tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
27.04.2014
Trần Văn Chánh
Trần Trọng Kim qua những trang hồi ký (tiếp & hết)

Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.
Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn(1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Namvì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!
Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.
 “Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).
Nội cácTrần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, "xây dựngkhu vực thịnh vượng chung"của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trịmới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.
Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẩm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu ân tiêu cực, được chăng hay chớ.
Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.
Theo nhận định của Lãng Nhân, “Tôi biết ông không có ý ‘tòng vong’ để mưu trở lại chính quyền mà chỉ cốt cho trọn tình nghĩa, và cố vấn cho những người tâm phúc trong Đại Việt như Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát, Nguyễn Hữu Trí… để thực hiện chính nghĩa quốc gia mà Bảo Đại tượng trưng” (sđd.,tr. 87)
Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạmnhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.
Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!...” (sđd., tr. 99-100).
Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết...” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).
Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc,lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh,Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ haydở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.
Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân).  Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).
Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67).
Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.
Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng.
Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).     
III. “Một cơn gió bụi”
Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả uyên thâm cả tân học lẫn cựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân tộc-bảo hoàng. Chính Phan Anh,Bộ trưởng Thanh niên trong Nội các trước đây của ông đã từng nhận xét:“Trần Trọng Kim là một người yêu nước nhưng không phải là một nhà chính trị”.Điều này không chỉ đúng với ông mà còn đúng cả với bộ sậu của ông và với vua Bảo Đại nữa.
Không ai phủ nhận Nội các Trần Trọng Kim là do Nhật lập ra để lèo lái theo ý đồ chính trị của Nhật (chuyện này chính Trần Trọng Kim và những người xung quanh ông cũng đã biết trước và sau khi chấp chính), nhưng nội các đó có “tay sai bù nhìn” hay không thì lại là vấn đề đã gây nên nhiều tranh cãi.
Bùi Diễm cháu gọi ông bằng chú (miền Nam gọi dượng) có lẽ là một trong những người có điều kiện tiếp xúc gần gũi và rành rẽ hơn hết về tính cách ngây thơ chính trị của ông cũng như của cả nhóm bộ trưởng dưới quyền ông, đã từng đánh giá: “Cụ Kim vẫn còn bị những khuynh hướng tổ chức theo lối cổ ngày xưa ảnh hưởng rất nhiều. Khi tìm người ra phục vụ, cụ đã mời những người vừa xuất sắc về học vấn, vừa chánh trực thanh liêm về cùng làm việc. Cụ coi đây là những đức tính tiên quyết, bắt buộc phải có ở những người phục vụ đất nước. Khi nhìn lại bằng con mắt hiện thời thì quả thật lúc loạn ly bấy giờ chưa chắc đã phải là lúc của những đức tính như vậy….Tuy thế, hầu hết các nhân viên trong cả chánh phủ đều thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Khi giải quyết các vấn đề chính trị, họ thường giải quyết dựa vào các quan niệm lý thuyết. Họ sẵn sàng tán thành các giải pháp được đề ra, miễn là những giải pháp đó có vẻ hợp luận lý….Tuy không hề nghe lệnh [người Nhật], họ cũng chẳng hề biết rõ thấu đáo tình hình chính trị và quân sự đang gây sóng gió chung quanh…. Họ chẳng biết tí gì về người Mỹ…. Theo tôi nhớ thì hình như các bộ trưởng chưa bao giờ nói gì đến chuyện ông Hồ Chí Minh hoặc Việt Minh…. Ngay cả đến người Nhật, mà tôi nghĩ là họ phải hiểu hơn cả, họ cũng chẳng biết rõ ý định của người Nhật. Dường như họ cũng chẳng lo lắng mấy về vấn đề người Nhật sắp sửa thất bại…. Theo tôi thấy thì có lẽ ông [ông chú tôi] không màng gì đến chuyện tranh chấp quyền lực trong tương lai. Ngược lại, ông đã nghe về Việt Minh và đang tự hỏi xem thật sự họ có phải là nhóm người lãnh đạo hữu hiệu nhất cho quốc gia vào những ngày khó khăn sắp tới hay không? Ông bảo tôi rằng hình như đảng Việt Minh đã được Hoa Kỳ ủng hộ. “Nếu đúng như vậy thật”, ông nói tiếp “thì ta vui lòng nhượng quyền cho họ”…Một tuần sau thì có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, ở Huế tình hình chẳng những đã cực kỳ sôi sục, mà còn rối ren mù mịt. Vì chưa sửa soạn kỹ lưỡng để nắm quyền, khi định mệnh xô ngã Nhật, chánh quyền của ông chú tôi hoàn toàn bỡ ngỡ, không biết phải hành động ra sao….Tuy thế sau khi cụ Kim đã quyết định [từ chức] thì tất cả những cảm giác vui buồn lẫn lộn đều hoàn toàn biến mất. Cụ đã nói với tôi rằng: ‘Giờ chú hoàn toàn vui mừng như xưa, sẽ có người khác phải gánh trách nhiệm. Thật là nhẹ nhàng vô cùng’”.
Do cái ngả rẽ sang con đường chính trị mà không thành công như niềm tin có thể ngây thơ và chí hướng tốt đẹp, sau khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, và nhất là sau năm 1954, cũng vì cái lý lịch chính trị đó, nên tương tự như trường hợp Phạm Quỳnh, ở miền Bắc người ta không nhắc gì đến ông nữa,cả về phương diệnhọc thuật. Cá nhân Trần Trọng Kim cùng với quyển Việt Nam sử lược nổi tiếng một thời đã bị một số nhà sử học mác-xít đầu đàn như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu... phê phán nặng nề bằng một số cụm từ như bù nhìn, phản dân tộc...., cho dù lịch sử đã sang trang, Nội các Trần Trọng Kim đã chết đi từ lâu và thực tế không còn có bất kỳ cơ hội nào ngóc đầu dậy được để gây lo lắng cho họ nữa! Các sách giáo khoa môn sử cũng theo đó mà đưa ra các nhận định, hoặc mạt sát nặng nề, hoặc chỉ nhắc lướt qua như một chi tiết phụ không đáng kể..., khiến cho học sinh và thậm chí một số trí thức tương đối trẻ ngày nay không còn biết Trần Trọng Kim là ai và nội các do ông lãnh đạo có vai trò lịch sử như thế nào nữa.
Riêng cuốn Việt Nam sử lược đã từng bị coi là sách cấm, khiến cả những giáo sư dạy sử trong trường đại học (như GS Trần Quốc Vượng…) cũng chỉ dám cất giấu đọc lén, bởi vì theo quan điểm chính thống, “những người làm công tác sử học Việt Nam đã bóc trần các quan điểm sử học thực dân phong kiến trong một số sách lịch sử do bọn bồi bút thực dân biên soạn, mà tiêu biểu là cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim” (xem Văn Tạo, “Khoa học lịch sử Việt Nam trong mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, Viện Sử học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1981, tr. 9). 
Khoảng hơn chục năm gần đây, qua lớp bụi thời gian, “tội lỗi” của Trần Trọng Kim đã dịu bớt, người ta bắt đầu biết đến rồi nhận ra giá trị, cho in đi in lại nhiều lần những Việt Nam sử lược, rồi Nho giáo, Phật giáo, Phật lục… , nhất là bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư do ông chủ trì nhóm biên soạn. Từ năm 2000, tức 47 năm sau khi Trần Trọng Kim qua đời, mới thấy mục từ TRẦN TRỌNG KIM bắt đầu xuất hiện trong cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm-Trương Hữu Quýnh chủ biên (NXB Giáo Dục). Năm 2004, khi bộ sách quy mô Từ điển Văn học bộ mới ra đời (NXB Thế Giới), mục từ TRẦN TRỌNG KIM lại được đưa vào một cách trân trọng hơn, do nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi trình bày, với gần đầy 3 trang giấy khổ lớn, bỏ hết mọi lời công kích.    
Trong số những nhà sử học trụ cột thế hệ tiếp sau Trần Huy Liệu-Trần Văn Giàu, mặc dù vẫn ở trong phái “chính thống” hay “dòng chính”, mọi người nhận thấy dường như chỉ có GS Đinh Xuân Lâm đi trước một bước với những quan niệm, nhận định cởi mở và chính xác hơn về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim, khi ông nói: “Chúng tôi cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật là chính xác vì thực tế nó ra đời là do bàn tay Nhật tạo dựng và theo ý định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nhìn e rằng chưa thật sự đúng, vì trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ý muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước” (Trường Thanh niên tiền tuyến Huế-1945: Một hiện tượng lịch sử, NXB Công An Nhân Dân, 2008).
Cho đến nay, biên khảo về Trần Trọng Kim nói chung và về Nội các Trần Trọng Kim nói riêng, theo sự hiểu biết của chúng tôi, có lẽ chưa có công trình nghiên cứu nào tập hợp đầy đủ tư liệu và viết có phương pháp, hệ thống bằng cuốn Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Phạm Hồng Tung (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009; tái bản năm 2010).
Cuốn sách nêu trên, dày 380 trang, đoạt Giải thưởng ĐHQG Hà Nội 2010, nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể hoàn cảnh, nguyên nhân ra đời, các chủ trương, chính sách và hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim, để đi tới cách đánh giá có phần tiến bộ hơn so với các thế hệ đi trước về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của nó. Tuy nhiên nếu đứng trên phương diện quan điểm đánh giá lịch sử mà xét thì dường như tác giả cũng chỉ dựa chủ yếu theo quan điểm “chính thống” để giải thích mọi hiện tượng lịch sử, theo hướng minh họa cho nổi bật thêm những nét thành công của Cách mạng tháng Tám và ít nhiều có thái độ ác cảm với nhân vật họ Trần (biểu hiện qua lời lẽ diễn đạt, thể cách xưng hô, gọi Trần Trọng Kim là “ông ta”…). Từ đó, Phạm Hồng Tung đã chỉ tổng hợp các cách đánh giá, chỉnh sửa đôi chút để đi đến những kết luận ít cực đoan hơn so với phái “chính thống” cũ, khi cho rằng: (1) Nội các Trần Trọng Kim vẫn là một chính quyền bù nhìn của người Nhật, nhưng đó chỉ là một chính quyền bù nhìn thụ động, không phải là chính quyền tay sai đắc lực của người Nhật; (2) Trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của nó, đối với việc phụng sự chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, Nội các Trần Trọng Kim đã có một số đóng góp quan trọng, đáng được ghi nhận; (3) Việc luận chứng đầy đủ về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Nội các Trần Trọng Kim và hệ thống chính quyền bù nhìn thân Nhật đã góp phần quan trọng để khẳng định rằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam là cuộc cách mạng thực sự mang tính chất dân tộc và tính chất dân chủ sâu sắc (xem Phạm Hồng Tung, tr. 343-367).
Với cách đánh giá của Phạm Hồng Tung, tuy có bị ảnh hưởng nhiều bởi những nguồn thông tin “ác cảm” từ tập hồi ký Phạm Khắc Hòe, Nội các Trần Trọng Kim đã được “giảm án” đi đôi chút. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích đánh giá, một vài nhận xét của tác giả chỉ dựa trên những suy luận gán ghép đơn thuần chứ không căn cứ vào lẽ công bằng và kinh nghiệm thực tế, như nói “Trong suốt hơn ba tháng cầm quyền, nội các này không hề biếm phạt nghiêm khắc một viên quan nào…”  để phê bình sự biện bạch của Trần Trọng Kim trong việc chỉnh đốn quan trường (tr. 210-211); hoặc “một chính phủ bù nhìn, bất lực trước những nhiệm vụ do tự nó đặt ra” (tr. 196)…, là những vấn đề mà chỉ trong vòng 4 tháng thì không một nhà chính trị thần thánh nào có thể làm khác nổi. Trong khi, chỉ cần chút lương tri và lẽ công bằng, chúng ta thừa thấy biết rằng ngay trong một số quốc gia Châu Á hiện tại, đã được “độc lập” hẳn hoi, thế mà người ta vẫn cứ luẩn quẩn mãi trong suốt vài chục năm cầm quyền vẫn chẳng thể chống được thành công nạn tham nhũng, thậm chí cũng không cách chức được một quan lớn nào!
Do mãi đến năm 1962 mới được thầy Trần Quốc Vượng lén chỉ và khuyên tìm đọc Việt Nam sử lược, thì xin lỗi, giống như “đại kinh tiểu quái”, Mai Khắc Ứng lấy làm kinh ngạc hào hứng khi khám phá được tác phẩm, từ đó hết sức trân trọng Trần Trọng Kim cùng tác phẩm sử học của ông, và mãi đến gần đây mới viết ra được một số ý kiến, tâm tư của mình trong bài “Trần Trọng Kim với Việt Nam sử lược”, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay (số 346, tháng 12.2009), mà sự ca ngợi không tiếc lời của tác giả đã bị ông An Chi phê bình khá gay gắt trong bài “Sự thật về Trần Trọng Kim và Việt Nam sử lược” (báo điện tử Nhà Văn TP. HCM ngày 22.10.2012), lấy lẽ rằng Trần Trọng Kim đã tìm mọi cách biện minh cho sự xâm lược của thực dân Pháp, với một số câu trích dẫn rõ ràng để làm bằng chứng phản bác.
Thật ra trong cuộc tranh luận này, mỗi người đã đứng trên một góc độ khác nhau. Về phần Mai Khắc Ứng, dường như tác giả chỉ muốn dựa trên Việt Nam sử lược để phát biểu quan điểm riêng của mình về việc viết sử, từ đó tập trung phê phán lối viết sử giáo điều thiếu tôn trọng sự thật, vì thế mà chưa đi sâu chi tiết trước khi đưa ra những nhận định này khác nên dễ bị người đọc coi là quá đà để bắt bẻ: “Theo chỉ bảo của thầy Vượng, tôi nghiền ngẫm cuốn sách này và mãi cho đến nay, mỗi lần cần viện đến chứng cứ lịch sử, tôi vẫn phải nhờ Trần Trọng Kim. Lời khuyên thật lòng đó với tôi hơn vạn bài giảng văn hoa cao xa dông dài. Viết như vậy mới đích thực là nhà sử học. Có nói có. Không nói không. Sai nói sai. Đúng nói đúng….Minh bạch, mạch lạc, rõ ràng trình ra trên từng dòng, từng trang sách… Quan điểm riêng của người viết là ở phần nhận xét đánh giá kết luận. Công bằng và khách quan đấy chứ. Điều đó khác với mọi cuốn sử, sách giáo khoa văn sử về sau. Đương nhiên tác giả cũng là một con người. Đã là con người thì mấy ai tránh khỏi lệ “nhân vô thập toàn”. Về lịch sử, ông viết hoàn toàn dựa trên cứ liệu lịch sử. Về quan điểm khen hay chê thuộc quyền riêng của mỗi người. Điều bất bình thường hiện nay là hễ ai không phụ hoạ mình là xấu, là sai, là thù. Cái lẽ nhất thời này không nằm trong phương pháp luận sử học…. Đã đến lúc phải nói với nhau rằng không phải hễ khác mình đều là kẻ thù. Trăm nẻo đường có thể đến cùng một đích. Xin hãy trọng nhau sự chung lòng đó”.
Để biện hộ cho tính chính đáng trong lựa chọn-hành động chính trị của Trần Trọng Kim, tác giả bài báo còn đưa thêm nhiều lý lẽ khác như: Trần Trọng Kim là một học giả không có thủ đoạn chính trị và tham vọng quyền lực, thực sự chưa hề chuẩn bị làm chính khách đứng ra thành lập Chính phủ. Nhân tình thế chủ quan, khách quan của đất nước nửa đầu năm 1945, ông nhận ra con đường thực thi phận sự công dân trước vận mệnh Tổ quốc…. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập đơn giản bao nhiêu thì cáo chung cũng nhẹ nhàng, thanh thản bấy nhiêu, không có ai trong hàng các bộ trưởng tỏ ra cay cú bực dọc phản ứng thù hận…. Nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thực sự thì ngay thời điểm đó và cả sau này nữa, tại sao nhiều người đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà?... Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ. Pháp lo sợ điều này và săn đuổi Trần Trọng Kim là lẽ đương nhiên…. Một điều không nói ra nhưng ai cũng biết là Pháp quay lại Việt Nam lần này với hai sứ mạng. Một là giành Đông Dương từ tay Nhật bại trận. Hai là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản. Chính phủ Trần Trọng Kim là trở lực của hai sứ mạng đó… Còn nếu cho rằng mọi sự bắt tay trong quan hệ bang giao là tay sai thì tội cho những người trước và sau Trần Trọng Kim lắm lắm….Có một chi tiết đáng được lưu ý là Trần Trọng Kim đã yêu cầu Nhật mở cửa các nhà tù của Pháp, ân xá toàn bộ chính trị phạm, kể cả người tù cộng sản….
Rồi đi đến kết luận dứt khoát:
 “Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chí ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỷ XX và Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ tri thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hoà”.
Hơn nửa năm sau, Phạm Hồng Tung đã viết bài “Nội các Trần Trọng Kim và Cách mạng tháng Tám” (Xưa & Nay, số 361, tháng 8.2010) để bác bỏ những lý lẽ cho là chưa vững của Mai Khắc Ứng. Tác giả còn nhắc lại một lập luận quan trọng từng nêu ra trong cuốn sách đã xuất bản trước đó, về tính chính đáng chính trị (political legimitation) của Nội các Trần Trọng Kim thân Nhật: khi Nhật (phe Trục) bại trận thì Nội các này cũng mất luôn tính chính đáng chính trị và cơ sở quốc tế để giao thiệp với Đồng minh.
Theo tôi, vấn đề ông Tung nêu lên thật ra không dễ phán xét, vì thực tế sau đó cho thấy, khi kết thúc Thế chiến II, Chính phủ Lâm thời của Việt Minh thay cho triều đình Huế giai đoạn đầu vẫn bị các nước Đồng minh (Anh, Mỹ, Nga, Tàu Tưởng) ghẻ lạnh và không công nhận vì mang màu sắc cộng sản. Cho nên cái gọi là tính chính đáng chính trị ở đây cũng còn một điểm tế nhị rất khó luận bàn. Giả định chính quyền không phải Việt Minh mà Bảo Đại thì tình hình còn có thể diễn biến theo một chiều hướng khác nào đó mà người ta chỉ có thể phỏng đoán thôi chứ không thể khẳng định chắc nịch, vì với mỗi giả định khác nhau sẽ có thể dẫn đến những kịch bản lịch sử khác nhau, với mỗi kịch bản, mô hình diễn tiến đều có cái giá cay đắng phải trả tùy theo những hướng lựa chọn có thể rất khác nhau, nhưng hướng nào ít phải hi sinh xương máu nhất thì được coi là có lợi nhiều hơn cho dân tộc. Chẳng hạn, Bảo Đại không thoái vị, không từ chối cho quân đội Nhật can thiệp giờ chót (theo đề nghị của Nhật, xem Trần Trọng Kim, sđd., tr. 93), đồng thời xuống chiếu “cần vương” kêu gọi toàn dân “phò vua cứu nước” thì Việt Minh rốt cuộc vẫn có thể thắng lợi nhưng chắc chắn ngoài cuộc chiến tranh Việt-Pháp còn phải đối phó gay go thêm với một cuộc nồi da xáo thịt nữa chưa biết kéo dài bao lâu trước khi đạt tới một nền độc lập thật sự…  
Trong công trình đã dẫn trên về Nội các Trần Trọng Kim, trước khi đưa ra kết luận đánh giá của riêng mình, tác giả Phạm Hồng Tung đã có công phu sưu tầm-ghi chép khá đầy đủ những tài liệu đánh giá của người khác, trước hết là tiếng nói của người trong cuộc (ý nói như của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh…), tiếp đến ý kiến của một số sử gia phương Tây và Nhật Bản, rồi đến cách đánh giá của sử gia Việt Nam, mà dưới đây chỉ xin trích dẫn lại 3 đoạn tiêu biểu phân biệt cho 3 loại đánh giá (xem Phạm Hồng Tung, sđd., tr. 300-342):
- Khi một người ngoại quốc là Stein Tonnesson hỏi ông Phan Anh (nguyên Bộ trưởng Nội các Trần Trong Kim) Chính phủ Trần Trọng Kim có phải là một chính phủ bù nhìn không, thì Phan Anh khẳng định: “Lấy tư cách là thành viên của Chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập”.
- Ý kiến của chính Stein Tonnesson (tác giả cuốn The Vietnamese Revolution of 1945, xuất bản năm 1991): “Nói chung, Chính phủ Trần Trọng Kim không thể bị coi là thân Nhật”.
- Ý kiến của Trần huy Liệu và Trần Văn Giàu. (1) Của Trần Huy Liệu: “Chính phủ bù nhìn gắn liền vận mạng của nó với phát xít Nhật, đặc biệt là phát xít Nhật trong lúc giẫy chết. Vì vậy nó ra đời cũng chỉ có chiều hướng đi xuống, chết yểu và sống nhục”.- (2) Của Trần Văn Giàu: “Nói tóm lại, Chính phủ Trần Trọng Kim dù là gồm những nhà trí thức tư sản nổi tiếng, vẫn là một chính phủ bù nhìn của Nhật. Nó biểu lộ không phải tính chất dân tộc và dân chủ mà biểu lộ tính chất phản dân tộc, phản dân chủ. Vẫn biết có một ít nhân vật trong đó có ý muốn làm cho nước nhà được giải phóng thực sự, nhưng không thể phủ nhận rằng sự tổ chức, sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim nhằm cản trở phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhằm tranh thủ quần chúng với Mặt trận Việt Minh; sở dĩ họ không đạt mục đích của họ, không phải vì họ thiếu ý thức giai cấp và thiếu hoạt động, mà trước hết vì thời gian không ủng hộ họ, vì tình hình quốc tế bất lợi cho họ, vì hoạt động giỏi của Đảng Cộng sản và Mặt trận Việt Minh không cho phép họ”.
Năm 1983, Phạm Khắc Hòe (1901-1995), từng giữ chức  Đổng lý Ngự tiền văn phòng thời Bảo Đại 1945 (sau đó theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp),  cho xuất bản tập hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, đã mô tả từng hành động, quyết định của Trần Trọng Kim như một kẻ vụng về, cơ hội, tham quyền cố vị, bất tài và bất lực với những lời lẽ biếm nhẽ, đôi khi còn rất nặng nề: “Bộ mặt Việt gian phản quốc của Trần Trọng Kim, ngày nay chúng tôi mới thấy thật rõ, nhưng đã được người Cộng sản vạch ra một năm trước khi Nội các Trần Trọng Kim ra đời” (tr. 47).
Ý ông Hòe muốn nhắc đến lời đánh giá còn gay gắt hơn nữa của lãnh tụ cách mạng Trường Chinh đăng trên báo Cờ giải phóng (18.4.1944) mà ông trích dẫn liền tiếp dưới đoạn văn trên: “Bọn Việt gian thân Nhật bảo: thì đồng bào ta cứ hi sinh cho Nhật miễn sao cho cuộc chiến tranh Đại Á của Nhật được toàn thắng thì nước ta sẽ được độc lập tự do. Xảo quyệt thay giọng lưỡi ấy. Có đời thuở nào hi sinh cho bọn đế quốc đang cướp nước mình lại được độc lập tự do bao giờ? Giá bọn Việt gian thân Nhật nói trắng ngay rằng đồng bào hãy chịu khó hi sinh tính mạng, tài sản để cho một nhóm Việt gian thân Nhật được mũ cao, áo dài thì đúng hơn” (tr. 47-48).        
Có lẽ vì chịu ảnh hưởng cách giá đánh của các vị tiền bối sử học-chính trị học cách mạng nêu trên, nên sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 (NXB Giáo Dục, ấn bản năm 2001) khi nhắc đến giai đoạn lịch sử trước Cách mạng Tháng 8 đã mạnh tay viết về Trần Trọng Kim với những lời lẽ không kém phần gay gắt, nếu không muốn nói còn có phần “lướt” hơn: “Bọn thân Nhật Trần Trọng Kim đứng ra lập Chính phủ mới, bù nhìn Bảo Đại được khoác danh hiệu “Quốc trưởng” (phải nói “Hoàng đế” mới đúng-TVC). Bọn thân Nhật muốn dựa vào quan thầy mới để hoạt động, làm ra vẻ “ái quốc, ái quần” (yêu nước, yêu dân); nhưng chúng nhanh chóng tỏ ra bất lực (…). Chúng trở thành những tên tay sai ngoan ngoãn để cho chủ mới là Nhật càng thêm dễ dàng lừa bịp và vơ vét, bóc lột nhân dân ta thậm tệ hơn (…). Vì vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của phát xít Nhật cũng như bộ mặt tay sai bỉ ổi của bọn bù nhìn thân Nhật đã bị bóc trần. Nhân dân ta ngày càng thêm căm thù Nhật và chán ghét bọn bù nhìn tay sai của chúng” (dẫn lại theo Phạm Hồng Tung, tr. 340-341).
Cũng Lịch sử lớp 12, nhưng ở ấn bản năm 2010 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 2), chỉ có một dòng ngắn ngủi về chính phủ Trần Trọng Kim: “Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Điều kiện khách quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa đã đến” (tr. 115)   
Đến ấn bản mới nhất, Lịch sử Lớp 12 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 5, tháng 3.2013), đoạn viết về Trần Trọng Kim chỉ giảm lại còn: “Chúng [Nhật] dựng lên Chính phủ Trần Trọng Kim và đưa Bảo Đại lên làm ‘Quốc trưởng’” (tr. 112).
Tôi có thói quen khi thấy có vấn đề gì liên quan lịch sử thì lấy sách giáo khoa xem trước để nắm chắc một số sự kiện căn bản hoặc ý niệm tổng quát, vì nghĩ rằng đã sách giáo khoa do Bộ Giáo dục-Đào tạo xuất bản thì tất phải chính xác, đàng hoàng hơn hẳn những loại sách biên khảo lịch sử của tác giả khác, do nó phải khách quan khoa học, lời lẽ lịch sự, đáng tin cậy, với lượng kiến thức cần thiết cung cấp cho học sinh được chắt lọc lại từ rất nhiều nguồn sử liệu khác nhau, trên cơ sở có sự đối chiếu thẩm định, nghiên cứu nghiêm túc. Nào ngờ, như 3 đoạn vừa dẫn trên cho thấy, tùy theo lần và năm xuất bản, sách Lịch sử lớp 12 lại lúc vầy lúc khác: có lúc mạt sát Trần Trọng Kim và Nội các của ông thậm tệ, với lời lẽ hằn học, lúc khác không công kích nữa (chỉ gọi Nhật là “chúng”) nhưng lại chỉ nói phớt qua một hai dòng. Sách biên soạn như vậy có lẽ không nghiêm túc? Sinh nghi, tôi giở thử đến chỗ viết về trận Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc cuộc chiến tranh Việt-Pháp 9 năm xem viết có nghiêm túc không, thì lại phát hiện ra điều bất bình thường là chẳng thấy có nhắc đến tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy chính của mặt trận lừng danh này mà cả thế giới đều biết. Giở thử sách Lịch sử lớp 9 ra kiểm tra lại, chỗ viết về trận Điện Biên Phủ, thấy cũng không có gì khác (xem Lịch sử lớp 9, NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 8, tháng 5.2013, tr. 123-124). Trong khi, chỉ mới vài tuần trước, khi tướng Giáp qua đời ngày 4.10.2013, cả nước làm quốc tang, báo chí tập trung ca ngợi công lao của vị lão tướng 103 tuổi, thậm chí có người còn viết bài lấy tiêu đề “Bác Đại tướng, một con người vĩ đại, một thánh nhân” để hết lời xưng tụng (xem tuần báo Văn Nghệ của Liên hiệp các hội Văn học-Nghệ thuật TP. HCM, số 276 ngày 17.10.2013). Liền sau đó nhiều địa phương còn đề nghị đặt tên đường, tên thành phố lấy tên ông, và đưa tên ông trở lại vào sách giáo khoa!
Vậy là có lúc tôi đã hiểu nhầm về độ tin cậy và tính nghiêm túc của sách giáo khoa, không dè nó đã được biên soạn một cách rất tùy tiện, thậm chí sai kiến thức (như chi tiết gọi Bảo Đại năm 1945 là “Quốc trưởng”), bèn tìm đọc qua nhiều loại tài liệu khác thì thấy, nếu trong hệ “chính thống”, bản thân nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim cũng như nội các của ông đều bị chỉ trích bằng những lời lẽ nặng nề. Như thế, chẳng khác nào dạy cho học sinh gọi ông Trần Trọng Kim bằng bọn này, bọn nọ…, trong khi người ta vẫn đang học hỏi, nghiên cứu rất nhiều từ những sách giá trị do ông biên soạn…
Trở lại câu chuyện, mặc dù đã có kết luận đánh giá trông có vẻ dung hòa tiến bộ hơn của Phạm Hồng Tung, vấn đề xem chừng vẫn chưa hết hồi phức tạp, vì vậy mà trong bài “Bàn thêm về Trần Trọng Kim” (Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, 26.11. 2009), GS Vũ Ngọc Khánh đã đặt vấn đề nên có một cuộc hội thảo khoa học về Trần Trọng Kim vì đã có nhiều ý kiến trao đổi, nhưng nhận định chung hình như chưa thật thoả đáng. Theo tác giả,từ những năm 1940 trở về trước, Trần Trọng Kim đã được dư luận đánh giá cao, nhưng từ 1945, ông bị vướng vào hoạt động chính trị để mang cái tiếng không hay. Sau cách mạng tháng 8 thành công, người ta không nhắc đến ông nữa. Cả về mặt học thuật, ông cũng bị đánh giá thấp. Trần Huy Liệu trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử đã phê phán cuốn Việt Nam sử lược, cho là nặng quan điểm thực dân. Rồi đến năm 2001, trên báo Tiền Phong (số 17), Bùi Thiết xem Trần Trọng Kim là người quay lưng lại với dân tộc. Gần đây nhất, cũng nói về Trần Trọng Kim trong “góc khuất” của lịch sử, Hà Vinh cho việc Trần Trọng Kim ra lập nội các là điều bất đắc dĩ, nên đã nằng nặc xin thôi, còn Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt, số 35, tháng 5.2010) thì đồng ý với Nguyễn Khắc Viện cho rằng Trần Trọng Kim đơn giản chỉ là tay sai của người Nhật v.v.
 “Tôi nghĩ rằng vấn đề có thể suy nghĩ và cân nhắc thêm (…). Nói sang chuyện hoạt động chính trị. Hình như đây là vấn đề được nhiều người quan tâm  hơn và sự nhận định nói chung là khe khắt hơn. Song những điều đắc thất của Trần Trọng Kim ở chặng cuối đời này nên được làm rõ”.
Đại khái theo GS Vũ Ngọc Khánh, về việc ra làm thủ tướng, trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, nếu  không phải Trần Trọng Kim thì phải có con người khác, nhưng lại phải do người của Nhật đưa ra (như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm đều được Nhật và Bảo Đại nhắc đến), nhưng cuối cùng họ chỉ dùng Trần Trọng Kim. Còn về việc liên hệ với Nhật Bản,cho đến nay vẫn chưa phát hiện được tài liệu gì, do ông và cả Nhật cố tình giữ kín nên không ai biết, chỉ thấy ông được Nhật đưa đi trốn rồi đưa về để đẩy ra làm thủ tướng.... Điều hiển nhiên ông đã là một con bài do Nhật chuẩn bị.
Nhận định về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Khánh cho rằng mặc dù dư luận vẫn gọi đây là chính phủ bù nhìn, nhưng nên hiểu cái danh hiệu này cho có mức độ. Nói bù nhìn là nói theo cách vạch trần chân tướng để hạ uy thế, có phần không thoả đáng với nhiều thành viên chính phủ đều là người tốt, có uy tín. Không rõ có ai kín đáo thi hành lệnh của Nhật không, chứ là tay sai thực thụ thì không rõ mặt (kể cả Trần Văn Chương sau này phục vụ chính quyền Ngô Đình Diệm).
Về việc làm và luận điệu của Chính phủ, ông Khánh viết: “…tất nhiên, khi ra đời cũng như khi tuyên bố nọ kia, chính phủ Trần Trọng Kim phải có những câu như: cảm tạ công ơn Nhật, v..v.. Tôi nghĩ đó chỉ là cách nói khách sáo …, không nên căn cứ vào những điều đó để đánh giá. Còn việc tha các tù phạm, nghe nói là những tù cộng sản không được tha [ý chỉ thả những tù nhân không cộng sản, Phạm Hồng Tung dẫn lại của Trần Văn Giàu từ sách gốc của Devillers xuất bản năm 1952, nhưng đoạn tha tù phạm, sau này Devillers đã điều chỉnh trong cuốn Paris-Saigon-Hanoi, sđd, tr. 106-TVC]…, nhưng lúc đó (tháng 5, 6.1945) tôi ở Vinh thì đây là chuyện có thực. Khi ông bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh này, nhiều đồng chí bị bắt giam đã được giải phóng. Các ông Nguyễn Duy Trinh, Lê Tính từ trong Nam về Vinh, có đến trọ ở nhà tôi. Nhiều đồng chí khác được “sổ lồng” vào dịp này. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, chính phủ Trần Trọng Kim có ra lệnh hoãn nợ để đỡ phần cho nông dân nghèo tại các xã (không biết việc thực thi có chu đáo không). Ngoài ra có một chương trình giáo dục mới (chương trình Hoàng Xuân Hãn). Có phong trào ngay lúc đó được gọi là Thanh niên Phan Anh, thực tế nhiều nơi đã thành tổ chức do Việt Minh lãnh đạo. Nếu là một chính phủ thân Nhật khác, dễ gì đã có được những hành động tạo điều kiện thuận lợi như vậy”.
Về cá nhân Trần Trọng Kim, tác giả có mấy ý kiến, xin tóm tắt lại như sau: (a) Ông là người có lòng yêu nước, vẫn giữ được tư cách người trí thức của dân tộc; (b) Ông bị lôi cuốn vào hoạt động chính trị, vì sự hiểu biết chính trị của ông không sâu sắc, nên bị người ta dùng làm con bài, mà vẫn tưởng là họ cho ra đóng góp với dân tộc; (c) Tư tưởng của ông là tư tưởng luân lý phong kiến, cho đến khi gặp bế tắc, ông vẫn cứ phải loay hoay với lý thuyết của Khổng Tử (qua câu cuối cùng của ông nói với Phạm Khắc Hoè về việc hành tàng), do đó bế tắc lại càng bế tắc.
Rồi bài viết đi đến kết thúc bằng một nhận xét có phần xác đáng: “Còn có một điều khiến chúng ta phải phàn nàn, mà khó lòng thông cảm với ông. Đó là vào khoảng cuối đời, ông đã tiếp tục gieo mình vào những biến cố không cần thiết, hoàn toàn bất lợi. Ông không chịu “tàng” như cách nói với Phạm Khắc Hoè mà lại cố “hành” khi đã thành vô dụng. Không rõ ông hiểu Bảo Đại thế nào mà còn đi sang Trung Quốc gặp lại Bảo Đại rồi quay lại Sài Gòn, được mời đóng vai trò chủ đạo cho cuộc vận động của Chính phủ do Bảo Đại làm quốc trưởng, mặc dầu ông không hoạt động được gì cũng không chỉ đạo ai. Ông vẫn bị lợi dụng mà không hay. Tôi nghĩ rằng khi ông được đẩy ra làm thủ tướng, rồi lại làm chủ tịch gì gì đó, thì ông hoàn toàn là một nạn nhân chứ không có vai trò chủ động gì nữa”.
Quả thật ở giai đoạn cuối đời, tuy luôn miệng than vắn thở dài, ngán ngẩm thời cuộc và chỉ muốn được an nhàn, nhưng thực tế Trần Trọng Kim vẫn có vẻ tất bật, chạy vạy vất vả, nhất là từ thời kỳ “tòng vong” theo Bảo Đại ở Hương Cảng cho đến lúc về Sài gòn dự Quốc dân đại hội năm 1953! Vì hoàn cảnh phải ra đi, vì bạn bè lôi kéo thúc đẩy (cái này cũng thường dễ mắc phải lắm), vì còn tham chút danh vọng, hay vì trong tâm khảm ông vẫn còn vương vấn bận rộn việc đời?
Thậm chí, ngay khi còn đương chức Nội các Tổng trưởng, đi đâu gặp bạn bè Trần Trọng Kim cũng tâm sự do mình chẳng đặng đừng phải đứng ra nhận thành lập Nội các, như có lần đã chia sẻ với nhà báo Lãng Nhân khi gặp nhau tại dinh Thống sứ cũ, trong chuyến ông đi công cán ở Hà Nội để thuyết phục Tổng tư lịnh Nhật cho lấy lại các thành phố đang nằm trong tay Nhật: “ ‘Ngô bất đắc dĩ’ mà! Chỉ khi vì gặp vua, thấy là người thông tuệ có thể hợp tác nên tôi nghĩ trong lúc rối ren, không đành từ chối, nhưng thật tình không biết có làm nên việc hay không” (sđd., tr. 86). Còn thật bụng ra sao, có lẽ chỉ mình ông hoặc vợ con ông mới biết.
Cũng có thể ban đầu ông “bất đắc dĩ” thật, hoặc muốn thử tài kinh bang tế thế theo lý tưởng nhà nho mà không cuồng vọng, nhưng phàm tâm lý con người, đã ở trong chức vụ cao được tiền hô hậu ủng quen rồi thì khi mất đi cũng tiếc. Chỉ có khác ít nhiều là với tư tưởng-phong cách sống nhà nho, lại mộ đạo Phật, ông chắc chắn có phần thanh thản hơn nhiều so với những người khác có hoàn cảnh tương tự. Ông thông kim bác cổ, nhưng rất tiếc lại không thấu hiểu cái lẽ thông thường rằng từ cổ chí kim chưa hề thấy có một thư sinh học giả thứ thiệt nào mà cầm quyền lâu dài được, đơn giản chỉ vì họ không thể thi triển những thủ đoạn chính trị lắm lúc buộc phải lưu manh gian ác!
Dù sao chăng nữa, về mặt nhân cách đạo đức, chưa phát hiện có chuyện gì bê bối trong đời tư của ông. Trước sau ông cũng chỉ là một hạng nho Tây thanh bạch, cuộc sống suốt đời chỉ từ đủ ăn cho đến thiếu thốn, và phần nhiều thời gian phải ở đậu ở nhờ nhà cửa của bạn bè, thân thuộc. Cả Trần Trọng Kim lẫn các thành viên trong nội các của ông không có người học kém, đặc biệt chưa bị mang tiếng gì về chuyện tham ô móc ngoặc, tự tư tự lợi (cũng có thể là vì chưa tới lúc bị tha hóa quyền lực?). Tất cả họ đều là một đám thư sinh trói gà không chặt, chỉ có tấm lòng mà thiếu mưu mẹo chính trị, nên không thể đảm đương việc nước trong khúc quanh lịch sử đoạn trường này của dân tộc.   
Nói đến Trần Trọng Kim rồi thì cũng không thể không nhắc đến Bảo Đại (1913-1997), vì sau khi Nội các thành lập, Bảo Đại là người đứng sau lưng xem xét quyết định mọi việc, ban bố tất cả các mệnh lệnh. Ông vua trẻ cuối cùng triều Nguyễn này từ lâu vẫn bị hiểu là một người không có ý chí hoài bão, chỉ ham vui, thích săn bắn, cờ bạc và gần gũi đàn bà…. Khi quân đội Nhật đảo chánh Pháp ngày 9.3.1945 thì buổi chiều tối hôm đó ông còn đang trên đường đi săn từ Quảng Trị về tới, Nhật phải cung kính tạm giữ một lát để bảo vệ “long thể” rồi đưa về Đại nội.
Tuy nhiên, khi nghe Nhật trao trả độc lập, ông trở nên hào hứng với công việc, bớt đi chơi, làm cho hoàng thân và nhiều người bên ngoài có vẻ kinh ngạc, sau đó đã ra được liên tiếp hàng loạt chiếu, dụ… đọc lên nghe rất cảm động. Khi Cách mạng tháng 8 sắp thành công, ông nhanh chóng thức thời vụ đồng ý thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy (tên thật của ông), rồi nhận giữ chức cố vấn tối cao cho Chính phủ Lâm thời do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Giai đoạn đầu mới mẻ, đi đâu cụ Hồ cũng để ông theo bên cạnh nhằm tiện việc tiếp xúc vận động quần chúng và cho những giao dịch thương lượng khác với người Pháp, vì lúc đó, sau cả ngàn năm sống dưới chế độ vua quan phong kiến, người dân vẫn còn “tôn quân” ở mức độ nhất định và nhất là chưa biết rõ Hồ Chí Minh là ai, cũng như chưa quen nhiều với chế độ mới.
Từ tháng 3.1946, với tư cách cố vấn tối cao, Bảo Đại được cử sang Trùng Khánh thực hiện chính sách giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi qua Pháp, không về nước. Từ đó trở đi, ông đã có những hoạt động bắt tay trở lại với người Pháp trong âm mưu “bảo hoàng” chống lại chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng kết quả chẳng đi đến đâu.   
Dựa theo mấy bức thư mới được phát hiện gần đây do một số người thân gởi cho Bảo Đại, chúng ta có thể biết ông không hẳn là con người “chỉ chú tâm đến du hí”, mà ít nhất ở giai đoạn từ tháng 9.1946 đến tháng 3.1949, cựu hoàng Bảo Đại không tỏ ra nông cạn, nhu nhược, trái lại thích quyền lực, và bắt đầu chứng tỏ dáng dấp của một chính khách tự nhận là “Hoàng đế Quốc trưởng” (xem Phạm Hy Tùng, “Vài tư liệu mới về cựu hoàng Bảo Đại thời kỳ ở Hồng Kông (1946-1947)”, Tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển, số 6 (83).2010)).
Năm 1949, ông được Pháp đưa về Việt Nam làm Quốc trưởng nhưng chỉ hư vị.
Tâm trạng thầm kín của cựu hoàng Bảo Đại thật ra còn có những biểu hiện bộc lộ thêm sau khi đã trở về Việt Nam với tư cách Quốc trưởng. Theo lời kể của Bùi Nhung, một người có nhiều dịp gần gũi:  “Ông Bảo  Đại có lúc như phát khùng… Nếu đem những việc khùng ấy phối hợp với những lời than thở của ông cùng những người ông chắc chắn là thân tín, như bác sĩ Phan Huy Đán và cụ Trần Trọng Kim thì chúng ta có thể đặt một nghi vấn: Phải chăng ông Bảo Đại bầy ra cảnh sa đọa để đánh lạc hướng bọn thực dân và tay sai thực dân ở quanh mình?... Lịch sử sau này chắc chắn sẽ giải được nghi vấn mà tôi vừa nêu ở trên” (sđd., tr. 160).   
Tháng 10.1955, Bảo Đại bị Mỹ truất phế, đưa Ngô Đình Diệm (1901-1963) lên thay. Từ đó ông sống lưu vong thầm lặng ở Pháp rồi mất tại đây năm 1997.
Cuối đời, Bảo Đại có để lại tập hồi ký chính trị giai đoạn 1913-1987 bằng tiếng Pháp, được dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề Con rồng Việt Nam, do những người thân trong hoàng tộc Nguyễn triều đưa ra xuất bản năm 1990 tại Mỹ. Tập sách nếu được thẩm định kỹ, lọc bỏ những chi tiết chưa sát sự thật, có thể cung cấp thêm nhiều sử liệu mới lạ, qua đó cũng cho thấy ông không phải là một nhân vật quá ngu ngơ tầm thường và thiếu ý chí hoài bão như một số người có thể tưởng.
Dù sao, trước giai đoạn 1945, ông thường bị mang tiếng có thói ham chơi liều mạng và ít nhiều vô trách nhiệm với đại cuộc đất nước, nếu quả thật vậy, thì chính mấy cái đặc tính tiêu cực này lại có khía cạnh khả ái, đi kèm theo một số mặt tích cực: người như vậy thường dễ dãi (bởi tự biết khuyết điểm của mình), ít tham vọng chính trị và ham hố quyền lực, nên luôn yêu chuộng cuộc sống hòa bình cho mình và cho người khác, không muốn sinh linh bị tàn sát vì những mưu đồ quyền lực. Nếu cố bám lấy ngôi vị bất cứ giá nào, Bảo Đại không chịu thoái vị trước cao trào cách mạng đang lên thì Việt Minh tuy trước sau vẫn có thể giành được chính quyền nhưng chắc chắn không dễ dàng và êm đẹp như thực tế đã xảy ra trong Cách mạng tháng Tám… Cái nhún vai nhẹ của ông khi quyết định thoái vị, cũng như câu nói gọn hơ “Như thế thì thật đáng thoái vị” (Phạm khắc Hòe, sđd. tr. 69), khi vừa được nghe biết Hồ Chí Minh (1890-1969) chính là Nguyễn Ái Quốc, có thể chứng tỏ Bảo Đại đôi khi coi ngôi báu chỉ đáng là một mảng phù vân.
Cũng như Nội các Trần Trọng Kim, Bảo Đại bị mang tiếng là một ông vua bù nhìn, theo nghĩa vô dụng chẳng làm được gì. Nhưng Nội các Trần Trọng Kim dưới quyền Bảo Đại trên thực tế đã bắt tay thực hiện thần tốc hàng loạt công việc, mà riêng về mặt tốc độ tiến triển, có thể gọi là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử, với một chính quyền chỉ tồn tại thực tế khoảng 4 tháng.
Đến như việc Nội các dưới quyền ông can thiệp với Nhật để thả cả tù nhân cộng sản, thì tinh thần đoàn kết hòa giải hòa hợp dân tộc đã được thực hiện đúng lời hứa, và đến thế là cùng!
Về phong cách làm việc, Bảo Đại ít khi can dự sâu vào công việc của Nội các, phần vì biết tin tưởng người dưới, phần khác cũng không muốn can thiệp nhiều chi cho mệt. Ông chỉ đứng sau lưng ủng hộ, mỗi việc quan trọng đều chỉ bàn thảo nhau rất nhanh trong vài giờ rồi đưa ra quyết định thi hành, thông qua sự chuẩn y cũng chỉ trong vài phút, điều mà ngày nay, nếu so sánh, chúng ta sẽ thấy vô cùng khác biệt, vì có những việc người ta bàn bạc tập thể mãi đến 20-30 năm cũng chẳng đi đến đâu, như việc cải cách tiền lương hay sửa đổi những sai lầm trong công tác giáo dục, y tế chẳng hạn! Đặc biệt, với chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn, hoàn tất chỉ trong vòng một tháng (so với chương trình giáo dục ngày nay gần 40 năm rồi vẫn chưa hoàn tất!), nhất định nó phải được tiến hành một cách nhanh gọn nhờ vào trình độ học vấn vững chắc cộng với nhiệt tâm và lòng yêu nước thiết tha của một tập thể trí thức chân chính tự nhận lấy trách nhiệm rất cao đối với tiền đồ dân tộc…
  * * *


Đến đây, tôi đã cố gắng trình bày tương đối đầy đủ về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim cùng Nội các của ông, bằng việc chắp vá, tổng hợp lại từ một số tài liệu chủ yếu bao gồm những tập hồi ký có được trong tay mà các tác giả đều là chứng nhân của thời cuộc, với một phần dè dặt thận trọng về tính chủ quan cũng như về độ chính xác của thể loại hồi ký. Những tài liệu này kể ra cũng chẳng quý hiếm gì. Nó chỉ hơi khó kiếm đối với một số bạn trẻ, vì có thời gian, từ nhiều lý do ngoắt ngoéo của lịch sử, chúng đã ít được phổ biến hoặc được nhắc tới, nhất là đối với khu vực phía Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám. Đó là một trong những lý do khiến tôi nảy ra ý định trình bày lại các sự kiện lịch sử liên quan một cách tản mạn, trong khi chưa đủ khả năng trình độ viết thành một chuyên luận có hệ thống, nhằm mục đích để các bạn trẻ ngày nay được biết thêm về một khúc quanh lịch sử đặc thù đầy đau thương buồn bã của dân tộc, điều mà họ không thể tìm đọc được trong các sách giáo khoa hiện tại.
Bài viết có thể cũng chẳng đưa ra thêm được nhiều điều gì mới mẻ liên quan nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim, tuy có cố gắng dùng thêm một số tư liệu còn ít được người biết tới. Trong lúc trình bày, đôi khi tôi cũng có lạm dụng trích dẫn hơi nhiều từ một số tập hồi ký hoặc loại tài liệu khác, nên mong những tác giả hữu quan thông cảm, vì dường như đó cũng là cách tốt nhất cho phép tái hiện diễn biến lịch sử một cách sinh động và bớt tẻ nhạt, nhờ ghi lại được lời nói của chính các nhân chứng lịch sử. Riêng phần đánh giá nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim, khá phức tạp, tôi đã cố gắng kiềm chế sở kiến riêng của mình ở mức hợp lý, và chỉ nhận cái nhiệm vụ chủ yếu ghi chép lại ý kiến của nhiều người khác để rộng đường tham khảo.
Nhắc lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý định đề cao ai hoặc phê phán ai, chỉ cốt tuần tự trình bày các sự kiện thu thập được qua tài liệu sách vở. Song vì điều tôi quan tâm hơn cả là muốn qua những câu chuyện quá khứ, chúng ta ngày nay có thể suy nghiệm được những bài học lịch sử hữu ích gì để áp dụng cho hiện tại và tương lai, nên trong khi “tản mạn”, tôi cũng có tùy hứng thỉnh thoảng đưa vào một vài nhận định riêng có tính chủ quan của người viết, chỉ nhằm gợi ý tham khảo, chứ không có ý muốn người khác phải đồng tình hết với mình.
Tôi cũng muốn nhân câu chuyện Trần Trọng Kim mà trình bày một số vấn đề liên quan khoa học lịch sử và việc giảng dạy môn học này trong các trường học hiện tại. Theo quan niệm đơn giản của tôi, về môn lịch sử, trước nhất phải tôn trọng sự thật chứ không nên vo tròn bóp méo vì bất cứ lý do gì, và phải được biên soạn theo đúng phương pháp chuyên ngành, rồi trình bày nó ra bằng một thứ ngôn ngữ khoa học vừa lịch sự, nhã nhặn vừa chuẩn xác và có tính trung hòa. Trong các công trình sử học cũng như trong sách giáo khoa về môn lịch sử, nhất định phải không chứa sự sân hận đối với những gì đã xảy ra trong quá khứ.
Trước đây, nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cực đoan thiếu khách quan trong khi trình bày lịch sử cũng như phê phán các nhân vật lịch sử,  trong đó có nguyên tắc bất di bất dịch về tính Đảng, tính khoa học, vốn một thời được coi là “vấn đề trung tâm của phương pháp luận sử học mác-xít” (xem Phạm Xuân Nam, “Về những vấn đề phương pháp luận trong công tác sử học của chúng ta mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, sđd., tr. 246), mà hai năm trước Viện Sử học cùng Hội Sử học đã kịp nghĩ lại khi họ đề xuất kế hoạch sẽ tổ chức biên soạn một bộ thông sử Việt Nam mới với nội dung vượt qua được những giới hạn ràng buộc của vấn đề ý thức hệ. Cách triển khai hay là nghệ thuật chủ yếu của cái phương pháp luận sử học cũ kỹ vừa nói trên là “tự viên kỳ thuyết”, tức trong khi giải thích các sự kiện-hiện tượng lịch sử, tìm mọi cách vo tròn bóp méo sao cho phù hợp với hệ quy chiếu lý luận đã định sẵn một cách xơ cứng, kết quả là cho ra những bài viết hoặc công trình nghiên cứu của những tác giả khác nhau nhưng đều có luận điệu, cách diễn đạt và thậm chí cả câu chữ cũng gần gần giống nhau. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng khiến cho môn học Lịch sử trở nên nhàm chán đối với học sinh các cấp suốt mấy chục năm nay, mà nếu không giải quyết từ căn bản, sẽ chẳng bao giờ tìm thấy lối ra, cho dù có tổ chức thêm hàng trăm cuộc hội thảo cũng vậy!
Xem bài “Về những vấn đề phương pháp luận…” của Phạm Xuân Nam trong cuốn Sử học Việt Nam trên đường phát triển, thấy tác giả có nêu mấy vấn đề “cần tiếp tục soi sáng” thêm, như “Mối quan hệ giữa nghiên cứu và trình bày lịch sử”, “Ngôn ngữ sử học”… (sđd., tr. 268). Hiện tôi chưa tìm được tài liệu nào của nhà sử học Việt Nam viết về ngôn ngữ sử học nên mãi đến nay vẫn còn chưa hiểu sâu về phong cách của ngôn ngữ sử học. Nhưng dù nó có phải là thứ ngôn ngữ khoa học đòi hỏi tính chuẩn xác và tính trung lập hay không, tôi vẫn dám chắc đó tuyệt đối không phải là thứ ngôn ngữ văn chương mạt sát kiểu “đào mồ cuốc mả” kẻ thù, hoặc giống những bài hịch văn kêu gọi quần chúng nổi loạn, mỗi khi cần đề cập những nhân vật lịch sử quen gọi “phản diện”, hoặc sự kiện lịch sử đã đi hẳn vào quá khứ!
Đối với kẻ thù đã ngã ngựa, khi viết sử, không nên dùng những lời lẽ hằn học khó chịu, hoặc mang tính chiến đấu quá cao, vì việc đánh giết nhau chỉ bất đắc dĩ và xét cho cùng, nếu đứng trên lập trường nhân bản, cũng chẳng hay ho ích lợi gì. Vì vậy, tôi rất thích lối nói công tâm nhũn nhặn của nhà sử học Pháp Philippe Devillers chuyên khảo cứu về lịch sử Việt Nam giai đoạn chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954 mà ông thuộc “bên thua cuộc”: “Băn khoăn giữa một bên là ý thức tôn trọng sự thật và một bên là những tình cảm yêu nước thúc đẩy mình phải đồng tâm với đồng bào [Pháp], một nhà sử học Pháp làm sao có thể phân tích được một cách khách quan và sâu sắc một cuộc chiến tranh đã đối lập, từ 1945 đến 1954, hai đất nước mà với mình đều rất thân yêu, là nước Pháp và nước Việt Nam, nhất là khi ông ta [tức tác giả Devillers] biết rằng nếu chia phần lầm lỗi ra hai bên thì phần lớn lầm lỗi lại thuộc về phía chính đồng bào [Pháp] mình” (“Lời tựa”, sđd., tr. 5).     
Đối với bên “chính diện”, hay “bên thắng cuộc”, nếu đã chấp nhận nguyên tắc ngôn ngữ sử học là loại ngôn ngữ khoa học trung tính/ trung lập thì thiết tưởng cũng không nên tự ca ngợi mình quá đáng. Câu chữ diễn đạt càng phải chính xác, trung tính, chẳng hạn, thậm chí danh xưng “Bác” để gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các sách giáo khoa lịch sử tiểu học lâu nay cũng sẽ không còn phù hợp. 
Đã có thời gian khá dài, khi khảo cứu văn-sử, người ta đã mạnh miệng gọi vua Gia Long là “y”, là “hắn”…, thì chưa cần biết vua là người thế nào, cái lối trình bày lịch sử đưa vào sách vở như vậy chẳng khác nào vô tình giáo dục cho con người lòng thù hận, và thói trịch thượng đối với tiền nhân, hoàn toàn không phù hợp với đức tính chung nho nhã, lễ phép, khiêm cung của dân tộc Việt Nam, và cũng chắc chắn không có lợi cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
25.11.2013 - 3.1.2014
TVC.
* Tài liệu này đã được hai anh Nguyễn Bá Dũng và Nguyễn Văn Tiến (Huế) cung cấp, nhân đây chúng tôi xin ghi nhận thiện ý của hai anh. Ngoài ra, chúng tôi cũng xin gởi lời cám ơn đến một số bạn đã giúp nhiều tài liệu quý hiếm khác trong quá trình hoàn thành bản thảo, gồm các anh: Bùi Thanh Hải, Phạm Minh Đăng, Trần Nhật Vy, Trần Văn Duy, Nguyễn Đức Thành, Thích Không Hạnh…
vanhoanghean    

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »