GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌC NĂM 2009
102. Herta Mueller (1953 - …)
Nữ nhà văn Herta Mueller sinh năm 1953 tại Nitzkydorf, vùng Banat nước Rumani trong một gia đình gốc Đức. Cha bà từng ở trong quân đội SS, sau này là tài xế xe tải. Mẹ bà phải lao động trong trại tập trung của Liên Xô một thời gian dài. Nitzkydorf là làng của cộng đồng người Đức. Đó là thế giới thu nhỏ của cộng đồng người Đức.
Banat ngày nay là vùng nằm giữa Hungari, Rumani, Serbien - Montenegro, nằm ở phía đông nam đồng bằng Hungari, được bao bọc bởi sông Marosch ở phía bắc, sông Theiss ở phía tây, sông Donau ở phía nam, ở phía đông giáp Suedkarpaten. Phía đông Banat là vùng núi với khoáng sản là than đá và quặng sắt. Phía tây là đồng bằng phì nhiêu. Tên Banat là chữ viết tắt của từ Banatus Temesvarienssis theo hiệp ước Hòa bình năm 1699 ở Karlovitz. Trước năm 1944, Banat là vùng hỗn hợp của nhiều sắc dân: Người Serben, người Đức gốc Pfälzer, Schwaben, Bayern, Hessen, người Áo gốc Nieder - und Oberoesterreich (Landler) và Elsaesser. Cũng có cả người Pháp, người Kroaten, Bulgaren, Italienern und Spaniern, Magyaren, Slowaken, Russinen und Armeniern. Ở một số thành phố có rất đông người Đức. Tới đại chiến thế giới thứ hai thì người Đức là sắc dân đông nhất ở Banat. Vì nhiều sắc dân đang chen sống nên một người dân ở đây nói thành thạo hai, ba thứ tiếng là chuyện bình thường. Ngày nay, ở Banat còn nhiều làng vẫn gọi theo tên Đức như các làng Altringen, Bethausen, Gottlob, Johanisfeld, Lenauheim, Liebling, Nitzkydorf (Nitzkydorf là nơi Herta Mueller sinh ra, lớn lên). Thế chiến thứ hai kết thúc,Đức thua trận, ở nhiều nơi trong vùng Banat, người Đức bị giết, đánh đuổi, chạy trốn. Những người Đức còn khỏe thì bị bắt đi lao động khổ sai ở Liên bang Xô viết (trong đó có mẹ của Herta Mueller). Người Đức rơi vào thảm cảnh cay đắng ê chề của kẻ bại trận (hàng triệu người Đức chết vì lao động khổ sai).
Banat nằm ở vùng có ba thế giới: thế giới Đức bên cạnh thế giới Rumani, cạnh thế giới của đế quốc Áo - Hung. Vùng này tuy hẻo lánh, nhưng lại mang đặc trưng của châu Âu: nơi gặp gỡ, hội tụ đan chéo nhau của nhiều nền văn hóa với nhiều sắc dân châu Âu. Nó như một điển hình thu nhỏ của sự hòa hợp giữa nhiều nền văn hóa truyền thống có ở châu Âu. Giải Nobel Văn học năm nay nằm trong tuyến khuynh hướng cuộc sống giữa các nền văn hóa mà Doris Lessing, Jean - Marie Le Clézio đã phản ánh trong những tác phẩm của mình. Trong khi Lessing, Clézio trải nghiệm cuộc sống giữa các nền văn hóa ở nhiều nước thì trải nghiệm ấy của Herta Mueller chỉ ở một vùng đặc trưng cho châu Âu. Viết văn, làm thơ, viết tiểu luận cũng là cách để bà bày tỏ những suy tư của mình về thời mình sống.
Sau khi tốt nghiệp Đại học, Herta Mueller làm thông dịch viên và giáo viên dạy tiếng Đức, nhưng bị đuổi việc vì kiên quyết không hợp tác với Sở mật vụ. Sau đó bà làm giáo viên mẫu giáo và dạy học tư tiếng Đức để sinh sống.
Tập truyện ngắn đầu tay của Herta Müller là Niederungen (Miền đất trũng), xuất bản năm 1982 tại Rumani nhưng bị cắt bớt vì kiểm duyệt. Năm 1984, tác phẩm được tái bản ở nước Đức đầy đủ hơn. Tập truyện ngắn này kể về cuộc sống khốn khó ở vùng nông thôn của cộng đồng người Đức gốc Schwaben ở Banat.
Herta Mueller chuyển tới sinh sống ở Westberlin, Cộng hòa Liên bang Đức từ năm 1987 và tiếp tục sáng tác từ đó cho tới nay.
Tiếp đến là tập thơ Khách du lịch đi một chân (Reisende auf einem Bein, 1989) nói về cảm giác xa lạ nơi quê hương mới Westberlin.
Tiểu thuyết Ngày xưa cáo cũng là thợ săn (Der Fuchs war damals schon der Jaeger, 1992) là tiểu thuyết miêu tả những ngày cuối của chính quyền Ceausescu: một xã hội không có viễn cảnh.
Tiểu thuyết Tim thú vật (Herztier, 1994) kể về lớp trẻ đứng lên chống chính quyền. Qua đó lộ rõ cảnh phản bội, sợ hãi, sự cô lập.
Trong tiểu thuyết Tôi mong ngày hôm nay không gặp chính mình (Heute waere ich mir lieber nicht begegnet, 1997), nhân vật Mueller miêu tả kinh nghiệm với lực lượng an ninh, với sự cô đơn, nghiện ngập, sợ hãi, phản bội.
Tập tiểu luận Vua cúi xuống và giết (Der Koenig verneigt sich und toetet, 2003) miêu tả thời thơ ấu, cuộc đời của Herta Mueller dưới chế độ toàn trị của Ceausescu.
Những kẻ mặt tái nhợt với ly cà phê Mocca pha đậm (Die blassen Herren mit den Mokkatassen, 2005) là tập tranh, ảnh cắt dán từ các báo.
Năm 2009, Herta Mueller xuất bản tiểu thuyết Nhịp thở đều đều (Atemschaukel, viết chung với Oscar Pastior, một nhân chứng sống từ trại tập trung Liên Xô) kể về cảnh những người Rumani gốc Đức bị áp tải sang Liên Xô lao động khổ sai trong thời kỳ sau đại chiến thế giới thứ hai.
Peter Englund, thư ký thường trực và là thành viên trẻ tuổi nhất của Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét về các tác phẩm của Herta Mueller: “Có thể nói rằng các sáng tác của bà ấy là sự kết hợp của một thứ ngôn ngữ kỳ diệu cũng như các cấu trúc độc đáo với những câu ngắn nhưng giàu hình ảnh. Văn chương của Mueller rất đặc biệt nên chỉ cần đọc nửa trang sách là bạn có thể nhận ra ngay đó chính là Herta Mueller, một nghệ sĩ ngôn từ vĩ đại”.
Trước giải Nobel Văn học năm 2009, Herta Mueller đã nhận được nhiều giải thưởng văn chương quan trọng như giải Kleist năm 1994, giải Impac Dublin Literary năm 1998, giải Franz Kafka năm 1999.
Ủy ban văn học thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: “Văn phong của Herta Mueller thể hiện tính chân thực của văn xuôi và đậm chất thơ, diễn tả những cảnh đời bị tước đoạt tất cả quyền sở hữu đến tận cùng”.
Không phải là tôi, mà chính là những cuốn sách của tôi
Herta Mueller có 8 tác phẩm chính. Tác phẩm đầu tay xuất bản năm bà 29 tuổi. Với số lượng tác phẩm và đề tài nhắc trong các tác phẩm, Herta Mueller không phải là nhà văn lớn tầm cỡ như Thomas Mann, Bertolt Brecht… Nhưng sáng tác của bà là “một tiếng nói tế nhị, mạnh mẽ - lời chủ tịch hiệp hội buôn sách Đức Gottfried Honnefelder”. Bà được trao giải “nhờ khả năng soi sáng nền văn hóa của dân tộc, đề cập tới những chủ đề nhân văn mang tính toàn cầu - lời nhận xét thành viên Viện Hàn lâm Thụy Điển Kjell Espmark”.
Chính Herta Mueller cũng bất ngờ với tin mình được vinh danh với giải Nobel Văn học. Bà nói:
- Tôi luôn nghĩ là người ta phải chờ đợi cả đời, tôi cũng loại bỏ khả năng tôi được chọn lựa như thế này. Nhưng có lẽ không phải là tôi được chọn, mà chính là những cuốn sách của tôi.
Các nhà phê bình văn học nổi tiếng như James Wood và Harold Bloom cũng nói rằng họ chưa bao giờ đọc các tác phẩm của nữ nhà văn 56 tuổi này. Thủ tướng Đức Angela Merkel đánh giá chiến thắng của Herta Mueller “là bức thông điệp tuyệt vời nhân sự kiện kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ. Và chúng tôi lấy làm vui mừng rằng Herta Mueller đã tìm thấy quê hương của mình ngay tại nước Đức”.
GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN HỌC 2010
103. Jorge Mario Pedro Vargas Llosa (1936 - …)
Mario Vargas Llosa tên đầy đủ là Jorge Mario Pedro Vargas Llosa, sinh ngày 28-3-1936 ở Arequipa, miền Nam Peru. Cha mẹ li dị, mẹ cùng con trai một tuổi Llosa chuyển về Cochabamba, Bolivia. Thời thơ ấu, ông Llosa sống cùng ông bà ở Bolivia. Vargas Llosa học tiểu học ở Trường công giáo Colegio La Salle.
Năm 1946, gia đình ông chuyển về Lima, Peru. Ông học tiếp trung học ở Lima, sau đó ông học hai năm Trường quân sự ở Callao, trước khi chuyển sang học Văn và Luật ở Đại học quốc gia San Marcos Lima (Peru) và tốt nghiệp Luật học ở đây. Ông bảo vệ tiến sĩ triết học và văn học ở Universität Complutense Madrid (Tây Ban Nha).
Llosa từng là phóng viên của hãng thông tấn Pháp AFP cũng như đài truyền hình quốc gia của Pháp. Ông từng tham gia giảng dạy và diễn thuyết tại nhiều trường đại học ở Mỹ, Nam Mỹ và châu Âu. Năm 1990, ông đã ra ứng cử tổng thống Peru, song bị thất bại trước đối thủ Alberto Fujimori, ông liền trở lại nghề văn, là giáo sư giảng dạy văn học Mỹ Latinh, ông viết bài cho báo tiếng Tây Ban Nha El País. Rồi ông rời Peru chuyển đến sống ở Madrid. Năm 1993, ông nhập quốc tịch Tây Ban Nha. Năm 1995, ông là thành viên Viện Hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha.
Llosa nổi danh với các tiểu thuyết: Thành phố và con chó (La ciudad y los perros, 1966); Ngôi nhà xanh (La casa verde, 1968) và Đối thoại trong giáo đường (Conversación en la cathedral, 1975).
Thành phố và con chó - cuốn tiểu thuyết đầu tay của Llosa - nói về một trường quân sự, nơi mà các bậc phụ huynh gửi con em của mình vào đó để được đào tạo thành những “người đàn ông chân chính”. Llosa viết dựa theo những trải nghiệm của chính ông tại Học viện quân sự Peru, Leoncio Prado. Llosa ngay lập tức trở nên nổi tiếng. Nhiều kẻ tổ chức đốt sách của ông ở ngoài đường phố thủ đô Lima. Cả Mỹ Latinh rúng động vì các bài bình luận khen chê đều ở mức cực đoan. Trong khi tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G. Marquez vốn hoàn toàn hư cấu, hư hư thật thật, với các con người, sự kiện hết sức kỳ ảo; Thành phố và những con chó của Llosa dựa trên những sự kiện, con người hết sức kỳ lạ nhưng có thật trong thực tế: Trường quân sự Leoncio Prado ở khu phố Miraflores của thủ đô Lima, cũng chính là xã hội Peru thu nhỏ với mọi tệ nạn xã hội, đầy rẫy tệ phân biệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp xã hội, nguồn gốc văn hóa, nó còn mang tính dự báo và kết án chế độ độc tài quân sự đã hình thành ở một số nước. Tuy là hai cách tương phản, Trăm năm cô đơn phản ánh nỗi cô đơn của người bản xứ ngay trên mảnh đất quê hương; Thành phố và những con chó cho thấy hiện thực cuộc sống của người bản xứ trên quê hương mình.
Ngôi nhà xanh kể về một nhà thổ cùng tên. Cô gái trẻ Bonifacia từ một nữ tu trở thành cô gái điếm nổi tiếng. Cuốn sách đưa Mario Vargas Llosa vào hàng ngũ những tác giả hàng đầu của làn sóng văn học Mỹ Latinh thời kỳ những năm 60 thế kỷ XX. Cuốn sách là một trong những tiểu thuyết nền tảng của nền văn học Mỹ Latinh thế kỷ XX.
Đối thoại trong giáo đường phơi bày sự tàn nhẫn của chế độ độc tài và giới phê bình mô tả đây là tác phẩm cay đắng nhất của nhà văn.
Các tác phẩm khác của Llosa là: Dì Julia và nhà văn quèn (1977), Ngợi ca người mẹ kế (1988), Những cuốn vở của don Rigoberto (1997), Các trò tinh nghịch của cô bé hư (2006). Giới phê bình văn học đánh giá Mario Vargas Llosa là một trong những tác gia vĩ đại nhất Mỹ Latinh. Nhà phê bình văn học Mỹ Latinh Gerald Martin thậm chí còn cho rằng Mario Vargas Llosa chính là nhà văn thành công và gây tranh cãi nhất của khu vực. Llosa quan niệm, một tác phẩm hay phải xuất phát từ cảm xúc chứ không phải từ những cái quái đản mà thi nhau tung hô nói rằng cách tân, hậu hiện đại. Ông bảo, có nhà văn cho rằng có văn học chính thống và không chính thống. Tôi xin hỏi như vậy có nghĩa là sao? Đọc văn, tôi chỉ thấy có tác phẩm hay và không hay.
Llosa là một trong những cây bút châu Mỹ Latinh xuất sắc trong lĩnh vực tiểu thuyết và tiểu luận, cũng là một trong những tác giả hàng đầu thuộc thế hệ của mình. Sự nghiệp sáng tác của Llosa chủ yếu xoay quanh đề tài lịch sử và chính trị. Ông có niềm tin vững chắc vào sức mạnh của văn chương trong việc phơi bày bất công và bạo quyền độc tài trong khi đấu tranh bảo vệ quyền tự do cá nhân.
Garcia Marquez - Mario Vargas Llosa là hai nhà văn lớn, góp phần tạo nên Làn sóng Mỹ Latinh trong văn học với khả năng tác động mạnh mẽ trên văn đàn thế giới. Hình ảnh Marquez và Llosa làm ta liên tưởng tới câu tục ngữ Tây Ban Nha: “Khi ngồi trên lưng ngựa thì chỉ có ta với trời”. Cuộc chạy đua giữa hai cây đại thụ của nền văn chương Mỹ Latinh G.G. Marquez và M.V. Llosa đã có hồi kết khi cả hai đều đã đoạt giải thưởng Nobel Văn học. Marquez bình luận:
- Chúng tôi đã hòa!
Năm 1995, ông được trao giải Cervantes, giải văn chương danh giá nhất dành cho các tác phẩm viết bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông nhận được giải Nobel Văn học năm 2010. Peter Englund, bí thư Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển, đánh giá: “Llosa là một người kể chuyện tài tình. Những sáng tác của ông có một kết cấu rất phức tạp, nhiều tình tiết với những chuyển đổi trong phối cảnh và thời gian, phản ánh những vấn nạn của châu Mỹ Latinh, phác họa cơ cấu quyền lực và những hình ảnh sắt thép của sự đối kháng…”.
Sống cuộc sống thứ hai
Octavio Paz là nhà văn châu Mỹ Latinh cuối cùng nhận giải Nobel Văn học (kể từ năm 1990, châu Mỹ Latinh chưa có ai được nhận giải Nobel Văn học). Hai mươi năm qua, ở châu Mỹ Latinh (1990 - 2010) đã hình thành một thế hệ nhà văn xuất chúng như Carlos Fuentes, Julio Cortázar, Jose Donoso, Jorge Luis Borges, Mario Vargas Llosa. Thế hệ này phá vỡ các hình thức truyền thống của tiểu thuyết, sử dụng nhiều kỹ thuật mới, người đọc đồng hành cùng tác giả, chứ không còn là độc giả thụ động như trước nữa. Họ làm Mỹ Latinh thành một miền văn học mới hết sức hấp dẫn trên bản đồ văn chương thế giới. Họ tạo nên thời kỳ boom de la Novela Latinoamericana (Sự bùng nổ của tiểu thuyết Mỹ Latinh trong những năm 60 và 70 thế kỷ XX, một đỉnh cao mới, độc đáo, mang đầy cá tính của người Mỹ Latinh.
Mario Vargas Llosa là một trong số không nhiều nhà văn có học vấn cao: bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về nhà thơ Rubén Darío. Ông là một nhà văn dấn thân, là người đa tài: vừa dạy học, nghiên cứu khoa học, vừa viết kịch, làm công tác phê bình, vừa làm cộng tác viên cho các tạp chí văn học khác nhau, nhất là tạp chí Literatura, và làm phóng viên cho hãng thông tấn AFP, cơ quan báo chí hàng đầu thế giới. Llosa viết hơn 30 tiểu thuyết, kịch... Theo ông, nhà văn không nên bê nguyên hiện thực một cách sống sượng vào các tác phẩm của mình. Ông thích nhất là Những người khốn khổ của nhà văn hiện thực Pháp Victor Hugo. Ông cho rằng Victor Hugo không chỉ tạo cho người đọc những cảm xúc mạnh mẽ mà còn cố gắng giải đáp những vấn đề chính trị, văn hóa, tôn giáo.
Nhà văn dân chủ tự do Llosa quan niệm:
Trong một xã hội cởi mở, dân chủ, nhà văn là người cho bạn đọc sống cuộc sống thứ hai. Cuộc sống thứ hai mà văn học ban cho chúng ta không chỉ giới hạn ở khía cạnh giải trí. Văn học mang lại cho chúng ta ước mơ, cho phép chúng ta lánh xa đời thường nhưng cũng đặt ra cho chúng ta một số câu hỏi.
(còn tiếp)
Nguồn: Thiên chức của Văn học: Giải Nobel văn học từ 1901-2011. Lương Văn Hồng biên soạn. NXB Văn học & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa xuất bản, 2011.
www.trieuxuan.info |