NÓI CHUYỆN
Con người sinh ra có bảy tính: mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn; chứa ở trong đủ bảy tính như thế, tất phát sinh ra ngoài, cũng đủ bảy tính như vậy. Cho nên hàng ngày mở miệng nói, là toàn diễn giải, đạo đạt cái tâm tính để cho thính quan biết, khi thì nói chuyện mình, khi thì nói chuyện người.
Sách Nho thích chữ: “ngôn” giả, “tuyên” giả, là tuyên cái ý mình ra nơi lời nói; “ngữ” giả, “tự” dã, là giải cái sự gì của mình muốn và sự của người ta muốn. “Thuật” giả là thuật cái lời phải trái trước sau lại. Sách Châu Dịch nói: Viết không hết lời, nói không hết ý.
Lại những khi quá giận thì hay nói càn, quá mừng thì nói không thực, bởi vậy người quân tử thường hay gìn giữ lời nói, một lời nói ra có ảnh hưởng đến xã hội, một lời nói ra làm cho bại hoại phong tục. Lời nói như vàng ngọc, lời nói như gươm đao, lời nói như đàn nhịp, lời nói như chông gai, lời nói như sóng gió, lời nói như mật rót vào tai. Nói có đạo vị, nói có nghĩa lý, nói có xảo quyệt, nói có ác độc, nói dài thành chuyện, chuyện ra lời nói ấy gọi là nói chuyện.
Người nói chuyện hay, người ta khen rằng suông như dòng nước suối chảy. Vậy thì cách nói chuyện cũng lý thú lắm thay! Những khi công việc rảnh rang có chút nhàn rỗi, mà cùng nhau năm bảy chị em, đôi ba chúng bạn, trà lan cạn chén, rượu cúc hương nồng, nhắc chuyện đời trước, kể chuyện đời nay, bình phẩm nghiên cứu, còn gì vui bằng! Song, phải biết trong cách nói chuyện có nhiều lẽ, có điều lợi ích mà cũng có điều thiệt hại, như nói nhảm nhí, nói tào lao, nói xuyên hoa , đem chuyện người này nói với người nọ, vào tai ra miệng, chuyện ít xít thêm cho nhiều mà phỉ báng người ta để cho rõ cái tài khôn khéo của mình, không ngờ mình nói đó là mình đã dở hơi với bạn rồi, vì bao nhiêu cái điều kín đáo của bạn bày tỏ cho mình biết hoặc giả bạn muốn nhờ mình phân biện sự lợi hại, chớ có phải đem ra ban bố cho mọi người hay sao. Cách ngôn Tây có câu: “Việc kín người ta là của gửi, mình không đặng tự do đem ra mà dùng hàng ngày”. Người mình thường mất cái giao tình đạo bằng hữu, là do bởi sơ suất khi nói chuyện với nhau. Lại lắm người nói chuyện hay đem hết công việc ở nhà, chồng ở làm sao, bà gia ở làm sao, nhất nhất nói cho thiên hạ nghe hết, nghĩ như thế thực không phải cách nói chuyện. Phỏng có chỗ người ta sửa sang lại cho mình đặng, nhưng cũng không khỏi lời hậu ngôn chê bai người trong nhà mình, vì có hay có giỏi cũng là người ngoài, chưa chắc ai đổ hết ruột gan mà bổ cứu nổi những chỗ khuyết điểm của mình; việc mình thì mình phải gắng sức mà chữa lấy, chớ nói chuyện là bàn bạc chỗ hơn thiệt đó mà thôi, sao đã cả gan vội tin cậy người đời như thế? Nói chuyện cho có lợi ích như là giảng đạo luân lý, phẩm bình văn chương, bàn cách buôn bán, làm sao là lợi, làm sao là hại, điều gì là dở, điều gì là hay để có chỗ mình nên bắt chước, có chỗ mình biết mà ngăn ngừa. Có nói mới vỡ lẽ, có nghe mới vỡ trí. Cổ nhân có câu: “Văn quân nhất tịch thoại thắng độc thập niên thư”, là nghe người nói chuyện một bữa bằng đọc sách mười năm. Lại có câu: “Thoại bất đấu cơ bán phúc đa”, là nói chuyện không nhầm người nghe nửa câu cũng đã là nhiều, cho nên nói chuyện cũng quan hệ lắm thay, mà nghe chuyện cũng vậy. Phàm khi nghe lời người ta nói phải suy xét cho tường tận đã, chớ có vội tin liền, mà cũng không nên không tin, vì những lời nói khéo thì êm ái dễ nghe, lời nói thẳng thì thì trái tai khó chịu. Nghe lời thẳng mà không giận mới răn mình đặng, chớ thấy người ta khen mình mà làm chắc mình không có lỗi. Ấy đạo xử thế chuộng sự hồn hậu làm đầu, dù biết mọi người ăn ở đối đãi với nhau ai ai cũng có một quyển tâm sử hết thảy. Nếu mình mà có quyển tâm sử cho vững vàng, lời nói ba lan đến đâu cũng không sợ cái tâm sử của kẻ khác lừa dối mình. Sự phải bị bắt buộc, sự phải chịu khiêm chế là bởi tự mình có cái dục niệm. Người ta mới dùng lời lay động cái lòng mình phải xiêu lạc theo, song có những câu khích làm cho chọc ruột gan người ta phải đau đớn, phải bùi ngùi, mà phấn khởi cái lòng ham muốn đó là lời cổ động. Lại có những lời chẳng có đầu đuôi, chẳng có manh mối, vung vinh không thành chuyện gì là lời vô vị. Thế mà khi nói chuyện với nhau, vô vị cũng bấm bụng mà nghe, hữu vị thấm ngầm mà xét, dường ấy mới không mất lòng về cách nghe nói chuyện.
Còn cách nói chuyện thiết tưởng phàm việc gì có cần kíp đến thì nên nói ngay là hay hơn hết. Cứ như thói người mình muốn nói một việc gì khi đến không chịu nói, phải bủa trước năm ba câu chuyện, giương đông kích tây rồi mới đến cái việc mình muốn nói tới, thật là phiền phức làm mất thì giờ cả hai bên.
Nhàn thoại mà chơi với nhau nên hỏi thăm trước bạn có thong thả không hãy nói. Chớ đừng nên bất cận nhân tình, công việc của người ta đang búi đầu, búi óc, đem điều không nhập nhĩ nhập nhãn vào đâu quấy nhiễu cái thì giờ hữu dụng của người ta.
Tóm lại thì cách nói chuyện nên ba phần hay năm phần là đã nhiều, người nghe cũng vừa, dù hay cũng hóa thừa ra, huống hồ là dở nữa, vì lời nói có những quan hệ với tư tưởng không phải như nước chảy xuôi mà không để dấu vết gì lại đâu. Nếu lời nói mà đã như nước chảy xuôi, người nói cũng vô duyên mà người nghe cũng vô ích.
Trung Bắc tân văn
Số ra ngày 2-1-1924; Mục Lời đàn bà
BÀN VỀ CÁI SỢ. TẠI LÀM SAO MÀ KHÔNG SỢ?
Bà Lệ Xuyên phu nhân có câu: “Không có cái gì vô ích và vô lý bằng cái sợ”. Vì nói đến cái sợ là đủ làm cho người đời mất hết sự can đảm, sự tri thức, sự quả quyết, ví như làm ruộng sợ mất mùa, đi buôn sợ lỗ vốn, làm thợ sợ nghề ế, làm học trò thì sợ đông quá người dùng không hết, ấy là cái sợ nó làm ngăn trở con người, hoạt động của người đời biết là bao, mà khi chi chỉ ngăn trở về đường vật chất đã thế, về đường tinh thần tưởng ra mà sợ, đặt bày ra mà sợ. Cho nên kinh Phật nói rằng: “Đừng nên để lòng vào chỗ sợ hãi lắm mới xa lìa trong trường chiêm bao tráo trác”. Thành Phật thành Tiên cũng trọng cái tâm quả cảm hết thảy. Nếu lấy cái lý thuyết: lòng người ta cần phải có sợ mới có chí tiến thủ, có sợ thua kém người ta thì mới nảy nở được nhiều sự lợi ích, có sợ pháp luật thì mới tu tỉnh cái lòng gian tà. Nói như thế, sợ phải, phải nên sợ. Như lấy triết lý mà giải thì cái chí khí của con người ta nên nuôi bằng một cái chất trong sạch hết sức là của tạo hóa chúc thác , cho người có cái lương tâm, cái lương tâm bắt buộc phải làm, làm mới hết bổn phận. Nếu sợ mà phải làm là điều gắng gượng, có sợ thì có khi không sợ, sợ thì làm chớ không sợ thì sao? Sợ mà phải làm trung thành, tất không khỏi có khi gian nịnh; sợ mà phải làm mạnh dạn tất không khỏi có khi nhút nhát; sợ mà phải làm ra bộ hiền lành tất cũng có khi lộ màu độc ác.
Nói tóm lại, sợ mà phải làm chắc không hết bổn phận, không bằng tự biết bổn phận mới làm hết bổn phận đặng. Ôi lòng người ta là cái gốc của muôn việc, trước chính đặng lòng, sau muôn việc được sửa trị: con thảo cha, tôi ngay vua, vợ thuận chồng, em kính anh, bạn tin nhau, đó là điều nghĩa vụ, bổn phận phải làm chớ có phải tại sợ đâu. Cổ lai trung thần, hiếu tử, nghĩa phu, tiết phụ, bao giờ có ai nói vì sợ mà phải làm cho ra trung thần, hiếu tử, nghĩa phu, tiết phụ không? Nếu thế thì đã không thành trung thần, hiếu tử, nghĩa phu, tiết phụ rồi. Tuy thế, không nên bắt buộc người ta sợ, duy dạy làm sao cho người ta biết cái nghĩa vụ của con người đời phải làm cho hết bổn phận mới là xứng đáng. Tôi còn nhớ thuở nhỏ có một ngày đương đứng hầu bên Tiên công vừa có người đến bẩm việc, người đó run sợ nói năng thất thố, ngài bèn ung dung mà phủ dụ rằng: Ta cũng là người chớ có phải cọp hùm gì mà phải sợ, chỉ nên làm việc cho hết bổn phận thì không phải sợ ai. Sợ là sợ không làm hết bổn phận mới nên sợ.
Nay có người miệng vẫn nói sợ pháp luật, sợ mất danh dự, sợ chúng bạn mỉa mai, sợ thiên hạ chê cười mà hành động hàng ngày mỗi sự mỗi trái ngược, như thế chỉ là sợ đầu môi miệng, lợi ích gì cho công việc đâu.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 3-1-1924; Mục Lời đàn bà
XÃ HỘI GIÁO DỤC
Bấy lâu vẫn có nhiều bài bàn về gia đình giáo dục và học đường giáo dục, chẳng thiếu gì ý kiến mới, tư tưởng hay bổ cứu cho nền giáo dục nước nhà. Càng bàn càng thấy thêm vỡ lẽ. Đây tôi lại xin tóm tắt đôi lời nói về sự xã hội giáo dục.
Ôi! Bàn về sự giáo dục xã hội tưởng cũng huyễn vọng lắm chứ; thế mà không, thực là quan hệ mật thiết. Ta thử xem xét mà coi có phải người ta sinh ra ở đời cũng ví như cái cây sinh trên mặt đất này, tuy nhờ công người bón nắn mà cũng nhờ có khí hậu điều hòa thì mới đâm bông kết nụ đặng. Giống tốt, phân tro tốt mà khí hậu không tốt thì cũng cằn cỗi khó cầu cho sởn sơ suông sắn đặng. Cái đó thật là tự nhiên chi lý. Đứa trẻ con kia khi lớn lên, trước mang ơn của gia đình giáo dục, mà khi thành lập thế nào cũng mang công của xã hội. Xã hội có cái phong hóa tốt thì người phải nhiễm cái thói tốt ấy, lại ví như người có làm điều gì hay thì có ảnh hưởng đến xã hội, vậy thì xã hội hay hay là dở há không ảnh hưởng đến cá nhân ru? Huống hồ cái thói đời run rủi người ta là mạnh lắm và chóng lắm như làn sóng gió tràn đến đâu chỗ ấy lại láng ngập cả. Mới đây như cái phong trào cải lương hương tục, hương chính có phải người người nô nức xô đẩy nhau một cách sốt sắng biết chừng nào.
Nếu cả xã hội mà chuộng về đường đạo đức thì trong gia đình nào lại để khoáng phế sự giáo dục đi đặng. Khi trước, phong tục ta lấy lễ nghĩa làm trọng, cho nên con trai con gái nghiêm. Ngày nay lấy thế lợi làm trọng cho nên con trai con gái nhãng, đức dục không tiến, luân lý phải xin từ chức, thói đời ngày một mỏng dần đi, cái lòng đạo đức cũng ngày một tiêu mòn. Đã không có người trọng đạo đức thì người giữ lòng đạo đức ngày càng ít, ấy vậy mà đạo đức tất phải khó tìm cho thấy. Than ôi, phong hóa suy đồi giáo dục biếng trễ, có phải cái lỗi chung của xã hội không? Trừ những người thông minh hiền triết mới không phải dạy, lại kẻ hèn hạ ngu quá, dạy cũng khó nên; còn lại hạng người sàng sàng như nhau có dạy mới có nên, mà hạng người ấy bao giờ trong xã hội cũng đứng về cái số nhiều hơn cả. Ngày nay xã hội mình đang vào buổi mới cũ thay đổi, lòng người khao khát. Như xưa lắm thì sợ quá ư ràng trói cái trí khôn của con người không phát triển tài năng lên nổi; mà khi đã mở rộng vòng ra thì lại buông lung quá cái phạm vi, làm cho xiêu đổi cả nền đạo đức luân lý; nghĩ cũng buồn thay!
Tân học hay thì vẫn hay thật, mà khốn tại người ta chưa học đến chỗ hay đó, chỉ lấy trí dục thắng đức dục thì đến hư hoại cả tâm thuật.
Tuy nhờ ơn nhà nước truyền bá văn minh học thuật mà nông công thương cổ từ đây sẽ chấn hưng lên, biết bao là sự lợi ích; song về đường tinh thần phải có tu tiến mới đạt cái mục đích hoàn toàn. Cổ nhân có câu: Thập niên thọ mộc, bách niên thọ nhân, là mười năm trồng cây chớ trồng người thì phải trăm năm mới có kết quả; thế thì giáo dục cho phổ thông đặng chẳng ngoài trăm năm cũng khó mong thành công. Hiện nay trong xã hội, bổ cứu tưởng cũng còn nhiều việc, nhưng về đường giáo dục lại càng gấp lắm; về cái động lực của sự ngoại tiếp hăng lắm, hẳn cũng chia với công học tập một phần, nên chi cần có xã hội tốt thì dìu dắt người ta mới nhẹ nhàng. Dạy người làm sao cho biết lấy công tâm, hiệu lực với xã hội, nên bỏ những cái tư tình, tư dục của mình, để cầu sự thù báo muôn nghìn năm về sau, chớ ham hố cái mục tiên chi lợi mà bỏ nghĩa vụ làm người. Một xã hội loài người tất phải có cảm tình liên lạc với nhau, không phải phó mặc cho kẻ tàn nhẫn, tục tĩu được, tất phải có những người lễ độ, ôn hòa làm gương cho kẻ khác.
Nền đạo đức đang gặp bước gian hiểm, người trong xã hội phải biết mà thương xót, mà ra công cùng sức mà tô bồi, chớ để cho cái ngọn đồi phong tiêm nhiễm cái óc non nớt của kẻ sau mình. Nếu chẳng thế nữa, ăn ở cứ đến đâu hay đến đó không cần nóng sốt vì ai, ngoài mặt thì vẫn thơn thớt nói cười mà trong lòng thì không ai tin cậy ai được cả, gây nên trong xã hội một cái thói để lớn chê nhỏ, nhỏ đổ lại cho lớn cũng vì không được cái công tâm. Mình thì ưng chơi bời lại ghét kẻ chơi bời, mình không tự trọng lại bắt kẻ khác trọng mình, mình khinh dễ người nhưng không ưng ai khinh dễ mình, làm trò bưng mắt bắt chim, cả vú lấp miệng em, cho nên đổ lộn đổ tháo, chê tới chê lui; lắm lúc nước chảy chỗ thấp, lại chê lẫn bọn đàn bà con gái thời nay phần nhiều hư hết. Đàn bà con gái bậy có phải tại đàn ông con trai không, đàn ông con trai bậy thì xã hội có từ nan chăng cũng đổ tại gia đình một phần nửa mà thôi, vì gia đình giáo dục dù có năng lực cũng phải nhờ giáo dục xã hội một phần vậy.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 24-1-1924
ĐỐI VỚI ANH EM CHỒNG
Anh em chồng tức là ông chú, bà o, cách ăn ở lại khó đối đãi hơn với anh em chị em nhà mình, vì lấy dây tình nghĩa, vẫn là thân, nhưng không phải ruột thịt, thì hay sinh lắm sự gảy mỏ, làm mất điều hòa khí trong một gia đình. Nếu ông chồng là người có độ lượng, cư xử lấy đạo công bằng chấp trung đối đãi cả hai bên, nỏ nói làm chi, chớ đà thiên về một mặt nào, là người làm dâu, làm vợ, cũng khó chịu cả. Vì thiên về mặt anh em hơn thì người ta lấy tình thủ túc làm trọng, cho phu phụ như y phục, tục ngữ có câu: “Anh em khác thể chân tay, Vợ chồng như áo đổi thay thời rồi”. Cũng một cái ái tình mà đối với vợ con khác, đối với anh em khác; đối với anh em khi còn cha mẹ khác, đối với anh em khi cha mẹ đã mất rồi khác; khi cha mẹ còn, con dâu, anh em đều ở chung một nhà, hay đã ở riêng cũng vậy, trước là lòng kính yêu cha mẹ, sau trìu mến anh em; càng yêu cha mẹ bao nhiêu lại càng trìu mến các người yêu của cha mẹ bấy nhiêu, mới gọi là hiếu hữu. Dù khi cha mẹ không còn, cũng một lòng trìu mến anh em, nhưng mà không được đằm thắm cho bằng khi còn cha mẹ, cái nguyên ủy ấy, cũng xuất ư sự tự nhiên của tính người, vì hồi bấy giờ ai nấy đều đã có gia thất, biệt lập môn hộ, mọi người đều có công việc lo lắng của người, chớ không quyến luyến nhau như thuở nhỏ đặng. Bổn phận người làm vợ, mà lúc còn đương làm dâu, thì phải nể trọng ông chú, bà o làm sao cho đẹp ý tất cả, mới vừa lòng người chồng, thì tình gia thất trong ấm ngoài êm vậy.
Còn người chồng mà thiên về mặt ái tình trọng vợ con, chớ không kể tình hữu ái anh em ra gì, là một điều không hay, người vợ chẳng nên lấy thế làm mừng, vì cái lòng hữu ái đã khuyết điểm, tất sự hạnh phúc trong gia đình cũng sa sút nhiều phần. Ví dụ như một gốc cây, cội rễ vững bền, nảy sinh chồi nhánh rườm rà, mới im rợp bốn phía, mưa nắng che chở lẫn nhau. Nếu nhành này tươi, mà nhành kia héo, lần lần vàng úa rẩy đất, mầm non mộng yếu, sinh trưởng ra tất đến còi cọc, vì không nương tựa đặng bóng im mát của các nhành lớn nâng đỡ phủ phê cho. Ấy cái nghĩa gia tộc cũng thế; tình gia tộc có liên lạc với nhau, anh em con cháu mới sung mãn phồn thịnh liên miên bất tuyệt.
Nhiều người đàn bà ruột gan hẹp hòi, ăn ở bủn xỉn, lấy chồng chỉ biết chồng, có con chỉ biết con, coi anh em bà con nhà chồng như nước lã người dưng, không có cái cảm tình đau đớn ruột rà với nhau, thế là gây cho con cháu về sau những mối ác cảm, họ hàng rời rạc nhau ra, thịt xương xáo trộn lẫn nhau, giai do những người không trọng gia đình hết thảy. Cớ ấy lỗi tại người đàn ông có ít, mà lỗi tại người đàn bà thì nhiều, nếu những người đàn bà mà biết thiện xử, dù người đàn ông có bụng xấu với anh em, cũng không lẽ không ngăn trở được. Làm giàu không thể ăn lấy một mình mà là sướng, làm quan không thể hưởng lấy một mình mới là vinh, sống không thể ở trên mặt đất một mình mà sống trơ trọi nổi, thế nào cũng có bang quốc, cũng có xã hội, có gia tộc, mà tự biết gia tộc có, rồi mới có xã hội, mới có bang quốc, tuy việc nhỏ nhặt cư xử với nhau trong gia đình không đáng gì đó, nhưng suy cho kỹ, thật có cái nghĩa rộng rãi bao hàm vô cùng.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 25-1-1924; Mục Lời đàn bà
CÁCH PHỤC SỨC CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ
Phục sức, là đồ áo quần mặc và đồ nữ trang bằng vàng bạc: vòng, xuyến, đeo tay, đeo cổ, dù người thành thị hay người quê mùa cũng thế, lại cho đến cả hoàn cầu dân tộc nào, đã là người đàn bà, thì trang điểm phục sức không giống người đàn ông, vì người đàn bà có cái tư cách yểu điệu, diệm dã như hoa, yếu đuối như liễu, ông tạo hóa chúc thác cho một cái phong vận đặc biệt; những cái nét mày, khóe mắt, môi miệng, sống mũi, khổ mặt, nước da, đều khác đàn ông hết thảy. Khác vì cái vẻ có dịu dàng ở trong, không phải như đàn ông, tướng mạo đường đường cho là quí, thì không cần trau dồi thêm nữa; đàn bà dung nhan thế nào, cũng cần trang điểm mới thêm sinh sắc. Kinh Thi có câu: “Nữ vị duyệt kỷ dã dung”, người con gái vì kẻ yêu mình mà làm tốt. Phương chi, tứ đức cũng có phụ dung, thế thì rõ biết sự trang điểm của đàn bà con gái đời nào cũng có, có một cách tự nhiên như thế, chớ không phải xưa có, mà nay không có đặng, nay có mà sau này tất không có đâu. Người ta ở đời nên biết mà chước lượng, chớ vội thấy sự trang điểm của đàn bà con gái, mà cho là trái lẽ, tưởng cũng kiểu tình với người đồng loại, độ lượng không hay dung vật. Nhưng, người ta cũng nên răn cái sự quá ư xa hoa, xài đồng tiền vào những việc không ích, thì trở ngại cho phương lý tài. Vậy sự phục sức của đàn bà con gái cần phải giải quyết làm sao, cho có thứ tự, tất không hại đến tài nguyên.
Phàm đồ phục sức của đàn bà con gái, nên chia làm ba thời kỳ mà dùng cho đúng cách:
1/ Thời kỳ còn đương ấu trĩ, con gái 12 tuổi trở xuống, là những người con gái còn tùng học ở các trường, về hàng thiếu nữ. Cách phục sức quí hồ cho sạch sẽ đúng phép vệ sinh, chớ không cần phải hoa mỹ, y phục sắm đôi ba bộ áo quần vải trắng mặc thường, cho dễ giặt ủi, một vài cặp áo quần lương lụa, để khi tiệc lễ vui mừng, hàng ta cũng đã thích dụng rồi, chớ trẻ con chẳng nên dùng thứ hàng sang quí lắm mà uổng phí; đồ nữ trang thì một cái xuyến cổ, đôi hoa tai là vừa. Nhiều người ham chưng cộ cho con, tràn trề vòng xuyến hoa hột, là bất tiện, lắm khi hại đến tính mệnh trẻ con, vì khêu gợi mối tham tâm của bọn gian tế; sao cho khỏi sinh sự này khác. Vả lại sự ăn mặc phải cho có thứ tự, thì đứa trẻ mới còn hy vọng nên ngày hoàn toàn, nghĩa là đến cái tuổi đó, sẽ đặng cái địa vị ăn mặc như thế, muốn ăn mặc như thế là hạng người đã khôn lớn, đã có tư cách làm sao cho xứng đáng một bậc thành nhơn. Nuôi cái sự hy vọng, để buộc hắn phải luyện tập tư cách thành nhơn, còn phương pháp gì màu nhiệm hơn nữa. Cổ ngạn có câu: “Sự nhược cầu toàn hà sở lạc” sự việc nếu toàn vẹn cả thì không vui gì, con nhà sinh trưởng phú quí, thường hay mắc cái bệnh ấy, mà không mong sự thi thố; biếng trễ cũng vì cớ đó.
2/ Cái thời kỳ thứ hai, là cái thời kỳ sen ngó đào thơ, hải đường mơn mởn ngành tơ, nhụy hoa đương mỉm miệng cười, ngày xuân đằm thắm, cảnh sắc vui tươi, làm người con gái xuân khuê chực phận, bình tước đợi ngày, dù nhà sang cho chí nhà nghèo, ai ai lại không quí cái thì giờ hữu hạn, vì thế mà cái trang điểm đối với cái thời kỳ xuân xanh, mới hữu tình. Nếu da dùi má cọp, mà còn trang điểm nỗi gì. Cho nên con gái đàn bà đẹp chỉ có một thời, từ khi mười lăm tuổi, cho đến hai mươi lăm tuổi, (trong khoảng mười bốn mười lăm tuổi, là khoảng nở nang của những máy móc trong thân thể, thuộc về sự sinh trưởng), ấy cái buổi quang minh mị, dù có trang điểm, lấy cái vẻ thiên nhiên cũng đẹp, nhưng nào có thế đặng đâu, ai biểu rằng việc gì cứ để yên cho thiên công, chớ đừng phiền đến nhơn lực đã được chưa, huống hồ cái tư dung của người con gái, mà biểu đừng trang điểm? Cái câu: ngàn vàng không mua được buổi trẻ trung; nên chi sự làm tốt, tất phải có, duy đừng nên quá lạm thì thôi.
3/ Thời kỳ thứ ba, là cái thời kỳ đã đứng tuổi, chồng con đã có, gia thất đã nên, sự trang sức lấy đoan trang làm đẹp, nhu mì làm xinh, trâm cài lượt giắt, chẳng qua lúc thiếu thời sáp đánh son tô, là vui với những ngày non nẻo, chớ tuổi này không làm dáng mà là đẹp, phục sức cho hoa mỹ mà xuân đâu trở lại đặng. Người đàn bà phải nên biết rằng: khi mình đã có con cái, thì phải tu đức, lòng làm phép, mình làm khuôn, dạy con dạy thuở lên ba, vì con mà mình phải thay hình đổi dạng, lo bề cần kiệm, cầm vững mối rường, để làm người hướng đạo cho con. Đồng tiền khi ấy, là công dụng nhiều việc, không phải đem mang hết vào trong mình, mà là sang, gấm vóc đầy mình, mà nết na không giữ, cũng lỗi câu phụ đức.
Nói tóm lại thì sự phục sức của người đàn bà con gái nước mình, thực chưa có cái thứ tự. Đàn bà đã có chồng con, gần có dâu rể, mà cũng điệu cách như bọn mười lăm, hai mươi, trẻ con mới ray mũi, trên đầu chưa sạch cứt trâu, cũng nính khăn nính áo, như người cổ rui, càng sang giàu, càng xa xỉ, nào cẩm-châu, xa-tanh, ca-sơ-mia, văn minh địa bây giờ hình như vải to, vải nhỏ mọi ngày, ngày lễ cũng mặc thế, ngày thường cũng mặc thế, bởi sự đua tranh nhau, mà thành ra tốn hao không kể.
Trộm nghĩ phận liễu bồ, đã không làm gì ích lợi cho xã hội nhân quần, chỉ còn một sự kiệm ước, mà không giữ lấy căn bản cho gia đình, trách nào mà dư luận nỡ bao biếm mỉa mai bọn phụ nữ chúng mình không đủ tư cách, trông mà đau xót, nghĩ mà tủi thay.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 11-2-1924; Mục Lời đàn bà
CÁCH XÀI TIỀN KHÔNG CÓ NGHĨA LÝ
Nhân ngày xuân thong thả, chị em bạn đôi ba người ngồi họp chuyện với nhau, tôi nói: Tết Nguyên đán năm nay trời tạnh ráo, người buôn kẻ bán đều tiện nghi cả, có vẻ hớn hở vui hơn các năm trước nhiều. Bà Y nói: Một dịp Tết rồi mà nghe ra nhiều nhà than thở hao tổn mang công vướng nợ theo Tết, bà còn nhắc đến Tết. Tôi cười nói rằng: Cái đó tại mình rộng tiêu, chớ tùy gia phong kiệm, ai bắt buộc gì mà ta thán đó nào? Bà Y nói: Đã đành rằng là thế, thế mà không bắt buộc cũng như bắt buộc, vì xung quanh ba mặt bốn bề toàn là người ăn chơi rả rả, tính không tiêm nhiễm sao đặng; nghe đâu một cô nào đó, làm một sở nào, đến tháng lĩnh bổng 27 đồng về đến nhà, bà mẹ hỏi thì chỉ còn 2 đồng mấy hào thôi, lấy làm lạ, cô thưa rằng: “Chị em rủ đi mua đồ Tết hết, một áo cẩm nhung, một quần cẩm châu, một đôi giày hạ, một hộp nước hoa, một cái khăn choàng đầu, nên chỉ còn bấy nhiêu”. Lại một thầy cũng bốn năm chục, lại chỉ sắm đặng cái áo sa tanh, lót màu tường vi, tra bộ khuy vàng khảm ngọc, là vừa xong một tháng bổng; còn ăn uống, xe tay, xe đạp, rạp hát, cao lâu, chẳng phải là đồ nhịn đi đặng, không vướng nợ làm sao. Một nhà nữa có hai người con đi làm việc ở tỉnh xa, đến tháng chạp có hẹn với người nhà: để lãnh bổng gửi về một số bạc 50 đồng cho cha mẹ ăn Tết, làm cho nhà ấy trông hóng hóng, tự hai mươi lăm đến tối ba mươi, tất niên là tất vọng, có lẽ hai thầy nọ với thầy, cô kia cũng một phường chăng?
Bà A nói: Đời này nhiều công sở dễ làm ra tiền, cho nên cách ăn chơi lêu lổng như thế.
Bà C nói: Chẳng phải thế, đổ lỗi cho các cô các thầy đi làm việc hay xài tiền, cũng oan đó thôi. Chớ coi ra cái hiện tình xã hội mình bây giờ, người ở nhà, ở quê mùa, cũng quá vậy. Lủm lỉm mà chín mà mười, không có cái danh dự ra giữa đời cho nên không ai biết, chớ thì ăn, thì mặc, phá tiền phá của có phần nào thua kém gì ai. Ấy thế đồng tiền bây giờ hay quá cứ quay như hình chong chóng, không đứng yên đặng một chỗ nào cả, thâu vào buổi mai, phát ra buổi chiều, cha thâu con phát, chồng thâu vợ phát, khỏi lo hoài mất cái công dụng của đồng tiền đình trệ như trước kia phải chôn phải cất.
Bà Y nói: Đời nay thật sung sướng nhỉ. Nói cho phải, không trách chi họ muốn ăn thức gì, mặc thức gì cũng sẵn, không như đời trước, cách ăn mặc mà cũng hạn chế, làm dân không đặng đeo vàng, chỉ đeo đồng thòa (tử kim) và bạc mà thôi, the lụa hàng nhiễu thì dùng những thứ không bông, đến màu hoa hòe cũng không đặng dùng. Bây giờ tha hồ, áo tiên Vân mẫu, có bán cũng mua mặc, gan Thiên lôi không bán, chớ có bán cũng mua ăn, tự do khoái lạc, chẳng khổ nỗi ai ngăn cấm.
Tôi nghe bấy nhiêu câu chuyện cũng phải trả lời rằng: Thế mà cũng khổ đó, đồng tiền khổ, đồng tiền kiếm ra không phải không mất huyết hãn mà tự nhiên nó tới. Mình không đổ mồ hôi sôi nước mắt thì tiên nhân mình cũng phải chịu lao lụy mới có, vậy mà chỉ cung sự phục thực cho sung sướng, không kể nhân nghĩa, để rõ cái phần khó nhọc cho cam tâm, khỏi hối hận về sau. Khi đương hăng hái, dong đua cùng bạn tác, đã biết nỗi khổ ấy đâu, kịp đến biết thì đã vô bổ rồi. Bởi vậy mà sự dùng tiền phải có đạo lý lắm, phải biết cách tài chánh mới tỉnh tiết những điều vọng dụng tiêu xài đi đặng.
Đây tôi xin nhắc chuyện năm trước ở Tourane, có quen một bà quí phu nhân, ngày thường qua lại chơi, bà nói chuyện cách tài chánh, sắp đặt trong nhà, rất có trật tự, tính kiệm ước của người ta, thực người mình thua xa. Bà nói rằng: hai ông bà đều đi làm việc, lương bổng đổ đồng lại, chia ra làm năm phần: hai phần ăn, một phần để cho con đi học, dẫu con còn thơ dại, hai ba tuổi mà cũng phải mỗi tháng để lại số bạc ấy, nếu hai đứa hay ba đứa, thì chia ra mỗi cái thùng, có đề tên trên mặt thùng, đến tháng cứ lệ bỏ vào đó. Một phần nữa để sắm áo quần, hoặc dăm tháng ba tháng may sắm một lượt, một phần nữa sẽ chia ra làm hai: một món tiền tạp phí (tiêu vặt), một món tiền bất thường chi, nếu trong tháng ấy tiêu không hết hai số tiền và số tiền may sắm quần áo cũng thế, đều bỏ tại một chỗ, khi dồn thành số tiền to, thì gửi vào nhà ngân hàng. Tôi lại hỏi: Thế thì tục quí quốc có phải cung phụng cha mẹ không? Chớ bên An Nam chúng tôi, người con làm nên, phải lo bề phụng dưỡng cha mẹ, nếu không thì làng họ chê là người thất hiếu.
Bà nói: Có, có lắm, trừ ra những nhà sang giàu không phải gửi cho cha mẹ, chớ nhà thường dân, cha mẹ già yếu không làm gì ra tiền đặng, đều phải gửi cả. Dẫu người con có lòng tốt, là pháp luật cũng bắt buộc, bởi vì những hội hè công việc ích lợi cho đồng bào, nghĩa vụ còn phải làm thay, huống hồ cha mẹ; ấy đồng tiền khéo dùng là thế, đủ ăn tiêu, thừa làm việc phải, không đến tài chánh quẫn bách.
Ôi! người ta sở dĩ luyện thành được cái tính cao thượng, là nhờ cái sự ăn tiêu cho có điều độ, nhơn vô hằng sản, tất vô hằng tâm, người mà không có của thường thì không giữ đặng lòng, sự thất bại khi nào cũng nối gót theo chỗ cùng xa cực dục mà sau thành ra cái tính vô liêm sỉ. Đời xưa mà hạn chế sự ăn mặc, cũng một phép trừ bớt cái thói phù phí vô ích của người đời; ngày nay để cho tự do, thì phải biết cách luân lý tự thân, nếu không hiểu hai lẽ ấy, tự do quá, thì nguy hiểm cho đường tương lai biết bao.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 29-2-1924; Mục Lời đàn bà
VẤN ĐỀ NỮ HỌC (II)
Gần đây có nghe đôi ba ông tân học, trong khi nhàn đàm, chỉ bác về việc con gái đi học, nên tôi lấy làm lạ, phải bàn lại một bài để cho rõ lẽ.
Về vấn đề nữ học, lâu nay quốc dân cũng đã nhiều nhà chịu công nhận sự học của con gái là có ích lợi, cho nên trường nào trường nấy, đông đúc học trò đến không có chỗ xin vào lớp nữa. Tuy thế, nhưng việc đời cũng cớ trêu lắm nỗi, việc gì dầu hay cho mấy, cũng có cái dở, mà dẫu dở cho mấy cũng có cái hay; ấy cái nguyên do khai đoan cho lời bình phẩm là tại đó. Nhưng lấy bình tĩnh mà ngôn luận, thì cái vấn đề nữ học sẽ giải quyết như vầy:
Đương buổi phong trào tiến hóa, dân trí khai thông, khoa học mở mang, trình độ thay đổi, người ta ở trong xã hội cũng ví như các thứ hoa thảo, tùy theo thời tiết mà sinh trưởng, đã không trái đặng lẽ tự nhiên của thời tiết, mà lại phải vận động cho hợp với lẽ sinh trưởng ấy nữa. Sự sinh trưởng của loài cây cỏ, có đạo lý của loài cây cỏ; sự sinh trưởng của loài người, có đạo lý của loài người; đã cùng một chủng tộc một quốc gia, một thời đại sinh trưởng, thì cái cảm giác tư tưởng thế nào hẳn cũng tương quan với nhau. Bởi vậy mà sự giáo dục học thức của con trai làm sao, thì của con gái cũng phải có làm vậy; đứa con gái tương lai thành nhơn, là một người đàn bà có công lớn với xã hội, vì người đàn bà có chịu cái thiên chức về sự sinh dục, gây nên nòi giống cho nhơn loại. Bổn phận người đàn bà, lại có cái trách nhiệm nặng nề khó nhọc, gánh vác việc gia đình, để cho người đàn ông khỏi phần nội cố, mới rảnh mình mà hiệu lực với bang quốc; cái trách nhiệm ấy, cái thiên chức ấy nếu không có học thức giáo dục, thì khó lòng làm cho hoàn toàn nghĩa vụ đặng.
Có người nói rằng: Ngày xưa con gái không có học thức mấy chút, mà người mẹ hiền, người con thảo, người vợ thuận cũng không thiếu; ngày nay, có học thức mà hay hư nết, là nghĩa làm sao? Xin thưa rằng: cái đó tại phần giáo dục gia đình khuyết điểm hết thảy; học đường giáo dục, là cốt để giúp thêm tư tưởng tri thức cho người, sau ra với đời cho khỏi sự lầm lỗi; còn gia đình giáo dục là gây nên cái tâm tính cho con người, tâm tính với học thức thực không ăn thua gì nhau, chỉ có quan hệ một điều: là phải nhờ ở chỗ học thức, mà nhắc tâm tính siêu việt lên cho nhẹ nhàng; nếu tâm tính đã hỏng dẫu có học thức, lại càng như giúp sức cho cái dục vọng lên cao đó mà thôi. Đại để những người hẹp hòi độ lượng cũng vậy, có tại gì có học với không có học. Dầu bình sinh đọc suốt vạn quyển sách, mà cái biểu kiến câu chấp của mình, là cũng trơ trơ giữ lấy một đời, không ai phá cái mê mộng ấy đặng. Cái mê mộng ấy đã không phá đi, thì không bao giờ có cái tư tưởng công bình. Ví như cái vấn đề nữ học ngày nay, mà không giải quyết đặng, là bởi những kẻ còn giữ ý kiến cố chấp, nên không bao giờ nữ học mình đạt đến cái mục đích hoàn toàn. Chớ nhà nước sở dĩ đặt trường nữ học, cũng vì lấy lẽ công bình đã nhắc cái trình độ con trai lên cao, thì bên con gái phải đưa lần bước đường đi tới, để cho nó hợp với nghĩa tương đương, có tương đương mới tương tri, có tương tri mới tương phò; tri thức xấp xỉ với nhau, thì sự đề huề mới chóng được. Vả lại nữ giới mà có học thức, là ích lợi chung trong xã hội chớ có riêng vì người đàn bà có lợi, mà để thiệt cho ai. Sắp đặt việc nhà cửa, cho hợp với thời thế văn minh, chẳng cũng làm phương tiện cho sự khai thông dân trí một cái “tiệp kính” ru. Cái tiệp kính mà tôi nói đây, là cái tiệp kính về đường dạy dỗ trẻ con, đứa trẻ con tương lai thành nhơn, phải có học thức, như là vệ sinh, cách trí, luân lý, địa dư, toán pháp v.v… mà khi còn ở trong gia đình đã lược hiểu thiển cận, khi đến trường lợi cho công giáo dục ở học đường biết bao nhiêu. Ví dụ như người chưa từng đi đâu, nhưng đã từng nghe phong tục xứ này, chắc là có quen hơn; lại cái tâm tình đứa trẻ con, phi cha mẹ, không ai hiểu bằng, mà sửa cho đứng đắn được, thế mà về phần cha cũng còn sợ hơn mẹ, vì mẹ đối con, cái tình quyến luyến có đậm đà nhiều, cho nên tính con trẻ thường hay giống mẹ hơn giống cha, mà những điều nhỏ nhặt của con trẻ thường cha không hay quan sát đến, chớ mẹ thì ở gần bên cạnh dễ đạo đạt tính tình của con. Phàm cái tâm tính con người manh mối ra lúc ban đầu, là toàn có ảnh hưởng về sau hết thảy; vì những lẽ thế mà phải nên tô bồi cho nền nữ học, để nâng đỡ lấy cái hạng nhân loại tương lai.
Cách ngôn Tây có câu: “Nước nhà mà chịu sự thiệt hại lắm, không gì bằng nữ học không sửa sang”. Sao những bậc kiến thức trong nước mình, lại không để tâm mà nghiên cứu về câu ấy. Chính sách Tàu đã dịch: “Quốc gia thọ bại liệt, vô hữu quá ư nữ học chi bất tu” lời của ông Á-lực-sĩ đa-Đức nói. Sao các ngài không mở lòng quảng đại lấy công lý, vì nhân đạo mà bồi dưỡng cho nền nữ học của nước nhà, để gây nên sự kết quả cho sự giáo dục hoàn toàn về sau, nỡ nào thấy một vài cô giáo, cô học sinh chưa đủ tư cách, mà đã bảo nữ học là không xứng đáng. Tôi xin vô phép nói rằng: kể sự học thức văn minh, từ khi nhà nước bảo hộ sang cai trị xứ Đông Pháp này, có ngót năm sáu mươi năm thừa, đường học vấn của bậc tu mi, đã chắc ai cũng được tư cách hoàn toàn hết cả chưa, phương chi nữ học mới có trường chỉ trong độ mười lăm năm trở xuống, nơi thì có trường mới độ ba năm, nơi thì có trường mới một năm, năm bảy tháng, lấy gì có tiến bộ hoàn toàn, mà ngài thì nói đàn bà mình bì không đặng đàn bà Âu Mỹ, thế thì đàn ông mình đã bằng đàn ông Âu Mỹ chưa. Ví các nhà cựu học thấy sự mới mẻ đời này, giao thiệp ngôn ngữ, đàn ông đàn bà làm việc chung một sở, là đời xưa không có, sợ không giữ tánh hạnh đặng, hư hoại cái phong tục mình khi xưa, nên ta thán thì không dám trách. Chí như các bậc tân học vấn, là toàn thị sinh viên Cao đẳng, Trung đẳng các trường Pháp học ra, tuy là Việt ngành Nam, song hương Âu nhụy Mỹ đã đâm bông kết nụ rườm rà, thế nào cái cảm giác đối với người cựu cũng khác một phần mới phải. Vì lấy lý tưởng mới, chắc có một cuộc tổ chức trong bụng rằng: xã hội ta sau này tiến hay thoái, gia đình ta sau này thịnh hay suy, tức là bọn thiếu niên mà ta đương làm người hướng đạo đây, vì ta làm người bản lề, tiếp giáp mới cũ trong khoảng thời đại đổi thay, cái nề nếp trước chưa phai lạt mấy chút, mong tô dồi thêm phong hóa mới cho được thêm màu; lại nên tự phụ rằng: ta là người đứng làm môi giới cho hai cái văn minh mới cũ được dung hóa với nhau, người trong nước còn mờ tối chỗ nào, ta sẽ khai đạo cho hợp với cái trình độ tiến hóa, mà không hại đến phong tục của nước nhà; ấy cái lòng quốc dân cũng trông mong về các ngài là thế.
Nay các ngài là bậc duy tân nhân vật sao lại giữ thủ cựu tính chất, không chịu đem sở học mà làm mục đích cho sở hành, dìu dắt cái vận hội lên, cho người đời biết đường xu hướng về chính đạo, còn hơn bàn quẩn tính quanh, riêng than thầm trách về đường nữ học mãi, nghe lắm thêm nhàm, mà thực cũng không bổ ích gì cho sự thực cả.
Hiện kim nữ học khắp cả ngũ châu thế giới, chớ có phải chỉ một nước mình là có trường nữ học hay sao. Mà nước mình là văn hiến chi bang, có phải là xứ mọi rợ chi mà lại không đua chen theo người ta đặng. Dầu tư cách đàn bà mình còn nhiều chỗ khuyết điểm, mà lại càng phải bổ cứu thêm sự học thức đó vậy. Cái vấn đề nữ học là rộng lắm, không những một điều vì cái thiên chức, cái trách nhiệm trong gia đình mà thôi, lại còn phải dạy cho người đàn bà biết đạo xử thế nữa. Tuy nhiên không ngang với người đàn ông đặng, nhưng không phải trơn trụi như loài vật, không tri giác, không tư tưởng, không nghề nghiệp, không học vấn, mà sống nổi ở đời đặng. Về thời cạnh tranh kịch liệt này, mà bưng mắt người ta lại, có khác gì bỏ đứa trẻ con vào trong rừng, lòng nào cho nỡ. Song le, có thế đặng đâu, cái làn sóng gió đã tràn trề lan khắp tận nơi, có muốn ra công ngăn trở cũng khó ngăn trở cho lại. Lấy một lẽ thiên nhiên mà chứng, như các bậc tân nhân vật đời này, sắp đến tuổi hôn thú, đã ai chịu bằng lòng kiếm vợ ở xứ thôn dân quê mùa đừng có học thức chưa; chắc là không nơi con quan quyền, thì con nhà giàu có phố phường, mà bọn thiếu nữ ấy ai là người không đến học trường nữ học năm bảy năm, đôi ba năm, hoặc tốt nghiệp bằng cấp lớn, bằng cấp nhỏ rồi, và sau này con cái các ngài sinh ra có ai dám không cho con đi học không? Nếu đã không tránh đặng cái công lệ tự nhiên, thì chế làm sao, chế người hóa ra tự chế mình đó thôi; cho nên chế bác tâm tính từng hạng người thì đặng, chớ chế bác cả phong trào nữ học thì không có lẽ.
Nay xin kết luận mấy câu như sau này:
Cứ như các lẽ đã kê ra trên kia, rõ ràng trong việc giáo dục, các ngài nên vừa giúp cổ động cho đường học vấn con gái mau đặng thành tài, nếu còn sợ về đường phẩm hạnh thì nên chú trọng khai đạo, vụ cầu đem các phương pháp tỉ dụ khuyến trừng, ngõ hầu cho thích hợp, đừng cho buông lung ra, chẳng là viên mãn lắm ru? Người ta phải nên hiểu cái tôn chỉ của sự giáo dục, tại làm sao mà trước kia sự dạy dỗ đàn bà con gái lại là phần riêng của gia đình, mà nay việc dạy dỗ đàn bà con gái, cũng có thuộc quyền quốc gia đào tạo nữa, thì đừng nên dắt tới lôi lui mà thêm hoài công. Thực chẳng qua cái lòng thủ cựu của người mình, có ẩn cái máu áp chế ở trong, đàn ông chỉ ưng áp chế đàn bà, chủ nhà ưng áp chế đầy tớ, cái lòng thủ cựu không hết, là vì cái máu áp chế chưa tiêu.
Lấy cái lẽ vận động của thời thế mà xét nghiệm, giả sử Hán tự khoa cử còn đến ngày nay, thì phụ nữ ta tất nhiên cũng phải có trường nữ học, mà cái chương trình học qui cũng phải san cải cho hợp cái trình độ dân trí đời nay.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 19 & 20-3-1924; Mục Lời đàn bà
(Đã đưa vào sách “Phụ nữ dự gia đình”- 1929)
GIA ĐÌNH GIÁO DỤC CẦN PHẢI LUYỆN TẬP
TÂM TÍNH TRƯỚC
Bài trước đã nói về sự học vấn con gái phải có để tẩm bổ cho tinh thần, còn tâm tính thì nhờ gia đình giáo dục bồi dưỡng cho, tự khắc người con gái học hành gồm đủ; nay xin giải nghĩa cái tâm tính của con người, rồi sẽ bổ cứu thêm sự giáo dục thì mới đúng.
Tâm tính là gì? Tâm là làm chủ động của muôn việc ở trong, dầu việc mảy mún mấy, cũng đều thông suốt cả, đo lường phải chẳng mà đưa lần ra các cửa ngõ, như tay, chân, mắt, mũi, tai, miệng, lưỡi vậy.
Tính là tâm - sinh, lấy lý tưởng của người xưa, bày tự dạng chữ tính, trùng tâm bên chữ sinh, thì đủ hiểu. Kinh Thi nói rằng “lập dĩ tính thành”, cái tính vì tập quen mà ra. Lại sách triết lý Tây nói rằng “tính khí với tính nết khác nhau”. Tính khí dẫn đàng về nhân đức nhưng mà tính khí, tính nết, nhân đức đều khác nhau. Tính khí bởi tự dưng lọt lòng mẹ; tính nết bởi tập quen tính thong dong mà ra; nhân đức thì bởi tập rèn lần lần, giúp làm việc lành cho dễ và bền chặt.
Lại giải nghĩa cái tính khí, có tính nóng, có tính hiền lành, có tính hay buồn, có tính ưa vui, tính hay giận, tính cứng đầu cứng cổ, tính sáng suốt, tính tối tăm v.v… Tính khí đổi được cũng hơi khó, chớ tính nết vì tiếp xúc các vật chất ở ngoài, mà làm quen, thu vào trong tâm, hoặc hay hoặc dở không hạn, nhưng người nào cũng có lương tâm hết thảy, nếu biết suy xét, lấy nghị lực mà lôi kéo lại, đừng cho manh tâm về đường xấu, đừng cho nhiễm tình mà thành hư. Thế thì sự dạy vẽ, cốt phải dạy cho biết cách suy xét, và phải có nghị lực chủ trì chớ cho theo về cảm giác lắm, vì cảm giác hay thì hay, cảm giác nhiều sự dở thì phải dở.
Có người nói rằng: con tôi không dạy vẽ gì sốt mà tâm tính hắn tự hay. Thế là vì sự cảm giác của hắn được gặp dịp thuận tiện, tốt lành của xã hội, nhưng không được mấy như thế. Ví dụ, như cây cối trồng ra, chỉ bỏ luống, trông nhờ khí hậu của trời đất, không cần gia phân tro, bồi bổ, là một sự ngẫu nhĩ mà nên không phải là thiện sách mà bắt chước đặng.
Đoạn trên đã kể tường tận sự tâm tính, vậy thì sự giáo dục nên thi hành làm sao? Dạy thì lấy sự dạy đứa trẻ con làm trước, dạy thì phải có dỗ, lần lần mà dạy, trước phải tôn cái sự dạy của mình. Làm bổn phận cha mẹ phải dạy con cái cho nên, sau nữa, tuy con mình mà cũng phải giữ cái nhân cách cho nó, chớ không nên bạ ăn bạ nói, muốn đánh muốn chửi khi nào cũng đặng, dầu đứa trẻ còn thơ dại cũng vậy, sự thi hình phạt, là bất đắc dĩ đó thôi, chớ dùng luôn thì đứa trẻ con coi nhàm, mà không sợ nữa. Vả lại nhất nhất đều dùng trừng phạt, làm đụt cái trí khôn của đứa trẻ con, không nảy nở ra đặng. Cho nên phải nuôi cái tính một cách thong dong, chớ không nên bó buộc lắm, mà lại phải giữ gìn cái tính một cách cho điều hòa, chớ cho thiên về một mặt nào cứ một mặt, đã thiên là tính xấu, sau khó chữa lại. Phàm sự dạy là dạy cái tâm tính trước, khoan trau dồi bề ngoài vội, để cho còn lại cái tính tự nhiên mới qúi, mới thực thuần phác. Dạy cho biết tại làm sao mà yêu cha mẹ, tại làm sao phải kính kẻ lớn, tại sao phải nhường nhau, tại sao phải trung tín.
Vì rằng: mình yêu cha mẹ là thiên tính, song phải hiểu sự yêu ấy, đầu trong các mối yêu thương hết thảy. Biết yêu cha mẹ chân thành, thì suy ra các sự yêu khác, toàn có đạo lý. Yêu cha mẹ là cảm công đức sinh thành, đau đớn vì con, khó nhọc vì con, tưởng trong thế gian không có sự yêu gì đằm thắm êm ái cho bằng cái lòng yêu con. Thì làm con nên đối với cha mẹ làm sao cho thỏa, sự thỏa tình với cha mẹ, tất phải làm cho hết bổn phận của mình, sau gặp việc toàn làm hết bổn phận, thành một cái lòng từ tâm bác ái, lòng thương ấy tất không giả dối nữa.
Tính kẻ lớn là những kẻ già cả, nhiều tuổi hơn mình, toàn như vai cha vai anh, sự nghe thấy từng trải, thì chỉ giáo cho mình đặng nhiều việc lợi ích, nếu chào thưa mà làm đủ phép tắc bề ngoài, mà trong lòng không có ý phục tòng thì vô ích.
Nhường nhau thì không đến nỗi tranh nhau, bên nào cũng đều giữ phép, thường tình anh em chúng bạn đặng hòa khí luôn. Phải giúp cho con trẻ biết lẽ phải; là mình muốn được tự do, nhưng cấm không đặng phạm đến quyền tự do của người khác.
Trung tín là ngay thẳng và tín thực, trung tín là cái chốt của lòng người, mà cũng là cái chốt của muôn việc, nếu luyện tâm tính cần lót lòng hai chữ trung tín đi trước. Làm người mà không có trung tín ở đời sao cho bền chặt nghĩa liền lạc với nhau, dầu con trai con gái cũng vậy, tâm tính dạy phải nhất luật như nhau, chỉ riêng về phần chức nghiệp, tùy theo cái vận mệnh của con người mà giáo dục cho hợp phép. Cái tính chất con gái, sẵn có cái vẻ phong thú riêng, ưa sự nhỏ nhặt, nên dạy cho biết cách làm việc có ngăn nắp cho quen, dầu cho đi học trường, song ngày rảnh cũng nên cho dự biết việc nhà cửa đôi tí. Các việc lao động của ta làm, dầu con nhà sang giàu không phải làm lụng công việc nặng nhọc, chớ há lại không để con mắt qua, mà quan sát cái tình hình lao động của người ta làm cho mình rộng thêm một bài học vấn ru. Sự đau đớn khốn nạn của người đời, cũng nên hiểu biết lẽ hơn thiệt, để suy xét cho quen. Sau ra với đời, dầu gặp cảnh thuận nỏ nói làm chi, chớ cảnh nghịch cũng biết mà cư xử cho đỡ nỗi khó khăn của mình đã biết trước. Lại cốt nhất một điều chớ nên quên, sự giáo dục con gái, không bao giờ rời cái bổn phận trong gia đình, mà tìm hạnh phúc đàng nào cho hơn, phải biết có chồng có con, làm trọn nghĩa vụ mới là vinh, gia đình được phần lạc thú là danh giá đó. Người làm cha mẹ, phải thành tâm mà dạy dỗ con gái có lẽ lại trọng hơn con trai nữa mới phải. Thiết tưởng cái nghĩa lý là một cái của chung, đàng mẫu huấn ở xã hội mình đương thiếu, vì vậy mà phải hết sức khai đạo sự nghĩa lý cho thông hiểu, để gây nên cái kết quả về sau; hạng nhân loại tương lai, là ở trong tay những người có giáo dục, hay không giáo dục uốn nắn ra đó. Các nhà giáo dục nghĩ sao?
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 1-4-1924; Mục Lời đàn bà
CÁI CẢM TÌNH CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ CON GÁI
PHẢI NÊN BIẾT ĐIỀU CHÍNH ĐIỀU TÀ
Người ta ai cũng phải có cảm tình, hoặc đối với thân thế, đối với cảnh ngộ, đối với nhân loại, biết bao là sự đau đớn khắt khe ở đời như nung đốt buồng gan, mà thành ra tư tưởng triền miên vô hạn.
Làm người nếu không có cảm thì không phải là con người, nhưng cái cảm tình tuy vì thân thế, vì cảnh ngộ, vì nhân loại, mà cái cảm tình của người đàn ông khác với cái cảm tình của người đàn bà. Đã là thân người đàn bà con gái thì khi nào cái cảm tình hẳn cũng quanh quẩn trong cái vận mệnh của mình, hơn sự cảm ngoài vòng cái vận mệnh của mình, vì thế mà sự cảm tình không sâu xa đặng, không mạnh mẽ đặng, dễ cảm cũng dễ nguôi. Sự dễ cảm dễ nguôi, đều thuộc về một hạng người tính yếu hết thảy. Tính yếu cố nhiên là cái nguyên chất của người đàn bà con gái, lại gia dĩ tiếp xúc sự cảm giác ở đời đều là sự yếu đuối cả, có thân mà không được tự chủ, thường phải ỷ lại người ta, cho nên cái cảm tình cứ man mác mãi. Xét kỹ cái tâm lý của người đàn bà thì thật có nhiều điều hay, nhưng cũng không tránh được sự dở. Hãy đem một cái tính yếu của người đàn bà mà nói, như đối với nhân cách, thường biết ủy khúc phục tòng bao nhiêu sự đau đớn nặng nề đều có thể gánh vác được hết. Lại cái tính hay động lòng, nên hay yêu mến việc làm lành, như đem tiền của ra bố thí, làm chùa, tô tượng v.v… thường có khi dấn mình trong chỗ khó nhọc, dù lam lũ mấy cũng không nài, miễn cho có kẻ biết đến mình là thỏa lòng, chớ không đợi vì danh vì lợi mới phải làm như kẻ khác. Thế thì có phải vì chữ tình nặng hay vì cảm cái thân thế của mình, mà buộc mình phải như thế?
Phàm cái tính yếu, dễ cảm xúc, gặp việc ít suy xét đặng, nhân thế mà ngoại sự dễ cám dỗ. Khi thì vì cảnh thế bức giục mình phải theo, khi thì lời ngon giọng ngọt mà xiêu, khi thì vì tình ăn ý mà mến, oanh chào yến gọi đều là cảnh thương xuân, trăng tủi hoa hờn, không qua là buổi bi thu, đường xa nghĩ nỗi sau này, không biết rủi may, may rủi thế nào. Tấm thân như chiếc lá giữa dòng, nhờ sợi tơ hồng se chỉ thắm, hay là se chỉ chuối cũng không hạn, bởi thế mà thành ra cảm, cảm với tình, làm cho xiêu lạc cái tính khôn ngoan, cho nên khôn giữ mình đặng, thường cứ theo cái ái tình hắn dắt lần đi tới mãi, không biết đến đâu là chừng, họa chăng khi ngã xuống hố xuống ao, rồi mới mở bừng con mắt, giật mình tỉnh lại, thì đã muộn quá. Bao nhiêu những người con gái, mà mắc phải cái cạm bẫy chữ tình là toàn không có nghị lực và trí suy xét, nên mới sa đọa mất cả trinh tiết, cả danh giá con người, đến hối hận thiệt cả tính mệnh cũng thương. Ấy là theo cái lòng dục thì cái dục niệm là vô để, tham tiền, tham của, tham sang, tham quí, tham sắc, tham tài, tham đủ các cách, nên phải nghĩ cách mà duy trì hắn lại, thì mới dắt về nẻo chánh đặng. Nẻo chánh là nén cái lòng mình lại một buổi, mà suy rõ vật lý mới đáng theo. Ở đời sự gì cũng có một nguyên nhân trước rồi mới sinh ra điều nọ việc kia. Cái nguyên nhân là cái cội rễ, cái mối manh đầu của vật lý, lại việc gì cũng có một mối chính, lại năm bảy mối phụ thuộc theo. Nghĩa suy xét cái cội rễ của vật lý, mà suy ra các lẽ thuộc phụ thì mới rõ, ví dụ như cái cây, có gốc, có ngọn, có ngành, có lá, có hoa, có nụ v.v… Vật lý đã thế, sự lý cũng vậy, vì thế cho nên triết lý là trọng sự suy xét, phép ái mộ sự khôn ngoan cũng trọng sự suy xét. Người ta không thể manh tâm ra làm việc gì mà không có cội gốc bao giờ. Làm việc gì không có cội gốc thì việc phải hư; suy xét việc không xét đến cội gốc, thì suy xét phải sai lầm.
Nay sự cảm tình của hạng người yếu tính có những phần sợ phần nghi, làm cho mối tư tưởng cứ lung tung ra, mà thành khó thâu súc lại. Bởi vậy mà sự giáo dục con gái, phải cần luyện tập tâm tính để cho có nghị lực, có can đảm mới có phần chủ trương cho mình, biết mình sinh ra cũng có ích với đời, không phải sinh không, không phải sống thừa; trước hết mình phải làm chủ cho mình đặng an, tùy mình đem tài năng của mình ra mà dùng các công việc, để cho sự sống có ích với đời, khi mình đã biết mình có ích với đời, không ăn hại của xã hội, không hoài công của cha mẹ, tự khắc mình phải trọng mình.
Dù cảnh ngộ nào, mà lòng có chủ tri, đều có thể an ủi được hết thảy, người ta có cảm mà phẫn chí, trở nên làm được nhiều điều hay; có buồn, có đau đớn, thì mới biết sự vui vẻ sau này đằm thắm; ai cũng hiểu như thế thì sự nghi ngờ, sợ hãi tự phải tiêu diệt ngay, sẽ bày cái trí sáng suốt cho mình rọi mình. Có ông bác sĩ Tây dạy con gái rằng: “Con phải nghe lời đau đớn cho quen, phòng khi có đau đớn để cho bền chí mà nhẫn nại”.
Tôi cũng xin phép với chị em mà nói rằng: Ở đời bao giờ cũng cảnh khổ nhiều hơn cảnh vui, vì hết thảy trong thế gian không phải người đàn bà nào cũng có chồng có con, toan trông cậy chồng con được cả, còn người đàn bà nào không chồng không con, thì không có cái hạnh phúc ở đời. Nếu thế thì không có công lý. Phải biết có chồng có con cũng phải làm sao, mới có hạnh phúc ở đời đặng. Hoặc sớm muộn, hoặc rủi ro, không chồng không con, cũng phải làm sao, chớ lẽ nào lại không chiếm được một cái địa vị ở đời, thì sinh thân ra chẳng là vô dụng lắm ru. Thế thì có chồng có con, cũng phải mưu sự hạnh phúc ở đời cho mình, không chồng không con cũng phải mưu sự hạnh phúc ở đời cho mình, nhiên hậu mới bảo toàn đặng cái nhân cách xứng đáng. Nhân cách mà xứng đáng thì không bao giờ lại không có cái địa vị cao thượng cho mình an thân hay sao?
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 5-4-1924; Mục Lời đàn bà
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.
www.trieuxuan.info |