NGƯỜI NGHÈO ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀU
Ở đời gặp cảnh bần bách, thời trăm phần đều chịu thiệt hại hết thảy, không những cái hình thức đã thua sút, mà cái tinh thần cũng phải hao mòn dần đi. Thường vì sự túng tiền nó đè nén lấn lướt làm cho khôn hóa ra dại, mạnh phải thành yếu. Bởi vậy mới có câu ca rằng: “Nhân sinh duy tiền nhi dĩ, hết tiền tiêu tráng sĩ cũng là dư”. Sự hạn chế của người nghèo đối với người giàu hình như bĩ thử đã hình thành một cái định lệ đã sẵn rồi, bất tất phải than thầm trách vụng làm gì cho nhọc. Nhưng trong sự nghèo cũng có hai cách khác nhau, một đường là tiểu nhân, một đường là quân tử. Sách Nho dạy rằng: “Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng ư lạm hĩ”. Ấy thế là người nghèo quân tử thời biết thủ phận an nghiệp, không hay tham những của người. Nghèo mà bền chí cũng không thay đổi tính nết, còn đứa tiểu nhân nghèo thường bức vì cảnh ngộ xui khiến, sinh lòng trớ trêu lừa dối, ăn trộm ăn cướp, ăn chùng ăn vụng, ăn nhờ ăn xin; tổng quát bao nhiêu tiếng ăn toàn là thói xấu, ai mà mắc phải thời là kẻ hèn.
Ôi! nghèo mà được tiếng là người quân tử thực cũng một điều tối khó. Trên con đường danh lợi ai là chẳng bôn xu mưu vọng, sống không thể chỉ hớp không khí mà sống nổi. Khi đã song sanh với đời, tức là phải chịu sự đời ràng buộc cho, thân thể của người nghèo đối với thân thể của người giàu gian nan là vậy đó; nếu không có chí khí khẳng khái cầm lòng cho vững chí cho khỏi vì vật chất cám dỗ say đắm, quên mất cái thiên chân của con người.
Làm người nghèo mà giữ cho trọn vẹn cái nhân cách, chỉ duy có cái lòng trong sạch sáng suốt, nhiên hậu người ta mới phục. Mình đã không tự lập lấy giang san nổi, thời không nên thấy giàu sang của người mà lây lất cầu cho có đặng. Cầu người ta, tất người ta kiêu với mình, cầu người ta tất phải dùng hết cơ tâm xảo trá mới kiêu hãnh mà được. Như thế cũng không có danh dự gì, nên chi người ta ở đời nên tùy phận gìn giữ thành thực siêng năng, làm lụng công việc, biết điều phải chẳng, thân tuy nghèo mà danh vẫn không nghèo, đối với người giàu há chẳng có một phần đặc sắc hay sao?
Ai dám cho nghèo là toàn bậy hết cả, ai dám chắc giàu là toàn hay hết cả?
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 22-5-1923; Mục Lời đàn bà
(Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái” - 1928)
MỘT HIỆU BUÔN MỚI MỞ
Mới nghe nói một hiệu buôn mới mở ai nấy cũng ngờ là hiệu buôn của ông Chà chú Chiệc gì đó. Nhưng không, không phải cả. Tôi nói hiệu buôn này là của người Việt Nam, mà lại về ban nữ giới; tuy xưa nay sự buôn bán thời người đàn bà An Nam mình cũng chẳng thiếu chi, nhưng các người xuất thân trong nhà buôn bán hay nhiều người sinh nhai nhờ nghề buôn bán, nếu không buôn chín bán mười mà tiêu dùng thời không đủ đổi.
Ấy những cách buôn bán như thế, chưa đủ lấy gì làm đáng mừng cho lắm, vì không mở mang được mấy sản. Nay cái hiệu buôn mà tôi giới thiệu cho chị em biết đây thiệt là có giá trị lắm thay!
Nguyên hôm trước tôi thừa nhàn tản bộ dọc theo con đường ngả cửa Thượng Tứ đi vào kinh thành, gần chỗ vườn hoa trước mặt bộ Học, bên cánh tay phải có dãy nhà gạch mới, toàn là phố xá trù mật.
Năm sáu mươi năm về trước, chỗ ấy còn là khoáng đãng, dân cư xưa xết, chỉ những nhà các người thuộc viên, hiện tòng công vụ ở đó đi làm việc quan cho cận tiện, còn nhà buôn bán tuyệt vô. Đến bây giờ nhà ngang dãy dọc tiệm thành một cái tiểu thị trường đô hội, trông rất đẹp mắt, mà cái vẻ đẹp mắt ấy lại chung tú vào một hiệu Hòa Thành hơn hết.
Hiệu Hòa Thành này là của hai chị em một nhà hợp tư bản với nhau mà sáng lập ra. Một vị thời lệnh ái cụ Thiếu Hoàng Tổng đốc Hà Đông tức là dâu cụ lớn Lễ bộ Hiệp tá đại thần, vợ ông tú Hồ Đắc Điềm, mới thi đỗ tú tài bên Đại Pháp về. Còn một vị tiểu thơ, chính là lệnh ái của cụ lớn.
Khi sáng lập cửa hàng này đã hơn một tháng, trong phố cất thu các sắc hàng trong Nam ngoài Bắc, cách sắp đặt có thứ tự, buôn bán tính giá rất phải chăng. Hai chị em còn thanh niên sinh trưởng phú quý thiên kim kiều dưỡng mà đã sớm biết lấy cái tài trí học thuật thông minh của mình đem lợi dụng trên con đường kinh tế, ganh đua với đời, giữ lấy mối lợi quyền cho người bản xứ. Há chẳng phải một điều đáng khen ru?
Khi tôi bước chân vào phố lại được tiếp chuyện với tiểu thư, nghe lời bàn bạc, cách buôn bán cũng có nhiều lẽ cao kiến khác bậc tầm thường.
Tiểu thư nói với tôi rằng: “Sự thương mại ở các nước Âu Tây đều có học tập cho thông thạo mới làm nên nổi, tôi tuy chưa học đến khoa thương mại, nhưng cũng có theo đòi tân học nhiều ít và thường đọc các báo chương, các tạp chí, thấy sự cổ động về đường thương mại mà hâm mộ lắm, dầu trong buổi ban đầu có khó khăn đôi tí, song đã bền chí tất là được thấy cái kết quả vẻ vang. Tôi sở dĩ dựng ra hiệu Hòa Thành này, chẳng qua là một trường thí nghiệm của tôi học đó mà thôi, nếu dần dần mà được người trong nước tin cậy sự thành thực buôn bán của chúng tôi, nó sẽ trở nên một trường hiện nghiệp về sau này. Khi ấy tôi mới khoáng trương lớn ra nữa làm nên môi giới cho các cửa hàng khác, ở Huế ai muốn cất hàng trong Nam ngoài Bắc, hay gửi hàng bên Đại Pháp, hiệu Hòa Thành sẽ đảm đang nhận mua cho hết thảy. Lại hóa vật muốn giao dịch đi các tỉnh, cũng tính cách chuyển độ cho tiện lợi vô cùng”.
Tiểu thư lại có bàn thêm mấy cái vấn đề khó giải quyết trong nghề buôn bán, bài sau nói tiếp theo. Bây giờ chỉ muốn nhắc qua mấy điều: Sự buôn bán sắp đặt tiệm thành cơ chỉ, để bạn gái cùng biết mà đồng tình với tiểu thơ. Mong cho cuộc kinh doanh thương cuộc ngày chóng phát đạt thịnh vượng, làm gương cho bọn quần thoa soi chung. Quý báu thay!
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 22-5-1923
TRĂM NẾT THẢO LÀM ĐẦU
Cách ngôn Tây có câu rằng: “Người ta mà không thảo với cha mẹ mình, dầu hết lòng ở với người khác cũng là vô ích”.
Sách Nho có câu: “Bất ái kỳ thân, chỉ ái tha nhân, vị chi bội đức” . Coi như thế thời đủ biết sự giáo dục Đông Tây cũng đều một ý nghĩa hết thảy. Sao cận lai cái phong trào tân tiến, những gì được nhuần thấm học mới lại có hạng rẻ rúng khung cảnh gia đình, tình nhụ mộ kém trước, đạo thị phụng thuở xưa, đàn ông nghe vợ, đàn bà nghe chồng, chỉ biết nặng tình với bạn suốt đời, mà coi rẻ cái công đức của người sinh thành, là cớ làm sao?
Ôi! con mà đối với cha mẹ không những biết nuôi mà phải biết kính, vì nuôi mà không kính, chẳng khác gì nuôi giống loài vật vậy. Cây có gốc, nước có nguồn, con người sinh ra nhờ có cha mẹ, nâng niu uốn nắn mới được lưng dài vai rộng. Tục ngữ có câu: “Bé cậy cha, già cậy con”; nếu đạo làm con muốn báo đền công ơn cúc dục tất phải nên trông nom vào lúc già yếu của người.
Phàm người già cả, tính nết thường hay lẫn lộn trễ nải. Vì đã trải nhiều sự đời khó nhọc, vì con mà kinh doanh sự nghiệp, sao cho khỏi lúc đầy lúc vơi, khi mưa khi nắng, tuổi càng cao, sức lực càng mòn, nguội lạnh cái chí khí hăng hái khi xưa, trẻ con thấy thế làm khả khi được, mới sinh ra lòng lờn rẻ, nghĩ có đáng tội nghiệp không? Phải biết rằng, cái già ấy nó có chừa ai bao giờ. Đáp lại mình phải có cảnh ngộ như thế, phỏng mình có cam tâm con mình xử nghịch với mình không? Tự mình lại dám thất hiếu cùng cha mẹ sao đặng? Phương chi, nghĩa vụ ở đời đối với nước, đối với người đều chủ sự trung tín làm đầu, mà phi những kẻ có lòng thảo thuận, thời làm sao giữ vẹn trung tín cho nổi.
Người cha mẹ hiền lành, con thảo đã đành, dẫu cha mẹ dữ tợn, là đạo làm con cũng chẳng khá chẳng thảo, mới là phải chứ. Ngày xưa ông Cổ Tẩu, ở với con là vua Thuấn, đêm ngày ghét bỏ, chỉ muốn giết đi cho rảnh, khi sai đào giếng, lại lấp giếng ngay, khi sai lợp nhà, lại cất thang đi, khiến cho vua Thuấn phải đói phải khát mà chết. Thế mà khi vua Thuấn thoát khỏi mấy cơn nạn ấy, không lời oán trách, một lòng yêu mến, sau trước không đổi, sử xanh ghi chép, tiếng rạng nghìn thu. Huống hồ trong thế gian cũng không có mấy người làm cha như ông Cổ Tẩu, đó là chẳng qua muôn ngàn mới thấy một mà thôi. Vậy thời đạo làm con, cũng không khó gì mà ở không đặng.
Sinh thân người đàn bà không thảo với cha mẹ mình, mà cầu cho thảo với cha mẹ chồng thời cũng khó lắm thay.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 14-6-1923; Mục Lời đàn bà
NGƯỜI ĐÀN BÀ PHẢI NÊN BIẾT CÁCH ĂN Ở VỚI CHỒNG
Đạo vợ chồng trọng chữ tình nghĩa, nếu tình nghĩa không có thời làm sao ở với nhau cho trọn đời được, nhưng có biết chữ tình nghĩa là trọng, mà giữ gìn tình nghĩa. Tình là thương yêu nhau, nghĩa là đạo ngũ luân; trước có đạo vợ chồng mới có đạo cha con, có anh em, có chúng bạn, rồi mới có vua tôi. Sinh thân người đàn bà khi bé còn nương nhờ cha mẹ, khi khôn lớn theo chồng theo con; trong ba đường theo ấy, là nghĩa vụ bắt buộc phải có, có để làm cho người đàn bà vì đó mà phải học tập cái tư cách làm người ở đời gánh vác một phần việc rất xứng đáng vậy.
Đàn ông nghĩa vụ phò vua giúp nước, đàn bà nghĩa vụ giúp chồng dạy con. Bởi vậy mà trong khi phòng xuân kín cổng, ngọc lành đợi giá, đã phải luyện tập tính tình, học hành phép tắc, phòng khi có chồng có con cho đủ tư cách làm một người chủ phụ tề gia sắp đặt việc khỏi lầm lỗi. Vợ đối với chồng, chuyên chính một lòng, lấy câu hòa thuận làm đầu, yêu thương mà phải kính nhường, mới không sinh ra sự lờn dễ. Nếu để sự lờn dễ đã lượm ra thời sau dẫu thần lôi quỷ kéo tưởng cũng khó lòng mà cứu vớt lại cho nổi. Cho nên thứ nhất là buổi ban đầu, không nên để đến sự chếch mếch lòng nhau, hay sinh ra lắm cái ác cảm; vì chếch lòng chỉ khởi nhiều lời, là hóa ra thù nghịch, sây lưng sấp mặt là một sự chẳng may cho cảnh gia đình.
Tính đàn bà thường giàu về cái cảm tình, mỗi khi khuyên can người đàn ông điều gì không đặng lại nghĩ vơ nghĩ vẩn, mình thương người ta mà người ta không thương mình; thương bao nhiêu là giận bấy nhiêu. Cho nên lời càng thêm cẩn thận cho lắm, kẻo vội vã e có sai thất đi chăng, phàm nóng tính thời hay lầm, nghĩ cạn chưa tới nơi là thường tình ai cũng có, ai mà phạm phải, tức mau hối quá, biết lỗi mà chừa ngay, cũng là người tốt. Ví bằng cứ đeo lấy lỗi vào mình, không sao tỉnh ngộ, lại còn lầm nữa, lầm cho đến đã hư gia bại sản, hồi đầu thì đã muộn rồi.
Đành rằng người đàn bà thời phải phục tùng theo người đàn ông, nhưng cũng phải biết lẽ chính tà và điều lợi hại mà bàn bạc với nhau, khuyên bảo lẫn nhau, chớ không cứ việc gì nhất nhất cứ nghe chỉ từ của người đàn ông hết thảy, thế ra con mọi giữ của, con đòi nấu bếp cho người chồng, mà có con ra nữa lại thêm một vai làm con vú mà thôi, sao gọi là bạn suốt đời được, sao gọi “thê dã là tề dã”.
Huống hồ vợ chồng lại có nghĩa hoạn nạn tương quan, vinh nhục dữ đồng, công việc lo tính, kẻ ngoài người trong, ai nấy đều có nghĩa vụ phải làm cho hết bổn phận. Như thế, người đàn bà mới phải có học, học cho biết mở mang tri thức, khi chịu lấy cái trách nhiệm nặng nề, coi một gia đình há phải là sự khinh thường ru. Nỡ để cho người đàn bà như pho tượng gỗ đặt đâu ngồi đấy, như bộ máy bảo sao làm vậy, thời hà tất phải học. Và trong đạo gia đình vợ biết cách ăn ở với chồng cho đẹp dạ, thời chồng cũng phải nên biết cách đối đãi với vợ cho bằng lòng, để khiến người bạn của mình vui vẻ mà vâng theo lời mình, ấy là một cái lạc sự hạnh phúc chung cả đôi bên, đạo nhà đã vững hưng vượng mới mong.
Nhưng nói rút lại thôi dầu thế nào là bổn phận người đàn bà cũng phải lấy gia đình làm mục đích, nếu theo không tới cái mục đích đó toàn là người hỏng. Con nhà sang, chưa sang, được chủ trương làm được một tay nội tướng mới qúi, sinh con hiếu thảo mới vinh. Có người gặp phải cảnh ngộ người chồng phụ bạc mà họ cũng tự trị lấy gia thế nổi, nên nuôi già dạy trẻ một thân đương lấy khó nhọc biết bao, tình tuy không còn mà nghĩa không thể dứt được. Biết đâu sau này cảnh nguy lại trở làm an, có phải gương phụ đức chói rạng là dường nào, kẻ mày râu trông lại mà phải hổ thẹn, đợi ai phải khư khư buộc mình trong dây ái tình, cái danh nghĩa kia cũng đã làm cho mình rực rỡ lắm thay!
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 28-6-1923; Mục Lời đàn bà
VỢ CẢ ĐỐI VỚI VỢ LẼ
Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng. Cái lòng đố kỵ của bà vợ cả đối với người vợ lẽ, thường tình tất không tránh khỏi. Trăm người đàn bà hầu hết tám chín là người ghen dữ, còn một vài phần thời ghen vừa vừa, nếu nói cho đúng, thời không ai là không ghen; nhưng người đằm, người nóng có khác nhau, người nết na ghen khác người độc hiểm, kẻ lộ ra trước mặt, kẻ đau ngầm trong tim. Xét cho rõ cái tâm lý của loài người, đàn ông biết ghen người đàn bà làm sao, thời lòng người đàn bà cũng hay ghen người đàn ông làm vậy, bởi vì cái tình yêu mến nhau thường không muốn ai xen lấn vào nữa, vì thế mà người vợ cả ít dung được vợ lẽ, sinh lắm sự rắc rối trong gia đình.
Nay muốn tìm một cách rất chính đáng có phần cao thượng mà sửa bớt cái nhân dục, tất phải viện một cái công lệ rất hiển nhiên, may ra bổ cứu được đôi chút chăng.
Phàm người ta ở giữa đời, tùy theo phong hóa, mỗi nước mỗi khác, mà cái vận mệnh chung trong một dân tộc là đều quan hệ ở phong hóa mà ra. Người phương Đông chúng ta, phong hóa trọng đường kế tự, lấy hiếu làm đầu. Như sách Tả Truyện có chép chuyện nàng Ung Cơ hỏi bà mẹ rằng: cha với chồng ai nặng hơn, thời bà mẹ nói rằng: ai mà kết nghĩa với mình đều làm chồng hết thảy, chỉ duy cha có một mà thôi. “Nhai giai tân phu dã, phụ nhất nhi dĩ”. Vậy thời người đàn bà còn trọng hiếu như thế, huống hồ đàn ông, ai cũng là vợ, ai cũng là chồng, chữ tình chữ hiếu bên nào nặng nhẹ?
Lại một lẽ nữa; con sinh ra lấy họ cha chớ không lấy họ mẹ, là chính phải trọng đường tông diên, “thiên thu huyết thực”, cần phải có con nối đời, cho nên sinh ra con trai có trông cậy về cớ đó. Nếu người vợ không có con trai, tức phải cưới vợ lẽ cho chồng, để kiếm con mà giữ phần hương hỏa. Song cái vị trí đích thứ khác nhau, dầu người vợ lẽ có sinh con ra cũng phải tôn bà vợ cả là mẹ, ấy là nghĩa ngũ luân “nhất phu nhất phụ” trong tình hình kết phát vậy. Vả lại người tiểu tinh là cam bề khâm trù chức phận, không dám đương tịch như người chủ phụ, khi ăn ở lúc ra vào, nhất nhất điều gì cũng phải thoái nhượng hết thảy. Người đàn ông đối với người vợ lẽ, có tình thương yêu, chớ không có chữ kính nể, thế thời cái công lệ tuy bắt buộc phải có vợ lẽ, mà cái trật tự vẫn rõ rệt không chút gì mờ ám. Sao người đàn bà còn dám đem lòng riêng tư của một người mà ngăn trở sự lớn lao của một số nhiều người phải chịu thiệt hại theo mình; đàn ông mất nòi tiệt giống là hại ở người đàn bà cấm đoán hầu thiếp.
Lẽ thứ hai nữa: con trai con gái tuy đã có rồi, nhưng công việc bề bộn, như nhà quan sang chức trọng, nhà giàu có lắm thóc nhiều tiền, ruộng đất buôn bán, năm sở, bảy sở, không có thể lấy sức một vài người mà làm cho xiết. Dầu ủy thác sai khiến ai, chưa chắc đã tin cậy hết lòng cố sức với mình cho bằng người vợ lẽ, là cũng có ăn thua ít nhiều ở trong: lại thuê mướn cũng sợ tốn hao nhiều tiền, hết năm đầy tháng, ai về nhà nấy. Nói rút lại thời sự cưới vợ lẽ cũng là một cách lợi dụng cái công nghiệp của người đàn bà, thói thường hay ham công tiếc việc, mà lại ẩn sắc đồng tiền, cho nên nhiều nhà có vợ lẽ. Ấy cái nguyên nhân phải có vợ lẽ, thời lợi cho công việc được chạy luôn, mà hại cho tình nghĩa, chỉ có một điều: phàm cái ái tình là ai có phận nấy, chớ không ai muốn cho người yêu của mình yêu được người khác bao giờ. Dầu người vợ cả có tính nết tốt không ghen với người vợ lẽ chăng nữa, là người vợ lẽ chưa chắc không có kẻ lại ghen ngược trở lên, xưa nay cũng thường thấy.
Đến người đàn ông. Người đàn ông không phải người nào cũng thiện xử hết thảy, có quyết đoán có độ lượng bao hàm, điều hòa được cả, hai cái tình khuynh hướng vào một mình, phân chia trật tự cho khỏi rối loạn.
Hiểm thay quả tim có một, chia để làm hai, yêu người này mất lòng người nọ. Tục ngữ có câu: Nhà rường mà lợp tranh mây, thân anh hai vợ như dây buộc mình, lắm lúc tham mới phụ cũ, trở trái làm mặt. Thơ cũ có câu: “Lũy di tân ái đoạt; lụy lạc cố tình lưu”, nghĩa là sự yêu thương thời người mới cướp hết, giọt nước mắt chứa chan để lại cho người cũ mà thôi; tình cảnh như thế người ta không phải là cây gỗ mục, cầm lòng sao yên.
Trong xã hội có nhiều cái hiểm tượng gớm ghê cho cảnh gia đình, trông thấy mà xót thương. Nào những người khuê các, tình tính trinh tịnh, biết sự ghen tuông là xấu hổ, thời ẩn nhẫn không nói, lại sinh ra phiền não đau ốm, quá buồn lại đến nỗi cuồng tâm loạn tính, quá nóng lại dẫn đến ly dị bỏ nhau, kết cục là mất cái hạnh phúc chung cộng của gia đình. Cho nên làm người phải nghĩ sâu xa, cái phong hóa đã nói trên kia, quyết nhiên người ta chưa thể bỏ được hết, thời nhà nào đã có vợ lẽ, tưởng cũng nên lấy cách hòa hảo mà đối với cái phong tục cũ, cho phương tiện thời hay hơn, chớ đừng như ai giữ dạ hẹp hòi, cưu lòng gian hiểm. Tuy nhiên đắc thắng vị tất đã là vinh, mà rủi thất bại, chắc là phải như lòng người ta khó mà dò được, nhưng lòng ta thời ta biết, một là tình hai là lý, tình đã không không thắng nổi lý được, hà tất vì tình mà phải run rủi cho đày đọa thân, lý không địch lại với tình, thời lý cũng vô dụng. Người ta ở đời cư xử không ngoài hai chữ tình lý, chớ không dùng sai, ấy là người biết kinh quyền thông đại vậy.
Kẻ trượng phu yêu người tiểu thiếp không cứ gì vì mê sắc đẹp, chỉ duy nhơn tình trạng khó mà khinh dễ đó thôi, chán gà nhà, ưa ngỗng nội, thế gian coi làm thường. Hà khổ băn khoăn lo phương này hết chước nọ, ngăn mưa cấm gió, chửi lý mắng đào, thời có khác gì ở bên cụm rung cây đuổi bắt sẻ, rung cây bao nhiêu, càng như xui giục cho hắn bay ra bấy nhiêu. Khi ấy giai ngẫu phiên thành ác ngẫu, lương duyên hoàn tác cừu duyên, cũng bởi tự mình vụng liệu cho nên cả, sau dần hối hận cũng chẳng ích nào. Chi bằng quý hồ đương sơ trong cuộc, mà cứ giữ mình cho đặng chính đáng, chủ có phụ đức, công việc gia đình là bổn phận phải gánh vác, có con cái là bổn phận phải nuôi dạy, không nên vì một điều, mà bỏ hết mấy điều. Nghĩ đã đem thân vào cuộc thế, trót vay phải đền trả mới là xong, thà người phụ mình, chớ không nên mình phụ ai. Phương chi: người đàn ông mà có vợ lẽ, đã là chắc hạnh phúc của họ chưa? hay cũng có sự thiệt hại cho họ, mà lại đau đớn hơn người đàn bà bội phần thôi sao. Đông con không quí, nuôi con thành lập mới thỏa, nhiều vợ thêm bận mình. Vợ có mà tính hạnh không có, nai lưng hệt làm nô lệ cho bọn đầu dầu mặt phấn, tốt chuồng thời ở, xấu chuồng thời đi, ăn theo chạy dọi, hiếm người trải ruột phơi gan, riêng chung khó vừa lòng, tình ý ai ra đường nấy, người đàn bà nghĩ thế không phải ghen, người đàn ông tự phải sợ.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 6-7-1923; Mục Lời đàn bà
NHÀ MUA VÀ NHÀ BÁN
Người ta nói rằng: người mình chưa đủ tư cách buôn bán, đành vậy, song thử hỏi người mình đã thạo cách mua hàng chưa. Nói thế thì ai cũng bảo người đã có tiền đi mua hàng, nào có dại chi, vì lầm là tại kẻ bán hay phô bày ngon chanh ngọt dấm, quá tin nên mắc, quá nể nên lầm. Nhưng sự lầm cũng có hai lẽ: thực lầm là tại nhà bán, đáng lầm là tại nhà mua, cái lý đó ta nên phân biệt cho rõ. Bởi cớ nhà mua, mua làm sao chỉ muốn bốc hốt của người ta, lấn dày lấn mỏng, bớt trước hẹn sau, vặn chày cho ra nước, trách nào người ta chẳng kiếm cách mà đối đãi lại sao được, ấy là sự lầm rất đáng; còn lường thưng tráo đấu, vào lớn ra nhỏ, là cách tráo chác của nhà buôn, nếu không khéo suy xét thời thực phải lầm.
Ôi! cách mua và cách bán như thế, còn sao giữ cho vẹn mọi lẽ công bình đặng. Tôi thấy có mấy người chị em bạn dựng cửa hàng mua bán, thấy cái tục xấu xa như thế mà phàn nàn. Họ nói rằng: nhà mua nhà bán chính trọng chữ tín thực, thế mà lắm lúc thi hành lại phải thất bại. Ví dụ như mình nói giá thực thì người mua không tin, bao giờ người mua cũng ưng trả cho nhiều giá mới chịu mua, ấy là đã sang qua một cửa hàng khác, mình phải mất một mối bán hàng ngay. Đến như cân lượng, mình giữ đúng mực thăng bằng, một cân là mười sáu lượng, giá phải cao hơn là kẻ bán một cân là mười bốn mười lăm lượng mà thôi. Thước tấc đo hàng lụa, kẻ thời bán thước hai mươi lăm đồng tiền kẽm, kẻ thời bán hai mươi sáu hai mươi bảy đồng; ô, hộc đong lường lúa gạo, ô thật nhỏ có, ô thật lớn có; hộc đôi thước, có hộc thước bảy thước tám có, mỗi nhà mỗi thứ vật so lượng khác nhau, không tài mà kể cho xiết. Mà kẻ mua hàng lại không so sánh cân lượng thước tấc mà giả, thường sơ suất vì cái đó, chỉ tính đồng tiền hơn kém, cho nên mình thực thà cũng ít kẻ nhận ra cho. Lấy ngay một điều hiện tại ở trong thành phố Huế mình bây giờ, hàng nào bán cũng ba bốn cái thước, cân cũng đến ba cái cân, phỏng còn nói thực thà làm sao cho đặng, cho nên mất hết cái nghĩa thành thực, lại hại cho xã hội rất nhiều. Vì người thông thạo nỏ nói làm gì, còn người khờ vụng thời phải mắc theo hết thảy; có lắm người mắc lừa vẫn cho là mua được giá hạ, chớ không hiểu kẻ bán nào phải hớ giá đâu.
Cái tệ hại để như vậy, cận lai các nhà thực nghiệp muốn chấn chỉnh cách buôn bán lại, tưởng không trừ được cái tục lệ giả trá, thì không khi nào chấn chỉnh xong.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 28-7-1923; Mục Lời đàn bà
KHÔN DẠI
Người khôn cư xử châu đáo từng việc. Việc làm không gấp xúc, không chậm trễ, không khoe khoang, thường yên lặng mềm mỏng, tuy ngộ vật câu si, nhưng chủ trì rất là có trật tự, trong lòng vẫn năm nắm nơm nớp nghĩ mình như chưa đủ, chớ không dám tự đắc bao giờ; không như người dại, tính khí nọa nhược, hay du dự, thấy điều gì hơi có ngăn trở đã vội bỏ qua, dù có tiếng làm việc mà mười việc đã tám chín việc phải dở dang, thời kết cục toàn là vô ích hết thảy. Cách ngôn Tây có câu: “Tài năng không gì lạ, chỉ khác là có chịu khó nhọc và siêng năng thôi”, cho nên dại đến đâu, mặc dù mà biết gắng gổ chuyên cần, lần lần cũng có ngày bỏ dại nên khôn được.
Đại phàm thiên hạ sự lý ngày càng phát sinh vô cùng vô để, có điều cổ nhân cho là phải, mà người nay lấy làm trái cũng có; thế thì người nay cho là phải cả, biết đâu người sau lại chẳng bảo là trái hay sao? Cái lời cổ nhân chưa từng nói bao giờ mà người nay nói cũng có; người nay chưa nói đến, biết đâu sau này há không có kẻ nói hay sao? Bởi vậy sự khôn, sự dại khó mà cân nhắc cho đúng, song dù khôn dù dại đều là không hại; chỉ duy nửa khôn nửa dại mới là nguy hiểm. Ở về cái thời đại bán khai, hạng người ấy thật không thiếu gì, không những đàn ông đã thế, đàn bà cũng vậy, ai cũng nói thánh nói thần tự cao tự đại, văn chương mồm mép, kiến thức vu vơ, nghe không biết nghĩ, thấy không biết suy, muốn sao làm vậy, tự tâm tự tính không cần ai khuyên bảo lời ngay lẽ phải lại oán lại trách, khéo nịnh khéo hót, thích ý vừa lòng, con người thế ấy đến bạc đầu chưa chắc thoát khỏi sự lầm, mà có phải lầm lấy hại lấy một mình cho đáng kiếp, lại còn lây cho mọi người quanh quẩn lầm theo mình, chẳng cũng oan uổng lắm ru.
Nên chi thà rằng: Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, chớ ương ương mà người ta ghét.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 1-8-1923; Mục Lời đàn bà
BÀN VỀ LỜI NÓI XẤU
Nói tốt cho ai thì người ta vui vẻ, nói xấu cho ai thì người ta oán trách; bởi vì những người làm điều xấu ít muốn nhận lỗi mình, cho nên không bằng lòng người đời chỉ trích điều xấu của mình ra. Mà ta nói xấu bao giờ cũng độc địa gớm ghê tới đâu như bào như đốt, làm cho khô héo từng lá gan, châm chích từng đoạn ruột, đau ngầm mà không thể nói lại được. Phàm kẻ phạm phải sự trái phép, chỉ nhờ sợ lời nói xấu, họa chăng mới ăn năn đổi lỗi lại, thế thì lời nói xấu không phải là vô công vô bổ đâu. Hằng làm quấy mà không ai bài bác, chắc sau càng thêm trưởng ác lên nữa, ngày chứa sâu hơn một ngày, thậm chí không điều gì là không làm, gian tham tật đó, trốn chúa lộn chồng, bao nhiêu sự hư danh bại tiết, toàn là không kiêng nể lời nói xấu mới dám làm. Chớ con người ta biết giữ bổn phận, gìn lòng ngay thẳng, tuần tự mà noi theo con đường văn minh tiến bộ, chưa đủ sức, không nên cấp tiến, đâu có lẽ nhố nhăng mang tiếng thị phi đàm tiếu. Đã lắm kẻ dở dang về sự nghiệp, học hành chưa tới nơi tới chốn, đã vội bỏ nền xưa nếp cũ của mình, thực là tại quá ư hăng hái tự do, tự do không phải đường, thành ra nghĩa tự sát, khi mình đã tự sát lấy mình còn gì đau đớn hơn nữa, còn sao tránh khỏi lời nói xấu được.
Dầu đàn ông, dầu đàn bà sinh về đời này, không phải nghĩ như xưa, mà chỉ trông mong cho người ta ẩn ác dương thiện. Bây giờ làm hay thì người ta khen, làm dở thì người ta chê, có thế mới chừa lần mọi nỗi xấu trong xã hội, thì may cho bọn người chịu ảnh hưởng về sau này.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 27-8-1923; Mục Lời đàn bà
CÁI SỰ NGHIỆP LÀ CÁI LÀM SAO?
Mọi người sinh ra ở đời, dầu hèn dầu sang, dầu đàn ông, đàn bà ai ai cũng có một cái sự nghiệp cầm vững trong tay nhiên hậu mới thành con người. Nếu sự nghiệp đã hỏng, thì người ấy có cũng như không, mà cái sự nghiệp lại tùy theo thân thế từng hạng người khác nhau nhiều lắm. Những kẻ tầm thường sự nghiệp, lục lục dung tài không kể, còn người xã hội công nhận cho là bậc thượng lưu, thì cái sự nghiệp của người ấy, tất cũng oanh oanh liệt liệt, lòe mắt êm tai người đời lắm lắm, khiến muôn nghìn người đều phải chú trọng đến mình, há phải việc lây lất mà làm được ru. Huống hồ cái sự nghiệp tạo ra lúc sinh tiền quan hệ vận mệnh trong một nhà, bách niên chi hậu, lại thành trần sử trong một nước, cho nên sự nghiệp gây dựng ra đã khó, mà kết quả hoàn toàn lại khó hơn nữa.
Lời xưa có nói rằng: “Sự nghiệp có qua một đời người, rồi mới biết hư nên phải chẳng, chớ sáu bảy mươi cũng chưa chắc còn có thay đổi làm sao không biết chừng”. Dầu đàn bà, người đàn bà thế nào, có phải người đàn bà nào cũng như người đàn bà nào hay sao. Có kẻ gặp chồng quyền cao chức trọng, danh giá lẫy lừng, sự nghiệp nhà chồng, tức là sự nghiệp nhà mình, đổ nát đi, hay là rực rỡ lên, toàn bằng hai chữ đức hạnh, có tu với không tu.
Khi ngôi thứ đã định, không tự mình đi hạ cái danh vị của mình xuống bao giờ. Tiết nghĩa có tiến mà không có thoái, thoái thì sự nghiệp phải đổ nát cả. Vì cái hạnh phúc của ông trời phó cho mình ít ai sánh kịp, cái vinh quang của mình bạn gái khó tày, càng cao, càng sáng, càng tỏa, như tấm gương chiếu tỏa khắp mọi người, ngồi gần đứng xa đều trông, trông thấy mà sinh lòng cảm tưởng tán dương, hay là trông thấy mà sinh lòng áy náy chán ngán; bởi vì tấm gương nhiễu điều bọc giá, khuôn thành thếp vàng, mặt kính tỳ ố lu lít đi một chỗ rất to, phỏng còn mong gì nữa.
Ôi! đạo làm người cố danh tư nghĩa, đủ gây cho mình một cái sự nghiệp rất xứng đáng. Chớ có vì vật dục nung lòng, hoặc vì say mê về điều danh lợi, hoặc cám dỗ bởi ái tình mà quên hết lễ nghĩa liêm sỉ, thì người sau còn coi mình ra chi; song cái điều danh lợi, có kẻ “ni sĩ” vẫn không mang, mà cái ái tình, dầu “thiết diện” cũng còn phải mắc, huống nữa.
Đời xưa như ông Ngô Tam Quế, luyến ái chị Viên Viên, chàng Lữ Bố mến yêu nàng Điêu Thuyền, vua Phù Sai say đắm gái Tây Thi, bà Nhân Hậu đề thi tặng khách, còn vì biết bao kẻ vì tình nên lụy đến thân danh, đến sự nghiệp, nhà tan nước vỡ, liễu úa hoa tàn, nhất sinh mưu vọng, phú theo dòng nước chảy xuôi; mấy đoạn du tình chép để sử xanh soi lại. Than ôi! Thương thay! Tiếc thay! Vậy mà người đời vẫn còn mơ màng trong giấc mộng, mong điều dật lạc, chẳng đoán trước nghĩ sau, cam với cỏ cây cùng mục nát, còn gì sự nghiệp đối với người đời. Nhân bài này có cảm xúc với người đời, vậy tôi có câu thi rằng:
Ngán thay mà lại tiếc cho ai
Cắc cớ xui nên chuyện lạ đời
Mái tóc kim sanh râm bạc trắng
Nhẹ xem sự nghiệp trọng hình hài.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 29-9-1923; Mục Lời đàn bà
CÁI LỜI KHEN
Người ta khi giao thiệp với ai làm sao cho khỏi các lời xưng dương tán tụng, vậy mà chỉ dùng sơ sơ cho tươi mươi câu chuyện dễ nghe thì được, chớ dùng lạm quá thành ra bọn nịnh hót, lại là khả thô bỉ. Nguyên cái lời khen, lời chê là một cái thưởng phạt vô hình, mà khiến mọi người lớn nhỏ sang hèn ai ai cũng phục tòng hết thảy: nhưng đã nói rằng sự thưởng phạt phải cho phân minh, nếu không hay cũng khen, thưởng lấy thưởng để, thì họ coi rẻ cái tiếng khen, sau dầu có sự đáng khen thực, mà người đời vẫn lù mù không biết thực hay giả, bề chi cũng sinh vô sự lắm sao?
Ôi! khen mà khen càn, thì cái phần thưởng người lãnh lấy, lắm lúc vấn tâm cũng sinh thẹn. Dầu cho người ấy nghĩ không ra được cái điều thẹn đó, chắc cũng có nhiều người khác phải thẹn thế cho mình. Đó là những điều chưa rõ rệt ở trên tờ giấy mà còn thế, chớ nếu đã chép ra bút mực, như đăng lên các báo chương, các tạp chí, ức vạn nhân chi nhĩ mục, thiết tưởng lại càng quan hệ biết bao. Không phải nghĩ rằng: thấy ý kiến một vài người yêu mình, hoặc yêu tiền mình, yêu danh vọng mình nói tốt cho mình mà đủ đâu, sự quan danh dự là một bậc quí báu ở đời, tất là phải đợi ở công luận, thiên thu chi hậu mới sẽ phán đoán xong.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 1-10-1923; Mục Lời đàn bà
SỰ HỌC HÀNH CỦA CON GÁI
Bốn năm về trước, nữ sinh tòng học nghiệp, đỗ bằng cấp sơ học, thì đã được bổ ra các trường, ăn lương bổng của nhà nước cũng như con trai vậy. Bởi thế mà các nhà cha mẹ học sinh lấy cái mục đích của sự học có kết quả chóng thành, nên ai cũng hâm mộ mà con cái đi học rất đông. Càng ngày sự học càng mở mang thì cái trình độ sự học nhấc cao lên mấy tầng nữa; chưa biết đến đâu mà hạn lượng. Cái đó là điều đáng mừng cho tiền đồ quốc dân ta. Thế mà nhiều nhà cho con đi học, thấy cái hiện trạng như năm nay, mười người học sinh đỗ bằng cấp sơ học, chỉ được vài người được bổ dụng mà thôi, nên phàn nàn cho sự học nghiệp gian nan, sinh lòng ta thán, đi đâu cũng nghe nói công bất thành, danh bất toại mà ngã lòng.
Ôi! sự học mà chỉ nghĩ có thế, thì không trách gì tư cách của người mình chưa siêu việt lên nổi. Hèn chi những người làm tháng năm ba chục bạc đã tưởng mình là tài hiền tri ngộ, khinh thế ngạo vật, không kể nết na chi người con gái cả, chỉ chăm chăm cho có tiền có bạc là mãn nguyện. Nay thấy học chưa có bạc có tiền thì đã thất vọng chớ không nghĩ lại cho chín mà coi sự mãn nguyện vị tất đã xứng ý. Mà thất vọng cũng chưa phải là đáng buồn, vì những người thiếu nữ mười lăm mười bảy tuổi dầu có đỗ trúng cái bằng cấp sơ học, song cái tư cách chưa đủ gọi là hoàn toàn làm một bậc sư phạm nổi. Chẳng qua mới buổi ban đầu, nhà nước đang ban bố sự học cho phổ thông trong nước, mà nhân tài hãy còn thiếu thốn, giáo dục bây giờ đương sơ mơ; kẻ biết đọc biết viết đã cho là xảo thông, để giúp dùm chút đỉnh trong việc khai hóa, chỉ bảo cho các kẻ chưa hay đó mà thôi. Coi như con trai cũng vậy, ba bốn mươi năm về trước đã có mấy ai có bằng cấp gì, đó là điều thuộc về thời kỳ mới khai hóa; còn ngày nay sự học gần lưu khắp, từ thành thị cho đến thôn quê đâu đâu là chẳng có trường học, không lẽ cứ để yên như chương trình học qui lúc trước, thì còn mong đường tiến hóa chóng lan rộng ra đặng. Tuy bây giờ vẫn có khó, song khó mà đã có qui củ noi theo bắt chước mà làm, không phải ngần ngại nữa! Tai nghe mắt thấy, chỉ vụ có sức, làm gì cũng nên. Hiện tại nhà nước có đặt trường Trung đẳng Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm, ai có tư cách muốn học cao thêm lên nữa cũng được; bằng không muốn làm việc với nhà nước mà lãnh lấy bằng cấp về nhà cũng vinh, vì rằng mình đã chịu công ơn giáo dục của nhà nước, chung lò rèn đúc như ai.
Trong đời còn biết bao nhiêu nghề nghiệp: buôn bán, làm thầy, làm thợ lại làm thuê, hà tất khư khư buộc mình về đường công danh, mà phải than trời trách thế. Phàm làm người con gái cốt phải biết cái chức vụ trọng yếu của mình, coi ngày thụ nghiệp học hành chính là tập luyện gây nên cho mình thêm tri thức tư tưởng để sau khôn lớn có cửa có nhà mà làm cho trọn đạo. Chớ có đâu muôn người nghìn người cắp sách đi học toàn là làm công việc nhà nước cả, thế thì các việc ở xã hội, ở gia đình chẳng là hoang phế hết thảy ru? Không lẽ khi trước xu hướng về đường Hán học đã làm cho các anh khóa dở dang về sự nghiệp, đến bây giờ theo tân học lại làm rối cho các chị khóa nữa, thế thì học nghiệp xứ mình nghĩ ra làm sao? Ôi! Ở đời phải coi theo máy đời mà vặn; vặn cho kỳ đến bậc mới chạy xong xuôi cho, dám khuyên ai lấy lý mà suy.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 6-10-1923; Mục Lời đàn bà
CÁCH XỬ SỰ
Người ta mà được vinh hạnh lớn lao hơn hết mọi người, không phải tại suốt đời không khi nào vấp chạm phải việc rủi ro xô đẩy mình phải ngã xuống, là về sau lại càng vượt cao lên mấy tầng nữa. Lời nói ấy là lời của ông Cát-di-tư-đức, ý vị thay!
Nghĩa là phàm việc làm phải nên kiên nhẫn, có chí mới nên, việc có xảy ra ngăn trở, nhiên hậu mới nảy nở trí khôn, có gian nguy mới biết có can đảm, việc có suy xét thì việc mới vỡ lẽ. Những cách thiện xử quí hồ tồn tâm trung hậu, đừng nên ích mình mà hại đến người, việc không đáng gì, không phạm danh dự tài sản, không nên tranh biện lắm, vì tranh biện tất thương hòa khí, lắm khi vũng nước khuấy thành đầm sâu, giai do vì kẻ vụng đường giao thiệp hết thảy.
Không cứ việc gì, khi mới khai đoan ra, thường thường cũng nhỏ, chỉ nhơn sau cứ đổ lỗi mãi lẫn nhau, mà ra nông nỗi, càng muốn cho lại gan, nỗi giận càng to. Nếu biết cách xử sự đem việc lớn làm thành việc nhỏ, việc nhỏ coi như không có việc; một cách nữa: lại yếu nghi khi mới mống sinh việc cãi cọ, thì làm cho tiêu tan ngay, phép ấy mới là giản tiện hơn nữa.
Lại bao nhiêu cái điều bằng lòng vừa ý cho mình, ai lại chẳng thích, song phải chiêm nghiệm suy nghĩ cho chín, kẻo nữa phần nhiều ở lòng người khác, tất có chỗ không vui bởi cái điều khoái lạc của mình. Cho nên làm người quân tử, tính hay dè dặt, không dám tự đương lấy ngay sự khoái lạc của mình, cũng vì cớ đó.
Nói tóm lại, trong đời sự vật đều có chính lý ở trong, mà lý thì tự mình tìm lấy. Người ngu thì không hiểu lý, đứa gian xảo lại cố ý không noi theo lý, thì dù có lý cũng khó làm, dường ấy làm người thực giả mới phải thẩm độ sự thế, thong dong mà ứng sự, nên làm thời làm, không nên thời thôi.
Cổ nhân cho việc làm, dù đúng lý cho lắm, cũng cứ đến tám chín phần là vừa, như cách trương cái cung vậy, quá năng thì hỏng mất, xử sự lấy phép ấy làm yếu điểm, tuy có tư cách thông minh mà chưa luyện đạt nhơn tình, động minh thế cố , xử sự cũng còn kém sút.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 23-10-1923; Mục Lời đàn bà
CÁCH TRANG ĐIỂM CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ
THẾ NÀO LÀ ĐẸP
Phụ dung, nghĩa là người đàn bà phải có làm tốt, song không nên thái quá, phí mất thời giờ vô ích, mà lại hình như giả dối, chỉ ham trau chuốt bề ngoài, không còn tưởng đến công việc khác nữa.
Cổ nhân có câu: “Nữ vô minh cánh, bất khả giám diện” nghĩa là người con gái không có gương vàng lấy gì soi mặt, thế là chuộng sự sạch sẽ đó thôi, vì mày mặt có vẻ vang, lòng dạ mới trong trẻo ngay thẳng đặng. Trong khi trang điểm vụ cần thanh khiết làm đầu; nhiều người con gái nghĩ lầm cách làm tốt là sự chuyên chính, cố ý mài miệt trong sự làm tốt; nào là cạo mặt kẻ mày, đánh lông cổ, vẹt tóc mai, làm cho ra dáng cực kỳ khéo, cực kỳ xinh, mà lại là cực kỳ khó coi hơn hết. Bởi vì cạo gọt sắc sảo quá, thì mất cái dáng điệu tự nhiên trời sinh. Trời sinh mỗi người là mỗi khổ mặt, mặt tròn hay mặt dài, mặt đao đao hay mặt đầy đặn, má bầu thô hay má núng đồng tiền, đều có cái vẻ xinh đẹp riêng một cách.
Sách có câu định bình cho người mỹ nhân nói rằng: “Nhân gian vô chánh sắc, duyệt mục tức vi thù” nghĩa là trong thế gian không có sắc nào là sắc chánh, chỉ tại ưa mắt người nào là đẹp; lại có người đẹp bao giờ cũng có cái vẻ thiên sinh thì mới đẹp, chứ như dồi phấn đánh sáp, chẳng qua điểm nhiễm thêm chút sinh sắc, nếu dùng quá đặm, hóa ra như thợ bôi tượng, bằng không có khéo trang điểm, lại tợ hồ mộc nột hủ lậu khả yếm . Vậy thì cách làm tốt, yếu nghi nhã đạm thì xinh hơn hết. Phàm người khuê các, con nhà đại gia, sinh trưởng phú quí mà biết cách nhún nhường lại còn tỏ ra cái vẻ đoan trang kính trọng, chứ hoa hòe sắc sảo, chẳng qua là bọn con hát con ca, phấn sức để làm trò chơi cho người du khách, chị em hà tất phải bắt chước cái lối thời trang ấy làm chi, cho nhẹ cái phẩm giá của mình đi.
Tuy rằng:
Lược gương là phận quần thoa
Sao cho chải chuốt nết na dịu dàng
Giữ gìn vóc ngọc mình vàng
Chữ trinh gấp mấy muôn vàn chữ dung.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 30-10-1923; Mục Lời đàn bà
(Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái” - 1928)
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.
www.trieuxuan.info |