Trong sự nghiệp nghiên cứu giảng dạy & phê bình văn học của mình, tôi đã phát hiện ra khá nhiều những khuất tất, sai sót, hiểu lầm, nhầm lẫn của những người đi trước.
Nếu đem những phát hiện độc chiêu ấy khai triển viết thành những luận án tiến sĩ văn học, sử học chắc sẽ thú vị lắm. Việc làm này dễ trong tầm tay, nhưng tôi đã không làm như vậy, bởi đối với một cư sĩ, sống ẩn dật lẩn quất trong dân gian như mỗ, học vị học hàm Giáo sư Tiến sĩ chẳng để làm gì cả.
Tôi đã thử viết một vài cái như “Thần thi Vương Bột vang vọng của Phương Đông”, hay “Truyện Kiều là tự truyện tâm linh của Nguyễn Du”…; làm thì hào hứng, nhưng rồi lại bỏ xó vì không có tính mục đích.
Nay, tuổi đã tà, đời đã mạn, các phát hiện trên còn nằm mung lung tản mác trong các sách báo suốt 25 năm qua, tôi phải tập hợp chúng lại gửi cho hậu thế trước lúc giã từ cuộc người. Biết đâu được có nhà nghiên cứu văn hóa trẻ nào đó bị gợi hứng mà tiến sâu vào những vấn đề mà tôi chưa muốn khai phá!? Thế thì vạn phúc cho tôi nơi chín suối lắm. Đa tạ!
Sự kiện Vương Bột xẩy ra từ năm 1991, đã 22 năm nhưng khá nhiều người chưa biết. Một số đông độc giả, 7 nhà văn yêu cầu đăng lại. Nhân việc chú Hoàng Hà – nhân vật chính của thiên bút ký điền dã này vừa tạ thế ngày 12-11-2013 – cũng là cách tưởng niệm người chú dạy văn học tài hoa của tôi trên đất Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An.
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, thi sĩ Vương Bột đã được người đời truyền tụng là một hiện tượng thần đồng.

Thi hào thần đồng Vương Bột (650–676),
Vương Bột, tức Vương Tử An, người được xếp đầu bảng trong nhóm Sơ Đường tứ kiệt (Bốn nhà thơ kiệt xuất đầu đời Đường). Chàng gốc gác người tỉnh Thái Nguyên, sau định cư tại Long Môn (nay là tỉnh Sơn Tây). Xuất thân trong một gia đình quý tộc danh giá: cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Hoan Châu, quận Giao Chỉ (Nghệ An, Việt Nam). Lên 6 tuổi đã nổi tiếng thơ văn và thuộc làu kinh sử, 14 tuổi đạt giải khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình, danh vang toàn cõi, được Lãnh chúa đất Bái rước về tôn làm thầy giảng sách. Xuất chính làm quan võ nhỏ, có lần bị vua ruồng, biếm ra Nam Trung (đất Thục) làm chỉ huy lính đồn trú ở đó. Trước tác còn lại là bộ sách 16 quyển Vương Tử An tập (Tác phẩm của Vương Tử An), gồm sách biên khảo văn sử triết - viết từ tài liệu sưu tầm của ông nội Vương Thông và nổi bật nhất là thơ.
Trong văn nghiệp sáng rực của một cuộc đời ngắn ngủi, tác phẩm làm cho tên tuổi Vương Bột trở nên bất tử lại chỉ là một bài tựa nhỏ Đằng Vương các (Gác Đằng Vương) với hai câu thơ tả cảnh tuyệt bút sống đến muôn đời.
A- DUYÊN ĐẰNG THUẬN NẺO GIÓ ĐƯA
Chuyện kể rằng: Thuở ấy, trên bờ sông Chương Giang, quận Nam Xương, thủ phủ tỉnh Giang Tây có một tòa lâu đài nguy nga, ngảnh mặt về phía sông do đức ông Thái sứ hồng Châu Đằng Vương Lý Anh Hoàng tử của vua Đường Cao Tông dựng lên, gọi là gác Đằng Vương.
Bấy giờ Đằng Vương Nguyên Anh đã chết. Diêm Bá Dư mới đến nhậm chức Đô sát ở Hồng Châu, nhân tiết Trùng cửu (mồng 9 tháng 9 âm lịch năm 666) mở đại yến chiêu đãi các tân khách chọn lọc ở gác Đằng Vương.
Vương Bột, mới 16 tuổi, đang giong buồm sang Giao Chỉ thăm cha, nghe tin vội vã rẽ vào sông Chương Giang tìm cuộc vui. Đường rất xa, đáng lẽ phải đi mất hai ngày, nhưng nhờ ngọn gió Trùng cửu nổi lên thuận buồn, thuyền của chàng chỉ đi mất một đêm là kịp ghé bến dự tiệc.
Giữa tiệc, Diêm công sai gia nhân để bút giấy cung kính đặt trước mặt các danh sĩ, liêu thuộc xin ứng tác cho một bài tựa để lưu niệm cuộc tao ngộ này. Thực ra, mục đích hoàn toàn khác. Diêm Bá Dư có người con rể là Ngô Tử Chương “giỏi” thơ phú, nhân dịp này ông ta muốn làm le triển lãm cái tài Mạch Học sĩ của con rể ra với bàn dân thiên hạ. Ông bảo Chương làm sẵn bài Đằng Vương các tự rồi lấy đầu đề ấy yêu cầu các quan khách hạ bút. Quan khách toàn là dân tao nhân mặc khách hiểu ý tứ kín đáo ấy nên từ chối, nhường quý tế ông chủ. Riêng Vương Bột, chân ướt chân ráo không hiểu mô tê chi cả, thấy bút giấy bày ra trước mặt cùng lời mời đon đả là phóng bút viết lia viết lịa.
Dĩ nhiên, ông chủ Diêm Bá Dư rất không vừa lòng, hằn học ra mặt trước vẻ ngang tàng của chàng trẻ, sai gia nhân xoi mói vào từng chữ chàng viết, rồi mật báo lại với mình hay. Thoạt đầu, Diêm công cho là Vương chép lại bài làm sẵn, hoặc chép thơ người ta.
Nghe gia nhân báo câu mở đầu: “NamXương cố quân, Hồng Đô tân phủ” (Nam Xương là tên quận cũ, Hồng Đô là tên phủ mới), Diêm cười nhạt:
Thần đồng Vương Bột đang sáng tác Đằng Vương các tự
- Đó là lời kể lể quê kệnh của bọn hủ nho già.
Ông ta nghe báo câu tiếp:
“Tinh phân Dực Chẩn, địa tiết Hành Lư”(Nơi ranh giới sao Dực và sao Chẩn, địa thế tiếp với Hành Sơn và Lư sơn)
Diêm giật mình, tư lự.
“Thuyền ngư giọng hát chiều hôm réo rắt quanh miền Bành Lãi. Nhạn trận tiếng kêu trời rét, xôn xao lấp bến Hàng Dương”.
Diêm im lặng.
Và, khi nghe báo đến chỗ Vương Bột hạ câu:
Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
Phần đầu của bài Đằng Vương các tự của Vương Bột (trích đoạn – thư pháp
(Chiếc cò bay với ráng sa
Sông thu cùng với trời xa một màu)
Nam Trân dịch
Thì Diêm đứng phắt dậy, lắc đầu, trố mắt kêu lên:
- Thần cú! Diệu bút! Quả là thiên tài, đáng lưu danh muôn thuở.
Vương kết thúc bài phú:
ĐẰNG VƯƠNG CÁC
Đằng Vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại Trường giang không tự lưu.
Dịch:
Gác Đằng cao ngất bãi sông thu,
Ngọc múa vàng gieo nay thấy đâu?
Nam Phố mây mai quanh nóc vẽ,
Tây Sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi,
Mấy phen vật đổi với sao dời
Con vua thuở trước giờ đâu tá?
Sông lớn hoài hiên luống chảy hoài.
Tương Như dịch

Từ đó, gác Đằng Vương với hai câu thơ của Vương Bột đã đi vào cõi trường sinh! Từ đấy, tên tuổi Vương Bột lại càng lừng lẫy! Sự tích này đã trở thành điển cố văn học. Về sau, Tô Đông Pha có câu thơ “Thời lai phong tống Đằng Vương các” (Gặp thời thì mới gặp gió đưa tới gác Đằng Vương). Nguyễn Du có câu “Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa” (Kiều). Lê Thánh Tông (Hồng Đức Quốc âm thi tập), Nguyễn Cư Trinh (Trinh thử), Vũ Quốc Trân (Bích câu kỳ ngộ) đều dùng điển tích này để chỉ dịp may hiếm có, cơ hội nghìn năm có một.
Cuộc đời Vương Bột thật huy hoàng bỗng chợt tối vì tai nạn bất ngờ, khép lại đời một thi sĩ tài hoa 26 tuổi! Sử cũ chép: năm 676, trên đường đi thăm cha, bị bão đắm thuyền, chết đuối. Nhưng Vương tử nạn ở đâu thì không nói rõ! không ai biết. Dương Quýnh, bạn thân của Vương Bột, chỉ biết ngậm ngùi gom di cảo của chàng để lại đem in, cầm một nắm hương xá ra ngoài biển, than trời. Về sau, luận thuyết của Mao Trạch Đông cũng chỉ nêu “ Năm tháng.., Vương Bột sang thăm cha ở Giao Chỉ, ngã xuống biển chết”.
Đã có bao nhiêu nhà văn, học giả cất công tìm kiếm. Ngô Tất Tố trong một bài báo viết năm 1939 trên tờ Thời vụ số 118 cho là Vương Bột chết trên hồ Động Đình. Hoàng Ngọc Phách - Kiều Thu Hoạch trong Giai thoại văn học Việt Nam lại cho rằng ở sông Chương Giang. Còn Thái Vũ lại bảo trên sông Bạch Đằng (Việt Nam). Xem ra, đều là những ức đoán, võ đoán có lý nhưng khó thuyết phục, nghe chơi vậy thôi.
B- VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI NÀO?
Thế rồi…
Trong một chuyến đi điền dã về quê Nghệ Tĩnh để lấy thêm tài liệu viết sách, tình cờ tôi phát hiện ra nơi Vương Bột tử nạn.
Đằng Vương Các Tự
Ngày 30-7-1986, từ Sài Gòn tôi hành hương về huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), ghé làng Tiên Điền viếng mộ Nguyễn Du, thắp hương ở nhà thờ La Sơn Phu Tử, xuống làng Uy Viễn hỏi chuyện về Nguyễn Công Trứ, vào làng viếng Tả Ao… Vượt qua sông Lam sang xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) thăm ông chú với cha tôi là anh em con cô cậu, dạy học lâu năm ở đây đã nghỉ hưu: Chú Hoàng Hà. Đêm đó, tôi đọc bản thảo Chuyện hay nhớ mãi cho cả nhà nghe, trong đó có mấy cô sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Vinh cùng nghe. Đến hết truyện Bùi Hữu Nghĩa yểm thơ Vương Bột thì chú Hoàng ngạc nhiên kêu lên:
- Ơ tề, đền thờ Vương Bột ở kia, gần sát nhà ta mà cứ đi tìm quẩn!
Tôi mừng như vớ được vàng, bồn chồn suốt đêm, chờ sáng, cùng chú chạy sang. Tòa đền uy nghi rợp bóng cổ thụ - theo lời kể của chú Hoàng, người đã thành thổ dân ở đây - nằm trong một khuôn viên ngót một hécta, giờ chỉ còn lại cái nền đất, trên đó tọa lạc một cơ quan mới: Xí nghiệp vận tải biển Nghệ Tĩnh!
Thương hải biến vi tang điền, chỉ còn lại cái móng cũ toà đền, cổng tam quan, vài con kỳ lân đá chỏng chơ trước sân chầu, phía sau thấp thoáng núp trong lau lách là một trụ biểu đá hình vuông to đủ hơn vòng tay người ôm, ghi lạc khoản. Nhìn từ phía hậu đền là cả một vùng hoang liêu. Phải chăng đây là nơi yên nghỉ cuối cùng, di chỉ còn sót lại, chứng tích nơi khói hương nghi ngút ngàn năm qua thờ cúng một thiên tài!
Năm 1958, khi xây trường cấp hai, thiếu vật liệu xây cất, chính quyền địa phương đã “mượn” tạm ngôi đền hạ. Thật đau lòng là một trong những người phải thừa hành lệnh trên điều khiển học trò cấp hai phá đền lại chính là ông chú dạy văn nổi tiếng vùng này của tôi!
- Ngài linh lắm – chú Hoàng nói – Ngài xả một đống rui mè suýt nữa thì đè nát cả đám học trò.
Hơn 30 năm sau chú Hoàng tự thú “tội” trên với tôi bằng cái giọng thất kinh, hối tiếc và một dáng dấp buồn còn vương trong cặp mắt mờ đục của chú.
Tiếp đến, cuối tháng 12-1972, bom đạn B52 của Mỹ đã xoá sạch đền, đồ thừa tự ra tro, tượng Vương Bột, Vương Phúc Cơ điêu linh. May thay, người dân Nghi Lộc đã cứu được hai pho tương.
Tôi ngậm ngùi trở ra. Một đàn chim sếu giăng qua bầu trời. Lòng tôi rưng rưng.
Cửu nguyệt, cửu nhật vọng hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na tòng bắc địa lai.
Mồng chín tháng chín Vọng hương đài
Cất chén quê người tiễn bước ai,
Nỗi khổ Nam Trung lòng đã chán,
Nhạn hồng đất bắc xuống chi đây?
Khương Hữu Dụng dịch
Tiếng thơ nức nở của Vương Bột hồi đi đày đất Thục cứ ngân nga giữa hồn tôi. Cảm thương người xưa, tôi đọc cho chú Hoàng cùng nghe. Chú bình:
- Cái mệnh yểu là nó xúi ngay trong văn chương…
Chúng tôi đi bộ qua xã Nghi Xuân (huyện Nghi Lộc), tìm đến nhà ông Nguyễn Hữu Uông – viên đại úy đã nghỉ hưu, có chân trong Mặt trận Tổ quốc huyện Nghi Lộc, thăm pho tượng Vương Phúc Cơ. Hỏi tượng mà ông Uông lại vui vẻ đem khoe với tôi và chú Hoàng - thầy giáo cũ của con ông - một thứ gia bảo khác : chiếc nắp liễn bằng sứ men xanh bóng làm từ đời Khang Hy, mặt trên nắp bé bằng bàn tay chép toàn bộ bài Xích Bích phú của Tô Đông Pha. Ông rất e dè khi đả động đến pho tượng. Pho tượng ông đặt ở gian ngoài, trong một chỗ kín. Tượng được tạc bằng gỗ quý, sơn son thếp vàng, cao lớn giống người thật, đội mũ (loại mũ như Đường Tăng) và vận trang phục huyện lệnh, sơn đang bong từng mảng trên khuôn mặt nghiêm nghị và phúc hậu. Ông Uông chỉ nói:
- Thấy pho tượng đẹp giầm mưa giãi nắng, phí quá, không đành, tôi đem về cất giữ thôi.
Trên đường đi, chú Hoàng nháy tôi:
- Ông ta nói thế chứ đêm đêm trong khuya vắng lại dậy lén thắp nhang!
Đến cửa biển sông Lam xã Nghi Hải, chúng tôi ghé vào nhà cụ Nguyễn Sung, 70 tuổi. Ông Sung làm nghề thợ mộc vắng nhà. Bà Sung nhìn tôi từ đầu đến chân, nghi ngại. Chú Hoàng phải phân bua mãi, rằng tôi không phải là cán bộ đi bài trừ mê tín đi đoan đâu, bà mới yên lòng tiếp chúng tôi:
- Một sáng, tôi ra sông lấy nước, có một pho tượng tấp vô dập dềnh trước bến nhà tôi, luôn hai ngày như thế không chịu đi. Tôi đồ là ngài uốn “ngự” lại đây nên lội xuống tắm rửa thánh thể sạch sẽ, sai con cháu hè nhau rước ngài lên lập bàn thờ cúng từ bấy đến nay.
Bà sai cậu con trai đốt một cây đèn cầy, dẫn chúng tôi vàogian cuối cùng. Buồng tối mờ mờ, thâm u vẻ thiền. Vén màn cầm nhang, bà khấn khứa như xin khất hành lễ. Tôi nom thấy tượng Vương Bột trong tư tế bán thân ngồi, trẻ trung, má phinh phính, tọa đường bệ trên bàn thờ sát nóc thượng lương. Tôi tranh thủ xin phép ghi hình.
Theo chỉ dẫn của “`thổ dân”, sáng hôm sau, chú hoàng lại dẫn tôi tìm đến nhà cụ Mai ở xã Nghi Xuân. Cụ Mai đã 75 tuổi, con trai còn lại của Cụ Tú Lê Kế Xuân - một nhà giáo yêu nước đã từng giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục hồi đầu thế kỷ XX.
Cụ Mai rít hột hơi thuốc lào rõ kêu, phả khói mù mịt khoan khoái, vuốt chòm râu lưa thưa, chậm rãi:
Theo lời cha tôi kể thì Vương Bột nổi danh nhờ ngọn gió Trùng cửu này. Ngài là người con hiếu thảo, lại có tính ưa du sơn ngoạn thủy, thường sang thăm cha luôn. Lần cuối cùng, ngài cũng 7 gia nhân cưỡi thuyền mành, lợi dụng ngọn gió Trùng cửu vượt bể Đông thẳng tiến Hoan Châu. Gần đến bờ thì bão lớn nổi lên, đùng đùng dìm thuyền chết sạch, xác thuyền xác người tấp hết vô cửa Hội Thống (tên cũ của Cửa Hội). Riêng thi hài Vương Bột, nước thuỷ triều đẩy ngược theo sông đến một cây rưỡi số rồi dạt vào bờ bắc sông Đồng Long (tên cũ của sông Lam), nay thuộc địa phận xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc. Quan huyện lệnh Vương Phúc Cơ tìm được xác con đau đớn kêu trời. Vì cảm cái ơn mưa móc nhân đức của quan Vương Phúc Cơ và tiếc thương người tài Vương Bột mà công tích đã được chép rành rành trong bộ Đường thư mệnh chung quá sớm, nhân dân Hoan Châu đã long trọng an táng nhà thơ ngay nơi ngài lâm nạn.
- Thế còn hồn ma Vương Bột hiện lên đọc thơ, chuyện ấy có không hở cụ?
- Có thế đấy, cha tôi cũng có nói tương truyền đêm đêm trong thanh vắng, trên ngôi mả ven sông vẳng nghe tiếng than oán, u uất ngâm mãi hai câu thơ bất hủ của mình “Lạc hà…”. Dân quanh vùng rợn gáy sợ hãi, truyền lan lời đồn đại, bàn nhau góp công góp của dựng một ngôi miếu thờ phụng cho vong linh ngài chết oan đầu xanh tuổi trẻ tha hương được siêu thăng tịnh độ. Câu tục ngữ “Nước Cửa Trà, ma Cửa Hội” là có từ thuở ấy.
Sau này, chẳng bao lâu Vương Phúc Cơ cũng qua đời vì tổn thương quá lớn do cái chết của người con, người ta đưa ngài vào đền thờ, tạc hai pho tượng. Hai cha con ngài trở thành phúc thần của nước Việt từ đó.
- Thiêng vậy, có ai “yểm” không cụ? – tôi gạn hỏi.
- Có Tà Ao tiên sinh. Thật buồn cười cho người đời. Ông thầy địa lý tiếng tăm đó đã từng đi chu du khắp nước lo việc cải mả đem lại phúc lộc dồi dào cho không biết bao kẻ, thế mà khi nằm xuống lại không tìm được cho mình một doi đất phát.
Một đêm trăng thanh gió mát, tiên sinh cưỡi thuyền thúng băng qua sông. Đến trước mả Vương Bột, lên tiếng quát “Vương Bột, ngài chớ hợm mình, ngạo đời, tài cán gì ở ngài, làm có hai câu thơ mọn cũng không xong. Ngài muốn khoe tài thì về bên Tàu mà khoe, chứ ở đất này ngài còn dốt lắm!”. Gió rít lên, vẳng nghe như oan hồn Vương Bột dật dờ đâu đây cãi lại bằng cách ngâm hai câu thơ để trêu người thầy địa lý. Tả Ao tiên sinh mới đưa tay xá theo một nắm hương to : “Này ngài Tử An, hà tất “dữ” hà tất “cộng” nhị tự. Đã “tề phi” (cùng bay) thì cần chi phải “dữ” (với), đã “nhất sắc” (một màu) thì cần chi phải “cộng” (cùng). Hay thì có hay thật những gieo 14 chữ mà thừa những hai chữ thì tài giỏi chỗ mô?”. Lạ thay, dân vùng ấy kể lại từ đó oan hồn của họ Vương tiệt không dám hiện ngâm nga nữa.
Cụ Mai ngưng kể, xoi lại ống điếu. Ngoài xa, sóng biển vỗ rì rầm, buồn bã. Chú Hoàng góp thêm:
- Tuy thế, ngài vẫn hiển linh lắm. Có ba người đụng đến ngài thì cả ba đều đắc tội. Tôi đơn cử vậy thôi thì chuyện này thì nhiều lắm. Đó là một võ quan Nhật năm 1945 ngang ngược nhảy lên cưỡi con ngựa của ngài, bị sưng húp cả bìu dái hệt như dái ngựa. Nhờ dân mách bảo phải sắm lễ đến tạ ngài mới thôi hành. Tiếp đến là một thằng nhỏ vô phép leo lên bệ thờ, giẫm chân vào vai ngài để bắt chim sẻ trên mái ngói bị ngài quở ốm lên chết xuống. Người thứ ba là kẻ hò hét phá đền năm 1958, mãi đến năm 1969, bị bom ở Hà nội banh xác không nhặt được mảnh nào…
Tôi nghe chuyện, rùng mình, cứ y như là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học châu Mỹ La tinh. Chao ôi! Đời thật là có quả báo. Tôi hỏi như chất vấn cụ Mai:
- Thế, Vương Bột là phúc thần hay hung thần?
- Gieo nhân nào thì gặt quả ấy, ác giả thì ác bá. Phật khi cần cũng phải cầm gươm nữa là thần thánh. Các ông coi, chứ tượng ngài bên nhà ông Sung dân vẫn bí mật thờ. Ngài vẫn phù hộ độ trì cho bà con ngư dân chúng tôi ra khơi vào lộng thuận buồm xuôi gió, ăn nên làm ra. Trước sau, ngài vẫn là phúc thần.
Cụ Mai quả quyết kết thúc như một triết gia.
Câu chuyện trên đây bẵng đi thế là đã 5 năm. Trở về Sài Gòn, tôi bận bịu với công việc làm sách nên quên mất. Hôm nay, nhân Việt Nam và Trung Quốc rục rịch nối lại bang giao, tôi giở lại những trang tư lệu ghi chép cũ trong sổ tay, bất giác sững sờ, lòng đầy những rung cảm, tôi ngồi vào bàn viết lại thành văn.
Tôi viết bài bút ký điền dã này với hai mục đích:
1-. Khi biết rõ sự thực về nơi tử nạn của Vương Bột, thì vừa lúc Nhà xuất bản Thuận Hóa ở Huế cho sắp chữ quyển Chuyện hay nhớ mãi của tôi. Tôi chỉ kịp nhắn đến ban biên tập vớt vát được một dòng ở phần chú thích trang 180: “Sự thực thì Vương Bột vào đất Hoan Châu bị bão đắm thuyền ở cửa Hội Thống”… Bạn đọc của cuốn sách đó xin cảm phiền xem đây là đính chính cần thiết.
2- Tôi muốn bài ký khảo cứu khoa học nhỏ này khi đến tai Bộ Văn hóa Thông tin - Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ Tĩnh, Chính quyền huyện Nghi Lộc mong sẽ được các vị có thẩm quyền xem như một gợi ý: nên xét kỹ đến việc xếp hạng di tích văn hóa quốc gia và cho xây lại ngôi đền Vương Bột ở xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, bởi lẽ trong thời Đường thuộc đen tối, nhân dân Hoan Châu vẫn sáng suốt nhận ra chánh tà, phải trái. Vương Phúc Cơ có thể là một huyện lệnh tốt, biết cách trị dân bằng nhân chính để lại nhiều ân nghĩa với dân. Việc nhân dân Hoan Châu suốt 1.300 năm không bao giờ sao nhãng hương khói thờ phụng một nhà thơ lớn, nhà tư tưởng của Trung Quốc như một vị thần của Việt Nam là biểu hiện của một dân tộc văn hiến, là biểu tượng vĩ đại của tình hữu hảo Việt – Trung.
Thời gian thiên tai, bão lụt, binh lửa chiến tranh liên miên đã bao phen hủy diệt ngôi đền Vương Bột. Hỏng thì xây lại! Bà con Nghệ Tĩnh đã kiên trì bảo tồn ngôi đền Vương Bột như một tín nghĩa thiêng liêng trong suốt trường kỳ lịch sử. Lẽ nào con cháu bây giờ lại thua kém cha ông? Hơn thế nữa, phải chuộc lại lỗi lầm khi những bàn tay vô thức đã tiếp sức cùng bom đạn giặc tàn phá hàng trăm đình chùa, miếu mạo, trong đó có di chỉ văn hóa cổ nhất - ngôi đền Vương Bột.
Tôi cầu mong sao cho pho tượng danh nhân văn hóa Vương Bột sớm rời chỗ sơ tán trở về vị trí cũ. Mong sao cho tòa đền lại mọc lên như một huyền thoại trên nền đất cũ oai nghiêm, cổ kính soi bóng xuống dòng Lam xanh êm đềm, trở thành điểm du lịch văn hóa lý tưởng thú vị không riêng của Nghệ Tĩnh mà là chung của cả nước.
Nghi Lộc, 30-7-1986/ Thành phố Hồ Chí Minh 5-6-1991
Bài đã đăng: BáoVăn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 1991
- Tạp chí Liêu Vọng - những vấn đề văn hóa đối ngoại của Trung Quốc, số ra 11-6-1992.
- Kỷ yếu về Thần thi Vương Bột - Hội LHVHNT Nghệ Tĩnh xuất bản 1992.
- Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thuật lại thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax bài báo về Bắc Kinh. Nhân dân Trung Quốc đã “sửng sốt” trước sự kiện trọng đại này.
- Tiếp đến học giả Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ thạc sĩ Nghê Hà Vận - hai nhà Việt Nam học sang tiền trạm, làm công việc thị sát.
- Giới trí thức và bô lão địa phương thì tận tình giúp đỡ khoa Sử trường Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh.
- Nền thơ Đường rực rỡ với 2.300 thi sĩ và 5 vạn bài thơ cho đến nay vẫn là đỉnh cao của văn hóa nhân loại, không nước nào trên thế giới vượt qua nổi mà Vương Bột là kiện tướng đi tiên phong khai sơn phá thạch. Ngài tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn đen suốt hơn 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ vào thời điểm chính rị nhạy cảm nối lại bang giao sau cả chục năm tuyệt giao hảo. Người Tàu là họ rất quý trọng mồ mả tiền nhân. Chúng ta đã “điểm đúng huyệt của thời đại” (chữ dùng của Giáo sư Nguyễn Trung Hiếu).
- Sự kiện này rúng động cả thế giới, đặc biệt gây sốc cho con cháu dòng Vương Bột ở Nhật Bản, Đài Loan. Cô xướng ngôn viên của đài phát thanh truyền hình Đài Bắc Thiên Kim đã sang tận Sài Gòn tìm tôi xin tài liệu về Vương Bột để phát sóng trong chuyên đề Vương Bột tử nạn nơi nào?
C- Đền Phúc Vị, huyền thoại và sự thật.
Tôi lại hành hương về xứ Nghệ để thỉnh Kinh viếng phần mộ Thân phụ và thăm Từ mậu đang sống chập chờn trong cõi âm dương. Giữa những ngày tử biệt sinh ly tan nát lòng này, tôi vẫn biết tỉnh táo nén đau thương không quên lặn lội xuống tận Cửa Hội cùng chú Hoàng Hà (lại vẫn chú Hoàng thân kíuh) chụp cho bạn đọc những tấm hình màu từ những di vật còn sót lại ở ngôi đền Vương Bột - những tấm hình có lẽ không riêng gì bạn đọcViệt Nam mà cả bạn đọc Trung Quốc đang mong chờ!
Vào thu, biển Cửa Hội xanh đậm, nắng vàng ươm lao rao trên sóng bạc đầu. Tôi phóng tầm mắt nhìn vào mung lung: trong những cánh buồm no gió ngang tàng ngoài khơi xa nào đâu là cánh buồm của chàng Vương sang Hoan Châu nước Việt thăm cha thuở trước?
Năm năm lìa xứ, tôi vẫn mang đi trong tâm tưởng mặt biển lặng xanh trong mơ màng với thấp thoáng những cánh buồm nâu dân dã trong màu mắt ai mỏi mòn chờ đợi!
Phải chăng những câu thơ hay nhất trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã tả là từ chỗ này đây, nơi tôi đang đứng, sóng bủa mơn man dưới bàn chân cát mịn, nơi cách đây đúng 1.315 năm thi hào Trung Quốc “Vương Bột ải tử đầu hà, phá quân (sao) hãm thiên thương (sao) thủy cục”.(Vương Bột chết khổ đầu sông, chết đuối về nước. Giờ, tôi đọc to câu ấy lên hỏi trước muôn trùng sóng vỗ, nơi chàng thi sĩ họ Vương tử nạn mà sởn hết gai ốc trong người, bàng hoàng vì sự linh ứng của nó.
Anh Văn Tự, người thợ may ở xã Nghi Xuân, Nghi Lộc, môt bạn đọc trung thành của báo Văn Nghệ, người vẫn luôn giữ một gián cách tiết độ vừa phải đứng bên tôi dường như tiếp nhận được sự thần giao cách cảm đó đã kể tôi nghe:
- Hồi nhỏ, tôi được các cụ từ trực tiếp thờ cúng đền Vương Bột nói lại là trên khúc sông này, vào khoảng đúng giờ Ngọ, mòi nước nổi lên cơn lốc nhẹ xoáy rộng vùng, rồi một chàng trai trẻ tuấn tú độ 25-27 tuổi, dáng quắc thước, mặc áo hồng gấm, chân di hài sảo, tay cầm sách thung dung dạo quanh vùng, cứ y như nhà thơ đang trầm tư tìm kiếm thi tứ để ngâm vịnh. Tiếng thơ ai oán, thổn thức cứ nổi lên mỗi ngày. Những người chèo đò, những ngư dân sinh sống ở vùng này thường dâng hương khi qua sông, lúc đánh cá cầu mong được sự yên ổn may mắn. Người ta tìm bộ Đường Thư và nhón lấy những câu thơ hay của Vương Bột để ngâm ngợi thưởng thức hầu làm sống lại tâm linh thơ của ông Thần thi xứ Bắc mà hình hài đã gửi lạ trầm tích vĩnh cửu trên dòng sông Cửa Hội quê kiểng…
Anh Tự kể, tai tôi như âm u vọng về từ một xứ mê huyền. Tôi nhìn trân trân, bất giác chỉ tay sang bờ nam Cửa Hội hỏi anh Tư:
- Mấy năm trước hành hương về viếng mộ cụ Nguyễn Du, tôi có nghe bà con bên huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) nói có một miếu thờ Vương Bột nữa ở cửa sông bên ấy, anh có biết không? Rất tiếc hôm đó, tôi cùng giáo sư Hàng Hải mệt phờ không thể đi tiếp tìm hiểu được.
- Thưa không, tôi không rành a.
- Tôi mường tượng và đưa ra giả thiết như thế này anh nghe có lọt tai không nhé: bên đó là nơi thừa tự các gia nhân, chỗ xác người và thuyền tấp vô ấy? còn bên này dĩ nhiên là thi hài chàng Vương rồi (?). Sự linh ứng của nhà thơ bao trùm cả một vùng mênh mông sông nước. Mỗi xứ đã lập miếu thờ riêng theo lòng thành của mình.
- Nghe cũng có lý đấy ạ. Việc này xin để các nhà khảo cổ, các sử gia trả lời hộ. Xin mời anh, ta đi tiếp.
Chúng tôi đi ngược dòng sông lên viếng đền. Chú Hoàng bệnh. Anh Văn Tự bỏ việc thay chú dẫn tôi đi. Anh Văn Tự là người trọng nhân nghĩa, chuộng văn học, là học trò cưng, đứa em thân thiết, người bạn tri âm của chú Hoàng Hà. Anh phải gồng mình gánh chịu trên đôi vai mảnh mai mười một miệng ăn với cái nghề may èo uột nơi thôn mạc mà miếng cơm manh áo cứ đùa cợt từng ngày.
Đến trước đền Vương Bột, chúng tôi gặp một nấm đất kỳ dị. Lòng tôi xao xuyến, linh cả mơ hồ.
Anh Văn Tự chắp tay thi lễ:
- Thưa, người nằm dười đất này là Đầu xứ Thái – Hoàng Phan Thái – Nhà thơ, người anh hùng đã tuẫn nạn nơi đây.Cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn không thành, Đông hải Đại tướng quân bị Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đem quân về vây bủa bắt được giải về nguyên quán hành quyết ngay chỗ này năm 1865, nghĩa là sau khi ngôi đền Vương Bột trùng tu khánh thành được đúng 9 năm.
Tôi lịm người kêu lên:
- Ôi trời! té ra nhân vật kẻ sĩ yêu qúy của tôi lại nằm đây bầu bạn bên cạnh Vượng Bột. Hai nhà thơ cũng chung một nòi tình! Rõ là hai khí phách một tinh thần phản kháng!
Nhìn gò đất, tôi lầm nhẩm đôi câu đối của Hoàng Phan Thái khảng khái đọc trong đề lao Vinh:
Thiên khả thê thân, huyền đảo giang hà thanh nhất nộ (Trời nếu thương thân, dốc ngược giang hà nguôi mối giận)
Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam quân (Đất khôn vùi cốt, kéo lùi nhật nguyệt rõ ba quân)
… mà chạnh niềm đau. Lẽ nào chính quyền địa phương mãi đến bây giờ vẫn còn để bậc danh nhân đất nước này nằm hòa trong cát bụi giữa thập loại chúng sinh!?
- Sinh thời – Anh Văn Tự thủ thỉ kể - Khi còn là một bậc nho sinh hay chữ, ông Đầu xứ Thái thường từ làng Cổ Đan quê ông (nay là xã Phúc Thọ, Nghi Lộc) sang làng Đông Chu, xã Lộc Hải (nay là xóm Xuân Lộc, xã Nghi Xuân) thăm viếng ngôi đền Vương Bột luôn. Hoàng Phan Thái là người đã tích cực truyền bá nền thơ Đường, đặc biệt là thi phẩm của Vương Bột cho toàn xứ. Theo truyền thuyết thì chính ông ta “yểm” thơ Vương chứ không phải là Tả Ao tiên sinh. Xin lỗi anh. Ông Đầu xứ “yểm” ngay trên một con đò ngang, giữa thanh thiên bạch nhật, trong cuộc đàm đạo tương đắc thơ Vương với người… lái đó! Theo thiển ý của tôi thì truyền thuyết này thích hợp hơn với tài năng, tính cách và tư duy Hoàng Phan Thái, con người đã nổi tiếng ngông ngạo trên pháp trường: “Ba hồi trống giục thây cha kiếp - Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời”; con người khi đầu sắp rụng còn hóm “Thằng nào chém tớ chém cho đứt - Trần gian ngoảnh lại nhắn đôi câu - Tấm thân bảy thước coi làm ngắn – Mà chí ngàn năm vẫn sống lâu – Máu đỏ bôi đen trò đế bá - Vết son sổ toẹt mộng công hầu - Thằng nào chém tớ ché cho đứt - Có lấy tiền công tớ trả sau”.
Tôi phì cười khoát tay:
- Hồ Tông Thốc, Tả Ao, giờ lại Hoàng Phan Thái… Thôi, ai “yểm” mà chẳng được. Cứ lãng đãng sương khói thế mà lại hay.
Đến trước cổng đền, tôi cung kính đặt những bước chân bồi hồi như cách cách đây năm năm từng đặt những bước chân bùi ngùi thương cảm. Đến bên một mảng tường đổ nát, tôi dừng chân, thân mật cầm tay anh Văn Tự:
- Này anh, là người vốn đẻ ở đây, lớn lên ở đây, giờ đã ngót 50 năm, anh còn nhớ những gì về ngôi đền này không? Thử kể, tả cho tôi nghe với?
Lời thỉnh cầu này đã làm hai mắt anh Văn Tự vụt sáng, con người anh linh động hẳn lên, rút ngắn lại những gián cánh. Giống như một hướng dẫn viên du lịch thục thụ, anh Tự kể vanh vách:
Ngôi miếu cổ cũ nhỏ quá không thể chứa nổi cái chất hào phóng của thi nhân, và người xứ này nhận thấy không thể thỏa mãn với tầm cỡ một thiên tài bèn xúm nhau lại đóng góp dựng lại tòa đền đường bệ, khang trang hơn. Đó là đền Phúc Vị nơi chúng ta đang đứng đây. Đền được khẩn trương trùng tu làm mới và đã hoàn thành vào năm Tự Đức lục niên, tức 1854. Cấu trúc của đền gồm ba khuTiền đền, Trung đền, Hậu đền. Khu Trung đền làm nơi thờ cúng cha con nhà thơ Vương Bột, Vương Phúc Cơ, còn Tiền đền Hậu đền bài trí các đồ tế khí. Dân làng rủ nhau trang trí nội thất, trồng cây cảnh trông tôn kính, râm mát và thanh lịch lạ thường. Đền xây xong, nhân dân vẫn chưa yên lòng vì chưa có tượng để thờ. Một hôm, thần mộng báo cho ông lái đò là sẽ có một cây gỗ quý từ trên nguồn trôi xuống, hãy đưa về làm tượng hai ngài. Quả thật, sáng hôm sau từ đâu giạt đến một cây gỗ to tỏa hương thơm ngát. Ông lái đò giòng cây mộc hương về neo đậu trước bến đình làng. Làng đã cử người dày công đi tìm các nghệ nhân tài hoa về tạc hai pho tượng đó.
Di tượng Vương Bột hiện đang được thờ cúng tại gia đình ông Nguyễn Văn sung xã Nghi Xuân, Nghệ An.
Để công trình nghệ thuật điêu khắc được hoàn hảo về đường nét và hình khôi, khi tượng làm xong, làng đặt hai pho tượng ở ngã ba làng đúng ba tháng mười ngày cho mọi người qua lại chiêm bái, phẩm bình, kể cả các chú khách người Trung Hoa. Khi mọi người đã công nhận là kiệt tác, làng mới quyết định đem sơn son thếp vàng, xong rước hai ngài lên thờ ở cung đình danh dự nhất của khu đền Trung. Bấy giờ, một khó khăn nữa lại đến với dân làng: chẳng ai biết đích xác nhà thơ Vương Bột mất ngày tháng nào!. Dân làng cho mời các kỳ lão, các vị có học vấn uyên bác, tinh thông Hán học, am tường về văn nghiệp của ngài. Với lòng tôn kính sâu sắc con người và tư tưởng, các vị đó đã dõi theo cuộc đời và thơ văn, quyết định lấy ngày 9 tháng 9 âm lịch làm ngày giỗ chính thức hàng năm. Đó là ngày Trùng Cửu, có lẽ là này đau buồn nặng nề nhất của đời ngài bị vua ruồng bỏ.
Từ đó về sau nhân dân thường có hoa tươi, nến sáng, hương khói suốt ngày. Cảnh đền càng ngày càng trở nên khang trang nhộn nhịp. Hồi còn học cấp hai - anh Văn Tự dim cặp mắt nhớ lại - thầy Hoàng Hà dạy văn thường dẫn tụi học sinh chúng tôi vào tham quan cảnh đền và kính viếng nhà thơ. Được thầy giới thiệu tiểu sử vẻ vang của ngài, chúng tôi mới hết kính nhi viễn chi. Anh biết đấy, tuổi nhỏ quỷ sứ của bọn học trò nhất qủy nhì ma quấy phá khắp nơi thế nhưng đâu dá bén bảng tới chốn linh thiêng này!
Những này đó có thầy đi kèm, chúng tôi mới hết run dạn dĩ lên dắt tay nhau cùng bước vào thánh địa. Từ ngoài cổng, chúng tôi thấy hai con voi đá xanh to khỏe đứng trấn giữ đền. Bốn cây cổ thụ trồng bốn góc vườn. Bốn gốc thông già cao vút chọc trời được trồng ở bốn góc đầu hồi ba toà đền, tán lá xanh rì vi vu đàn hát trước gío. Một cây phượng bằng hai người vầng, lá xanh như khói chen giữa những chùm hoa lửa đỏ chói cháy rực trời, tán xòe ra xum xuê mát rượi cả một vùng.
Vào khu Trung đền là nơi thờ hai vị thần Vương Bột, Vưong Phúc Cơ có bày biện đủ hoa nến, ống đài đươm hoa trái, hòm sắc đựng thần phả ghi chép công đức của hai cha con vị phúc thần đã cứu giúp dân bản xứ. Hai bên bàn thờ là hai câu đối rực rỡ dòng chữ sơn son thếp vàng:
Long Môn văn phái ba lưu viễn
Ngư Hải hương yên tuế nguyệt trường.
Hồi đó, thầy Hoàng Hà đã dịch như sau:
Dòng thi thư của xứ Long Môn (Quê Vương Bột) từ xa sóng đưa đến,
Khói hương dân Ngư Hải (biển cá) xin thờ cúng đến muôn đời.
Trên dưới các tượng là bức hoành phi đại tự chính điện “Thung quê (1) song linh” (cha con đều hiển linh, hai bức hành phi hai bên tả hữu “Nhân kiệt địa linh” (Người tài đất thiêng) “Vật hoa thiên bảo” (Vạn vật và hoa cỏ là báu vật của trời)… đó toàn là những tiếng tôn xưng xứng đáng đối với một bật hiền tài.
Anh Văn Tự dắt tôi đi khắp khuôn viên đền còn sót lại, nơi người ta chưa cất nhà. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Anh văn Tự chỉ trỏ và kể :
- Thuở đó làng Phúc Vị được chia làm hai khu, mỗi khu có trách nhạêm bảo vệ, tu sửa đường sá về mỗi phía. Tuy được cắt đặt rạch ròi nhưng người dân cả hai khu đều rất có ý thức chăm sóc vườn tược,nến hương chu đáo, cắt tỉa cây cành… làm cho cảnh quan trở nên nghiêm cẩn,thơ mộng. “Đông Nam mỹ” (khu Đông khu Nam đều đẹp), quả đúng là nơi thờ phượng một thi hào thế giới, điểm sáng hội tụ thu hút khách thập phương về hành hương. Hàng năm đến ngày Trung Cửu giỗ ngài, dân lại rộn ràng tổ chức lễ hội. Cả một khúc sông Lam trước đền huyên náo tiếng mái chèo đua bơi chải khua vang trống giong cờ mở, tiếng nói tiếng cười hân hoan… tưng bừng không kém gì tết Đoan Ngọ (5-5 âl) mà nhân dân Trung Hoa dành tưởng niệm nhà đại ái quốc trung trinh Khuất Nguyên trên sông Mịch La, nơi ngài trầm mình tuẫn tiết.
Giờ đây, người dân Ngư Hải rất lấy làm đau xót tưởng nhớ lại ngôi đến Phúc Vị thân yêu thờ Vương Bột không còn nữa! Ai mà chẳng óan ghét chiến tranh tàn phá và tác nhân con người vì kém hiểu biết hủy hoại đi cái báu vật trời đất linh thiên đã ban cho chúng ta, phải không anh?
Giọng anh VănTự lắng xuống gợi một niềm thương cảm man mác. Anh ngưng lại, lóng ngóng đưa tay rút khăn lau mồ hôi lấm tấm trên mặt dưới ánh nắng gắt oi nồng. Tự dưng câu thơ Vương Bột thầm thì âm vang lên trong hồn tôi “Gác Đằng cao ngất bãi sông thu”, rồi tiếng thở dài thoát ra từ miệng tôi trước gương mặt lặng lẽ của anh:
“Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá?”
Anh Văn Tự cũng chạnh lòng bâng quơ:
Vâng, Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá?
*
Chiều 31-8-1992, tôi ghé thăm Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh giữa lúc toàn Ban chấp hành Hội đang họp khẩn cấp để chia tỉnh. Gặp nhau lâu ngày anh em bắt tay vồn vã vui vẻ. Ông Chủ tịch Xuân Hoài ngưng cuộc họp dành cho khách quý xa mươi lăm phút. Nhà thơ Thạch Quỳ xởi lởi:
- Bài Vương Bột tử nạn nơi mô? của anh đăng trên báo Văn Nghệ sô 29 đã làm cho cả hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh xôn xao. Rằng… thì là chúng tôi rất lấy làm xấu hổ vì từ trụ sở Hội đến nơi Vương Bột tử nạn chỉ có 8 km mà chẳng ai hay biết gì cả, trong lúc anh ở tận mãi Sài Gòn tít tắp mù khơi lại tỏ tường đến thế.
Tôi thưa với anh em văn nghệ quê nhà là tôi chẳng có tài cán gì ghê gớm trong việc phát hiện cả. Tình cờ thôi, tôi đi tìm cái nọ thì nẩy ra cái này. Ngờ đâu một bài báo nhỏ khoắng bút vài ba tiếng đồng hồ lại làm kinh động nhân tâm đến thế, hơn cả hàng loạt sách tâm huyết và công phu của tôi đã được in! Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax về Bắc Kinh. Nhân dân Trung Quốc đã sửng sốt trước sự kiện này chứ không riêng gì hai học giả Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ Thạc sĩ Nghê Hà Vận sửng sốt. Tôi nói rằng tôi mới ở dưới Cửa Hội làm phóng sự ảnh cho báoVăn Nghệ vừa lên Vinh. Chính quyền xã Nghi Xuân rất cảm kích đã thảo công văn gửi kiến nghị cho bộ Văn hóa, nhờ báo Văn Nghệ đăng công khai - đề nghị trùng tu ngôi đền thờ Vương Bột trên quê hương của họ. Bà con ở dưới Trang bảo việc tái thiết đền Phúc Vị là rất chính đáng. Giới trí thức của địa phương thì tận tình giúp cán bộ khoa Sử trường Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh. Các cụ ông cụ bà vô cùng hoan hỉ. Họ đón tôi như đón một sứ giả của điều thiện. Anh Nguyễn Công Thiền giáo viên trường cấp 2 Nghi Phú, Nghi Lộc trầm ngâm nói là nếu anh có đủ vốn anh sẽ xin đăng cai với chính quyền thầu xây ngôi đền làm tụ điểm du lịch văn hoá cho khách bốn phương. Tầm nhìn doanh nghiệp này rất đáng cho sở Văn hóa Nghệ An tham khảo?
Tôi nói:
Vương Bột tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn đen suốt 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ sáng giá. Người Tàu là họ rất quý mồ mả tiền nhân. Việc hai nhà Việt Nam học sang ta để lo vụ này đã chứng tỏ điều đó. Bộ Văn hóa của hai nước Việt – Trung nên hiệp đồng chặt chẽ mà lo chung. Văn hóa là linh hồn của mỗi dân tộc. Ánh sáng toả ra từ ngôi đền Vương Bột chính là thứ văn hóa chung đúc độc đáo của hai dân tộc. Hai dân tộc sẽ hiểu nhau, thấm thía nghĩa tình anh em trong những sắc màu của nền văn hóa riêng chung đó. Các bạn ở Hội văn nghệ quê nhà xin cổ súy cho việc này.
- Cổ súy là làm sao? Nhà thơ Minh Huệ cắt ngang nói.
- Thưa anh, là viết kỹ về Vương Bột cho thế hệ này và thế hệ sau đừng tái phạm bi kịch phá đền do kém hiểu biết. Tôi nhớ là có một cụ ở Nghi Xuân rầu rầu nói với tôi :”Giá có bài báocủa anh trước thì ai nỡ dám xúc phạm vào nơi tôn nghiêm thờ ngài là chi! Chúng tôi càng đọc bài đó càng thương ngài và hối hận!”
Ông Tổng biên tập Thạch Quỳ và Phó Tổng Đặng Văn Ký:
- Chúng tôi định đăng lại bài bút ký điền dã của anh trên báo Văn Nghệ tỉnh nhà. Xin phép tác giả.
Ngộ tồông ý ngay! Nhưng coi chừng lỗi morát bài ấy sai quá xá. Còn ảnh thì quý vị quá bộ xuống Cửa Hội mà “nháy” lấy.
Kỳ sau: D- Văn nghiệp của Thi hào Vương Bột. E- Trao đổi về sự kiện Vương Bột tử nạn nơi mô? giữa Thái Doãn Hiểu và Đoàn Nhà văn Trung Quốc.
TDH.
Lần tôi trở về mới nhất là tháng 8-2009 thì thấy hiện trên nền đất cũ là một nhà gửi trẻ. Vùng đất này hiện trở thành đất vàng nhưng nhưng đất của thần thánh không ai dám mua.
Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền (sách Tang thương ngẫu lục), vì là người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh nên gọi là thầy địa lý Tả Ao. Tả Ao sống vào thế kỷ XVIII.
Chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng.
Một sai lầm nghiêm trọng của Kỷ yếu Thần thi Vương Bột, ảnh tượng của Vương Bột là tượng giả làm bằng thạch cao.
Xem Chân dung các nhà văn qua giai thoại (6 tập) của Thái Doãn Hiểu – Tập 1 Chuyện hay nhớ mãi, mục Hoàng Phan Thái từ trang 154-160.
Sau đó thì Hội VHNT Nghệ An đã ra một kỷ yếu về Vương Bột với đầu đề Thần thi Vương Bột mà bài viết của tôi đăng đầu quyển với vị trí là “cái ngòi pháo”.
|