷ triều đen của sự vô đạo đức không thể ngập trùm cả xã hội, cả nước được.
Cái khác biệt cơ bản và sâu sắc giữa xã hội ngày xưa và xã hội ngày nay là mục tiêu của giáo dục đã thay đổi. Ngày xưa người ta tôn vinh con người và đạo đức. Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản và cái chính trị quốc tế chủ nghĩa của nó thì được ca tụng bằng trời. Khi cái giá trị chính trị nó đánh bật cái giá trị trí thức và đạo đức, đó là cả một cuộc cách mạng, những thành viên của Đảng không nghi ngờ điều đó. Họ không ngừng kêu gào hai tiếng “Đổi Mới” nhưng khẩu hiệu không thể thay cho hành động; sự xuống cấp của con người và đạo đức đã tiếp bước đi theo hay đi cùng với sự sụp đổ của kinh tế, làm nặng thêm cái nghèo và cái khổ đau của nhân dân.
- Tôi đã thấy ngay điều đó khi tôi vừa ra khỏi máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất. Nhiều nhà trí thức phải đi đạp xích lô, trong khi những nhà chính trị lại chễm chệ ô tô. Trong khi những trí thức phải đi rửa xe máy, sửa xe đạp cạnh lề đường hay bán rau ở các cửa chợ thì các quan lãnh đạo đang thoải mái trong các biệt thự sang trọng với cái thân thể ngày càng đẫy đà qua những lần yến tiệc chiêu đãi sự hiện diện của họ. Trong khi người trí thức phải quần quật nghèo khổ thì các quan quyền cùng với vợ con vẫn chưa thoả mãn cuộc sống nhung lụa vẫn tiếp tục vơ vét vàng và đô la đem gửi ngân hàng Thuỵ Sĩ. Trong khi đó các kho bạc của Nhà Nước không còn tiền mặt, nhân viên bị sa thải, những người còn ở lại thì được phép ra ngoài buôn bán, kể cả ngay trên mặt bằng của cơ quan và được phép nhận những số tiền thù lao lớn nếu xoay sở mang hợp đồng về cho cơ quan chủ quản của họ. Cánh cửa được mở rộng cho thứ chợ đen nhà nước, gian lận thuế, ăn cắp những số tiền đáng kể của nhà nước thông qua những vụ nâng giá bất hợp pháp để được hưởng những khoản tiền hoa hồng. Không có một đất nước nào mà ở đó nhà nước trực tiếp khuyến khích sự phạm tội như thế!
(còn tiếp)
Nguồn: Kẻ bị mất phép thông công. Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức. Hồi ký của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Nguyên văn tiếng Pháp: Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel. NXB Quê Mẹ, Paris, 1992. Người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ. Bản điện tử của thongluan.org |