Lời tựa in trong tác phẩm Quốc triều hình luật (Lê triều hình luật), của Giáo sư, Thạc sỹ Luật sư Vũ Văn Mẫu. Trường Đại học Luật Sài Gòn, 1958.
Nhà văn Triệu Xuân: Tôi rất đam mê thu thập Tư liệu để sáng tác. Tôi đã cất công tìm kiếm Lời tựa này từ hai năm qua. Ngày 28-05-2014, TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm, đã gửi cho tôi bản scan Lời tựa này (tiếc là thiếu 2 trang đầu). Nay tôi post lên để quý bạn đồng nghiệp và quý bạn đọc – nếu có nhu cầu- dùng làm tư liệu... Chân thành cám ơn TS Nguyễn Xuân Diện!
www.trieuxuan.info
(Thiếu 2 trang đầu) Nguyên nhân thứ hai do ở tâm lý các nhà nho chỉ chuyên về sự học từ chương, không chú trọng tới các sách không liên quan đến khoa cử. Hoặc giả có người thích sưu tầm các sách quí, thì lại ưa giữ làm bảo vật, không cho người ngoài được biết. Cho nên tìm được sách đã là khó; khi tìm được lại thường gặp nhiều sự sai lầm trong sự sao chép, khó mà biện chính được (cố kỳ cầu chi dã nan; nhi kỳ đắc chi dã mậu xuyễn di khuyết, chí ư bất khả biện chính dã).
Nguyên nhân thứ ba do ở các cuộc tao loạn luôn luôn tiếp diễn không ngừng trong lịch sử, khiến cho các thư tịch vừa mới sưu tập được lại bị đốt phá thất lạc. Liệt cử những biến động đã xẩy qua các triều trước, Lê Quý Đôn đã ghi lại bao nỗi khó khăn trong việc di lại cho hậu thế cái gia tài văn hóa của tổ tiên ngày trước.
Dưới triều Trần Nghệ Tông, tuy văn học đã phồn thịnh, song vì loạn quân đột nhập vào kinh thành nên sách vở bị đốt phá mất hết.
Kế đến nhà Hồ, sau khi kinh đô bị thất thủ, tướng Minh là Trương Phụ đã tịch thu hết cả cổ kim thư tịch Việt Nam, chở về Kim Lăng, để thực hiện chính sách ngu dân và đồng hóa triệt để.
Dưới nhà Hậu Lê, nền văn học lại được một thời phát triển mạnh mẽ; các danh nho như Nguyễn Trãi, Tử Tấn, Phù Tiên được lệnh sưu tầm các sách cổ quý, mười phần cũng được bốn, năm phần. Vua Lê Thánh Tôn, một vị anh quân có tài văn chương lỗi lạc, đã hai lần ban chỉ dụ vào đầu niên hiệu Quang Thuận (1460) và giữa niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) bắt tìm các di thư để lưu trữ vào bí các và trọng thưởng cho các người dâng sách quý. Nhưng công cuộc ấy cũng bị gián đoạn vì loạn Trần Cảo đốt phá kinh thành, hủy hoại thư tịch đầy đường.
Với nhà Mạc, công cuộc thu thập danh thư lại bắt đầu, song đến thời Lê Trung Hưng, khi kinh thành được chiếm lại, các thư tịch một lần nữa lại làm mồi cho binh lửa.
Vì các cớ kể trên, các điển chương, luật lệ của triều Lý và triều Trần ngày này đều khiếm khuyết.
Quyển Thiên Nam dư hạ, một quyển sách ghi chép các chế độ luật lệ văn hàn, điển cáo của nhà Lê, như bộ Thông Điển hội yến của Trung Hoa, mười phần chỉ còn một, hai phần truyền lại…
Sự thiếu thốn các tài liệu và thư tịch cổ kim là một mối trở ngại rất lớn cho sự diễn giảng luật pháp Việt Nam… Vì vậy, sau khi quyết định cải cách phương pháp huấn luyện sinh viên, ban giáo huấn của trường Luật khoa Đại học đã nghĩ ngay đến sự bổ sung khuyết điểm này.
Một mặt, các khóa giảng và các công trình khảo cứu của các giáo sư sẽ được lần lần in ra để đặt nền móng đầu tiên cho một tủ sách luật pháp hiện kim; một mặt, các tài liệu và các thư tịch cổ của tiền nhân còn di lại bằng Hán văn sẽ được phiên âm và dịch ra Việt ngữ để giúp sự khảo cứu thêm phần dễ dãi.
Chúng tôi cảm thấy công cuộc phải làm trong phần thứ hai còn có tính cách khẩn trương hơn phần thứ nhất. Số người am hiểu rành rọt Hán văn một ngày một ít, nếu không kịp nghĩ thu thập và phiên dịch ngay các sách cũ, một di sản tinh thần vô giá sẽ chẳng bao lâu cùng thời gian mai một.
Chúng tôi đã nghĩ đến sự giải quyết vấn đề này, cách đây năm năm, khi bắt đầu nhận diễn giảng môn dân luật Việt Nam tại trường Luật khoa Đại học Hà Nội.
Sau mấy năm khảo cứu thư tịch cũ của ta ở trường Bác Cổ Hà Nội, và tìm được các sách luật pháp từ triều Lê còn di lại, đến đầu hè năm 1954, chúng tôi đã hoài bão được góp viên gạch nhỏ đầu tiên vào việc kiến thiết lại nền văn hóa nước nhà.
Trong lúc quân Pháp đương rút lui ở Bắc Việt, chúng tôi đã mời được một số đông các bậc túc nho tham gia vào Hội đồng dịch sách của trường Luật. Nhưng hiệp ước Genève cắt đôi lãnh thổ đã khiến cho công cuộc văn hóa này bị gián đoạn tự ngày ấy đến nay mới lại tiếp tục được.
Trên lãnh thổ quốc gia, sự tái tục công trình này trong bầu không khí hoàn toàn tự do sẽ là một bằng chứng hùng hồn để minh xác rằng, mặc dầu phải trải qua bao biến cố dân tộc tính Việt Nam nhất định bất khuất trước mọi lực lượng xâm lăng, trên phương diện văn hóa cũng như trên phương diện chính trị.
***
Về các thư tịch của nhà Lê còn lưu truyền tới nay, cũng còn một số khá nhiều tài liệu như các sách:
Thiên Nam Dư Hạ tập A. 334
Hồng Đức Thiện Chính Thư A. 330
Quốc Triều Thư Khế thể thức A. 1947
Quốc Triều Khám Tụng điều lệ A. 2755 và 2755 bis
Quốc Triều Chiếu Lệnh Thiện Chính A. 257
Cảnh Hưng Điều Luật A. 1945
Chúc Thư Văn Khế Cựu Chỉ A. 2917
Song quan trọng nhất là quyển Quốc Triều Hình Luật mà hiện nay tại trường Bác Cổ còn lưu trữ nhiều bản (A.2669; A.1995; A.341), không kể bản được chép lại trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú dưới triều Nguyễn, từ quyển 33 đến 38.
Để có một ý niệm đầy đủ về nền luật pháp hùng hậu của nhà Hậu Lê (1428-1788), các sách trên đây sẽ được lần lượt xuất bản. Nhưng địa vị danh dự phải dành cho bộ “Quốc Triều Hình Luật”, một bộ luật vừa phong phú vừa phản chiếu trung thực tinh thần Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn cực thịnh trong pháp chế sử nước nhà.
Và cũng vì lẽ ấy, quyển sách này đã được xuất bản đầu tiên trong thư tịch Việt Nam của trường Luật Khoa Đại Học.
***
Trước khi phân tích tinh thần và nội dung của bộ Quốc Triều Hình Luật, để giới thiệu sách cùng độc giả, thiết tưởng cũng cần phải phác họa qua phương pháp đã được áp dụng trong sự phiên dịch bộ luật này.
Sách này gồm có ba phần.
Phần thứ nhất là phần phiên âm và dịch nghĩa. Hán văn vốn đã uẩn xúc và linh động, văn thể của các điều khoản trong luật lại càng uẩn xúc và linh động hơn.
Chỉ thay đổi vị trí của vài chữ trong cách chấm câu, ý nghĩa của câu văn đã khác hẳn. Ngoài ra, trong bản chép tay cũng như trong các mộc bản, thợ khắc có khi còn bỏ sót một đôi chữ; hoặc giả vì gặp tên húy nhà vua phải tránh, mà khắc hẳn chữ khác, hay rút bớt nét chữ cho nên sự phiên dịch gặp nhiều khó khăn phức tạp.
Hơn nữa, có một vài định chế cũ ngày nay không còn để lại dấu vết trong xã hội hiện tại; vì danh từ đã từ lâu không còn thông dụng, cho nên ít người thấu đạt được ý nghĩa rõ ràng. Chúng tôi chỉ đơn cử một thí dụ: trong bộ Quốc Triều Hình Luật, trong nhiều điều, có ghi hình phạt làm khao đinh. Phần đông các vị túc nho mà chúng tôi đã có hân hạnh được gặp, không rõ nghĩa xác thực của danh từ này. Trong ban dịch sách, có một vị giảng là hình phạt làm phu nhổ cỏ, nhưng cũng không nhớ được, danh từ ấy xuất xứ ở đâu.
Vì có một số khuyết điểm không thể tránh được như vậy, cho nên trong khi ấn loát sách này, chúng tôi đã nghĩ đến việc cho chụp ảnh nguyên văn sách cũ ngày xưa còn lưu lại, và cho in các ảnh ấy vào phần thứ hai trong sách này để các bậc học giả tiện việc kê cứu và có thể chỉ giáo cho ban Tu thư của bản trường những khuyết điểm cần bổ khuyết.
Thay mặt ban giáo huấn, chúng tôi xin cảm tạ trước các nhà bác nhã vui lòng mách bảo cho tất cả các chỗ sai lầm thiếu sót, để cùng bắt tay với chúng tôi vào việc tài bồi nền văn hóa cổ truyền của chúng ta.
Sau hết, để cho việc tra cứu dễ dàng, sách này, trong một phần thứ ba, gồm có một mục lục phân tích xếp theo mẫu tự. Soạn một cách tinh vi, đầy đủ, theo một tinh thần khoa học, mục lục này vốn là công trình của ông Nguyễn Khắc Nhân tốt nghiệp Cao đẳng Luật khoa (ban Tiến sĩ) và hiện làm phụ khảo tại trường Luật Khoa Đại học. Lần này là lần đầu tiên, trong các sách luật viết bằng Việt ngữ có một bảng mục lục phân tích công phu như vậy.
Trước khi bàn đến hình thức và tinh thần bộ Quốc Triều Hình Luật, thiết tưởng, còn cần phải giải quyết một vấn đề lịch sử: Bộ Quốc Triều Hình Luật đã được ban bố vào năm nào.
Chỉ sau khi đặt bộ luật này vào khung cảnh thời gian, chúng ta mới lĩnh hội được tinh thần vừa thực tế vừa tân kỳ của bộ luật ấy, đối với tình trạng xã hội Việt Nam đương thời.
Hơn bốn mươi năm nay, khi nói đến luật pháp nhà Lê, người ta thường liên tưởng ngay đến bộ Luật do Deloustal dịch sang tiếng Pháp dưới nhan đề “Nền tư pháp tại Việt Nam khi xưa” (Dịch và chú thích bộ Luật nhà Lê. - Hanoi, IDEO, 1911) (La justice de l’ancien Annam. Traduction et Commentaire du code des Lê. Hanoi; IDEO, 1911).
Bộ luật triều Lê do Deloustal dịch là bộ luật nào?
Lúc ban đầu, Deloustal đã căn cứ vào bộ “Lịch Triều Hiến Chương” của Phan Huy Chú mà dịch thiên “Hình Luật Chí” gồm các quyển 33 đến 38 của bộ sách đó.
Năm 1908, viên Giám đốc trường Bác Cổ là Maitre có tìm thấy ở Huế một bản chép tay nhan đề “Lê Triều Hình Luật”. So với thiên “Hình Luật Chí” của Phan Huy Chú thì bộ “Lê Triều Hình Luật” này còn đầy đủ hơn (vì sách của Phan Huy Chú bỏ sót 143 điều về các quan chức). Về sau Deloustal đã dịch theo bản “Lê triều hình luật” này.
Theo ý kiến của Deloustal, quyển “Lê Triều Hình Luật” chắc chắn là quyển “Lê Triều Điều Luật” in vào năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777) như Phan Huy Chú đã ghi trong thiên “Văn tịch chí” của bộ “Lịch Triều Hiến Chương”.
Căn cứ vào đó, giáo sư Lingal trong quyển “Các chế độ hôn sản tại Đông Nam Á”, “Les régimes matrimoniaux dans le Sud-Est Asiatique” (Paris 1952), khi nói tới bộ luật nhà Lê đã cho rằng bộ luật này được ban bố vào năm 1777.
Đây là một điều nhầm lẫn lớn cần phải đính chính.
Thật ra năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778) chỉ cho in lại một quyển điều lệ về tố tụng nhan đề là “Quốc Triều Khám tụng điều lệ”. Cuốn này khác hẳn với bộ luật hình triều Lê, và cũng không phải là soạn thảo vào năm 1777 mà đã được soạn thảo trước đó một Giáp, tức năm 1718, dưới triều vua Lê Dụ Tông.
Tại sao có sự nhầm lẫn này? Ở trường Viễn Đông Bác Cổ hiện nay còn lưu được hai bản của bộ “Quốc Triều khám tụng điều lệ”. Tờ thứ hai của bộ luật này có ghi rõ “Cảnh Hưng, tam thập cửu niên, Mậu Tuất trọng thu, cốc nhật trùng san” nghĩa là: in lại ngày tốt tháng thứ hai mùa thu năm Mậu Tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39.
Dưới nhan đề quyển “Quốc Triều khám tụng điều lệ” lại có hàng chữ: “Chuẩn định Đinh Dậu” nghĩa là Đinh Dậu thì ẩn định xong.
Năm Cảnh Hưng thứ 39 là năm Mậu Tuất (1778). Vậy năm Đinh Dậu là năm trước, tức Cảnh Hưng thứ 38 (1777). Chắc là suy luận như vậy, nên Phan Huy Chú đã ghi trong thiên “Văn Tịch Chí” của bộ “Lịch Triều Hiến Chương” là năm Cảnh Hưng thứ 38 có ban hành bộ “Quốc Triều điều luật”. Và cũng vì đó mà các ông Deloustal và Lingal kết luận rằng bộ luật hình nhà Lê đã ban bố vào năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777).
Vậy bộ luật nhà Lê đã ban bố vào năm nào?
Hiện nay ở trường Bác Cổ Hà Nội còn lưu trữ ba bản.
- Một bản chép tay nhan đề “Lê Triều hình luật” (số sách A.2669) mà chắc là Deloustal đã dùng để dịch sang tiếng Pháp. Bản này không có niên hiệu. Song căn cứ vào nhan đề, có thể nói rằng đây chỉ là bộ luật chép lại sau đời nhà Lê, vì nếu chép vào đời nhà Lê ắt phải có nhan đề là “Quốc Triều Hình Luật”.
- Hai bản in mộc bản nhan đề “Quốc Triều Hình Luật” (số sách A.1995 và A.341). Hai bản này cũng đều không có niên hiệu.
Dịch các mục “Văn Tịch Chí” của Phan Huy Chú trong bộ “Lịch Triều Hiến Chương” và mục “Nghệ Văn Chí” của Lê Quý Đôn trong bộ “Đại Việt Thông Sử”, giáo sư Gaspardone có chú thích thêm những điều sở kiến của ông về những thư tịch nói trong hai mục trên (Tập san trường Viễn Đông bác cổ, 1955).
Về bộ luật hình nhà Lê, giáo sư có ghi rằng ông có một bản nhan đề là “Quốc Triều điều luật”. Ở cuối bản ấy, có in thêm một tập từ hàn dưới nhan đề “Bách Gia Công Án Tập” in năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765) và ở đầu tập từ hàn có một đạo chỉ dụ ngày 14 tháng 10 năm Hồng Đức thứ 4 (6-11-1473).
Viết thư hỏi về cuốn sách này, chúng tôi được giáo sư trả lời đại khái là cuốn của ông nhan đề là “Quốc Triều Hình Luật” chứ không phải “Quốc Triều điều luật”, và hơn nữa cũng bị thất lạc rồi. Sau cùng giáo sư nhìn nhận rằng bản của ông là bản số A.2754 của trường Bác Cổ.
Hiện nay vì tình hình chính trị chúng tôi chưa thể khảo cứu thêm gì được về cuốn sách A.2754.
Nhưng dù cuốn sách này được in năm nào chăng nữa, cũng chỉ có thể coi rằng đó chỉ là một cuốn tục bản những luật lệ của nhà Lê mà thôi.
Việc quan trọng vẫn là vấn đề: bộ luật hình nhà Lê (mang nhan đề này hay nhan đề khác) đã được ban bố vào thời nào?
Chúng ta có nhiều lý do để xác nhận rằng bộ luật đó đã được ban bố dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497).
Trước hết có một lý do lịch sử.
Nhà Lê làm vua được 360 năm, kể từ khi Bình Định Vương Lê Lợi, sau khi đánh đuổi quân Minh, lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Lê Thái Tổ (1428) cho đến khi vua Lê Mẫn Đế tức Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Tàu (1788) để cầu ngoại viện chống lại vua Quang Trung nhà Tây Sơn.
Tuy nhiên, khoảng thời gian 360 năm ấy, có thể phân chia làm hai thời kỳ:
1) Thời kỳ Lê triều toàn thịnh (1428-1527).
Trong một thế kỷ, các vua Lê kế tiếp nhau làm vua trong toàn thể cõi Việt Nam. Sự thực trong thời kỳ này, ta cũng phải phân biệt hai giai đoạn:
a) Giai đoạn cực thịnh trong 70 năm đầu (1428-1497) gồm có các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tôn, Lê Nhân Tôn và nhất là vua Lê Thánh Tôn, là các đời vua cai trị có tài.
b) Giai đoạn quá độ gồm 30 năm sau, tuy quyền hành các vua Lê vẫn còn, song các vua đều kém tài cai trị, chơi bời tửu sắc không thiết đến chính sự do đó cái mầm Nam Bắc phân tranh đã nảy nở ra trong nước từ giai đoạn giao thời này.
2) Thời kỳ Nam Bắc phân tranh: Thời kỳ này cũng gồm hai giai đoạn:
a) Giai đoạn Nam Bắc triều (1528-1600).
Nhà Mạc nổi lên cướp ngôi nhà Lê, làm vua ở phía Bắc, còn con cháu nhà Lê, được các trung thần phò tá, lui về vùng Thanh Hóa, Nghệ An thiết lập một triều đình khác, chống với nhà Mạc hơn 70 năm: Đấy là thời kỳ Nam Bắc triều. Sự thực trong thời kỳ này, các quyền bính của vua Lê đã hữu danh vô thực. Gây lại nghiệp cho nhà Lê, họ Trịnh đã nắm hết quyền hành trong triều và nghiễm nhiên xưng chúa.
b) Giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh (1600-1788).
Sau khi nhà Mạc bị dẹp tan, sự phân tranh đất nước lại tiếp diễn dưới hình thức Trịnh Nguyễn tranh quyền cho đến khi nhà Tây Sơn nổi lên, thống nhất toàn quốc.
Sự ôn lại các biến cố lịch sử trên này rất quan trọng vì nhờ đó ta có thể hiểu được sự tiến hóa của nền luật pháp triều Lê.
Lẽ dĩ nhiên, các luật pháp quan trọng của triều Lê đều được ban bố trong thời kỳ cực thịnh. Có thể nói rằng sau đời vua Lê Thánh Tôn, nhà Lê đã bước sang giai đoạn suy vi và từ đó không có được thêm một đạo luật pháp nào quan trọng về hình sự hoặc về dân sự.
Vua Lê Hiến Tông (1497-1504), nối ngôi vua Lê Thánh Tông cũng vẫn thường nói: “Vua Thái Tổ đã gây dựng nên cơ đồ, vua Thánh Tông đã sửa sang mọi việc, ta nay chỉ nên lo gìn giữ nếp cũ, và mở mang sự nhân chính ra cho sáng rõ công đức của ông cha ngày trước”(Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược). Lời nói trên này thật đã miêu tả rất đúng lịch trình tiến hóa của luật pháp triều Lê.
Ngày nay, đứng về phương diện pháp chế sử, ta có thể nói một cách khái quát rằng cuối thế kỷ thứ 15 đã vạch rõ một đường ranh giới trong lịch trình ấy.
a) Trong thời kỳ đầu tiên (1428-1497) (từ đời Lê Thái Tổ cho đến cuối đời Lê Thánh Tôn) có rất nhiều luật pháp được ban hành, đánh dấu một thời kỳ cực thịnh của nền pháp luật Việt Nam, về hai phương diện hình và hộ.
b) Trong thời kỳ thứ hai (1497-1788) gồm 300 năm, quyền hành nhà Lê suy vi, tuy cũng có các luật pháp ban hành, song chỉ liên quan đến nền tổ chức tư pháp và cách thức thưa kiện. Nói một cách khác, trong thời kỳ này, ta chỉ có những luật lệ về tố tụng.
Như vậy năm 1777, vào thời Lê mạt, vận nhà Lê đương lúc tàn cục, ở ngoài Trịnh Nguyễn phân tranh, binh lửa ngụt trời, trong triều, chúa Trịnh tước đoạt hết quyền bính nhà vua, đâu phải là lúc các nhà cầm quyền rảnh óc để san định một bộ luật mới?
Kiểm điểm lại những tài liệu luật pháp nhà Lê hiện còn lưu trữ ở Thư viện Trường Bác Cổ mà trên đây chúng tôi đã kể danh sách, ta sẽ nhận thấy tất cả các bộ luật chính yếu của nhà Lê đã được soạn ra dưới niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), triều vua Lê Thánh Tông(Triều vua Lê Thánh Tông gồm ahi niên hiệu: Quang Thiện 1460-1470; và Hồng Đức 1470-1497 ).
Bộ “Hồng Đức thiệu chính thư”, như nhan đề đã chỉ rõ, gồm các luật lệ ban bố dưới thời Hồng Đức.
Bộ “Thiên Nam dư hạ tập” gồm 100 quyển, do chính vua Lê Thánh Tông đề tựa, theo Việt sử(Khâm định Việt sử thông giám cương mục XXIII, 40-b, Đại Việt sử ký toàn thư XIII, 36- a) và theo “Lịch triều Hiến Chương” của Phan Huy Chú (Hiến chương, Văn tịch chí XIII) được san nhuận vào tháng 11, năm Hồng Đức thứ 14 (1483) dưới sự điều khiển của Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cư và Đàm Văn Lễ.
Còn các bộ luật soạn vào thời sau Lê Thánh Tông chỉ có tính cách phụ thuộc: “Quốc Triều Thư Khế Thể Thức” là một cuốn từ hàn, “Quốc Triều khám tụng điều lệ” là bộ luật về tố tụng, “Quốc Triều chiếu lệnh thiện chính” liên quan đến công pháp hơn là tư pháp, “Cảnh Hưng điều lệ” chỉ gồm có một ít điều lệ ghi trên 32 tờ giấy, “Chúc thư văn khế cựu chỉ” là tập chúc thư văn khế cũ.
Một lý do thứ hai khiến ta có thể tin được bộ luật hình nhà Lê được ban bố dưới triều vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức, là những lời quy chiếu cụ thể và chính thức của Phan Huy Chú và vua Gia Long.
Thật thế, Phan Huy Chú ở đầu quyển 33 bộ “Lịch triều Hiến Chương” cũng nói rằng về đời Lê có ban hành bộ “Hồng Đức hình luật”. Bộ luật này châm chước các bộ luật nhà Tùy và nhà Đường ở Trung Hoa. Phan Huy Chú lại ghi rõ thêm: “Các đời sau vẫn theo bộ luật ấy. Tuy có vài sự sửa đổi nhỏ trong lời văn, hay trong cách xếp đặt loại mục tùy theo thời kỳ, song các điều khoản căn bản vẫn không thay đổi. Bộ luật ấy đã được dùng làm quy củ để cai trị trong nước và cải thiện lòng người”.
Hơn nữa, vua Gia Long, đề tựa quyển Hoàng Việt luật lệ, năm Gia Long thứ II (1812), đã viết: “Mở các Hình thư các triều cũ mà xét, ta thấy trong nước Việt Nam mỗi triều Lý, Trần, Lê đều thiết lập điển pháp để cai trị và dưới đời nhà Lê, các chế độ đã được qui định đầy đủ trong Luật Hồng Đức.
Ở Trung Hoa, các bộ luật ban bố dưới các triều Hán, Đường, Tống, Minh, đã được san định lại dưới mỗi triều và đến nhà Đại Thanh lại được bổ túc thêm”.
Vì vậy vua Gia Long đã truyền cho lấy luật Hồng Đức và luật nhà Thanh làm căn bản để soạn ra bộ luật triều Nguyễn.
Đây là hai chứng cớ cụ thể và chính thức, ở đầu thế kỷ thứ 19 nghĩa là không cách khoảng Lê mạt vài chục năm để tỏ rõ là luật nhà Lê chính là luật Hồng Đức.
Ngày nay, trong dân gian, khi nói đến bộ luật nhà Lê, ai cũng liên tưởng ngay đến bộ luật Hồng Đức. Như vậy đủ hiểu là bộ luật nhà Lê đã gây được một ảnh hưởng sâu xa trong xã hội Việt Nam và còn truyền tụng mãi tới nay.
Căn cứ vào các sự kiện trên, ta có thể coi bộ Quốc Triều hình luật như đã được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và phần chắc là vào những năm cuối cùng niên hiệu Hồng Đức, dưới đời Lê Thánh Tông. Các đời vua sau chỉ cho in lại bộ luật ấy và chắc chắn là bộ luật ấy đã được in lại nhiều lần dưới triều nhà Lê.
***
Bộ “Quốc triều Hình luật” được phiên âm và dịch nghĩa sau đây là một trong hai mộc bản hiện còn lưu trữ ở trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Hai bản này đều nhan đề là “Quốc Triều Hình Luật” và mang số thư viện A.1995 và A.341. Bản A.341 toàn vẹn hơn và có thêm ba bản đồ:
- Một bản đồ đã rách nát mất một phần lớn. Theo những chữ còn lại, ta được biết là trong bản đồ ấy nhà làm luật ấn định kích thước các hình cụ: như roi, trượng, gông, cùm, v.v…
- Bản đồ thứ hai: ngũ phục tông đồ hay bản đồ năm hạng tang phục.
- Bản đồ thứ ba: bản tông cửu tộc ngũ phục chi đồ hay bản đồ để tang chín hàng họ trong họ nội.
Ba bản đồ trên cũng được chụp hình và in kèm trong phần thứ hai quyển sách này.
Về cách bố cục, bộ “Quốc Triều Hình Luật”, gồm có sáu quyển, mỗi quyển có hai chương (trừ quyển ba có ba chương).
Quyển thứ nhất: I- Danh lệ các hình phạt 49 điều.
II- Lính nhà vua và những nơi cấm địa 47 điều.
Quyển thứ hai: I- Các việc trái phép 144 điều.
II- Quân chính 43 điều.
Quyển thứ ba: I- Hộ hôn (gia đình và giá thú) 58 điều.
II- Điền sản 32 điều, thêm 27 điều mới.
III- Thông gian 10 điều.
Quyển thứ tư: I- Cướp và trộm cắp 54 điều.
II- Đả thương 50 điều.
Quyển thứ năm: I- Gian dối 38 điều.
II- Các luật linh tinh 92 điều.
Quyển thứ sáu: I- Tróc nã 12 điều.
II- Tù phạm đương xử án 15 điều.
Các nhà Luật học Tây phương thường công nhận một cách quá dễ dãi ảnh hưởng rõ rệt của luật nhà Đường đối với bộ luật nhà Hậu Lê.
Riêng về phương diện hình thức, giữa cách bố cục của hai bộ luật, đã có một sự sai biệt cần được vạch rõ.
Trong Bộ Đường Luật Sơ Nghị, tức là bộ Luật của nhà Đường, sự phân loại phiền toái hơn và gồm có 12 thiên:
1. Danh lệ: (danh lệ các hình phạt).
2. Vệ cấm: (lính nhà Vua và các nơi cấm địa).
3. Chức chế: (quan chức).
4. Hộ hôn: (kiểm tra, hôn nhân…).
5. Khái khổ: (Công khố).
6. Thiện hưng: (chuồng voi, chuồng ngựa của nhà vua, quân đội).
7. Tặc đạo: trộm cướp.
8. Đấu tụng: đánh nhau.
9. Trá ngụy: gian dối.
10. Tập Luật: luật linh tinh.
11. Bộ vong: bắt các tù trốn.
12. Đoán ngục: tạm giam.
Trái lại, trong bộ luật nhà Hậu Lê, có một sự cố gắng để đi đến chỗ tập hợp các chương liên lạc về một vấn đề vào cùng một quyển. Tuy kết quả không được thập phần mỹ mãn, song điều này cũng không lấy gì làm lạ, vì trong cổ luật ở Đông phương, chưa có ý niệm phân biệt rõ rệt các ngành luật pháp, như luật hộ, luật hình, luật hành chính, luật thủ tục, v.v…
Sự thiếu một sự hoạch định minh bạch phạm vi của mỗi môn luật cũng dễ hiểu. Quan niệm sơ khai về pháp luật ở Đông phương nói chung, và Trung Hoa nói riêng, chỉ là quan niệm một tập thể các điều đặt ra để áp dụng cho những dân tộc man di sống ở chung quanh Trung Hoa, bị Trung Hoa thống trị. Riêng đối với dân tộc ấy mới cần dùng luật để giữ họ theo con đường chính đạo: còn đối với dân tộc có lễ giáo như dân tộc Trung Hoa, hà tất phải dùng luật. Vì vậy chữ tỵ ở nước Tầu có ba nghĩa: 1) hình phạt, 2) bộ luật, 3) tướng. Ba nghĩa ấy đều phát xuất ở một ý niệm: sau khi chinh phục bằng quân lực, phải đặt hình phạt để ngự trị dân man di.
Và cũng do quan niệm nguyên thủy về pháp luật như vậy, cho nên luật ở Đông phương chỉ được thảo soạn dưới hình thức luật hình. Từ những bộ luật khắc vào đỉnh đồng của Tử Sẳn ở nước Trịnh (năm 536 trước kỷ nguyên), của Triệu Dương ở nước Tần (năm 513 trước kỷ nguyên), hay khắc vào các thẻ bằng tre ở nước Trịnh như bộ Trúc hình của Đặng Tích (năm 501 trước kỷ nguyên), cho tới bộ Đường luật Sơ Nghị của Trung Hoa, bộ Quốc Triều Hình Luật của Lê Thánh Tông và sau này bộ Hoàng Việt luật lệ của Gia Long, quan niệm này, trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn không thay đổi, tượng trưng óc bảo thủ bất di bất dịch của Đông phương.
Tinh thần tồn cổ đó càng mãnh liệt chừng nào, lại càng chứng tỏ thái độ mạnh bạo đáng khen của nhà lập pháp triều Lê đã cố gắng tìm cách thoát ly khung cảnh cố hữu ấy.
Bộ Quốc Triều Hình Luật gồm cả thảy có 722 điều; song các điều luật không được đánh số như trong những bộ luật của Tây phương. Tuy nhiên, ở đầu mỗi chương của bộ luật triều Lê có ghi rõ tổng số điều ở trong chương. Thí dụ: ở quyển thứ nhất, đầu chương thứ nhất có ghi: Danh lệ chương phàm tứ thập cửu điều (chương nói về danh lệ, gồm 49 điều); đầu chương thứ hai có ghi: Vệ cấm chương, phàm tứ thập thất điều (chương nói về lính nhà vua và các nơi cấm địa, gồm 47 điều). Để cho tiện việc khảo sát, trong sách này, mỗi điều luật đều mang hai con số: số thứ nhất, là số thứ tự liên tục cho toàn bộ từ 1 đến 722; số thứ hai là số thứ tự riêng cho từng chương một. Trong bảng mục lục phân tích in ở cuối sách để giản dị hóa sự tra cứu, chỉ ghi có một số thứ tự toàn bộ.
***
Ngoài hình thức mới mẻ, so với bộ luật nhà Đường, bộ Quốc Triều Hình Luật của nhà Hậu Lê còn xứng đáng là một công trình tuyệt tác, về phương diện tinh thần.
Các điều khoản của bộ luật này đã phản chiếu hai loại đặc điểm: 1) Các đặc điểm chung cho các hệ thống pháp luật cổ truyền ở Đông phương. 2) Các đặc điểm riêng biệt đối với tình trạng xã hội Việt Nam.
1) Các đặc điểm chung cho các hệ thống pháp luật cổ truyền ở Đông phương.
Những đặc tính chung cho các hệ thống pháp luật cổ truyền ở Đông phương có thể quy vào hai điều, vốn là hậu quả của hai chủ nghĩa nhân trị và pháp trị.
a) Do ảnh hưởng của nhân trị chủ nghĩa, nhà làm luật lúc nào cũng hướng mọi sự cố gắng về mục đích cao cả trau dồi nhân cách. Quan niệm này đã xóa nhòa biên giới giữa hai phạm vi luân lý và pháp luật, khác hẳn quan niệm của Tây phương.
Ở nước ta dưới triều Lê, nho học đương ở trong thời kỳ cực thịnh (Dưới đời Lê Thái Tông 1434-1442, lần đầu tiên cho khắc tên những người đậu Tiến sỹ vào bia đá Văn Miếu. Đời vua Lê Thánh Tông là một thời văn học cực thịnh: Nhà vua lập hội Tao Đàn và thi ca nôm phát triển rất mạnh: Hồng Đức Quốc âm thư tập), lẽ tất nhiên quan niệm của Khổng - Mạnh không sao không có một ảnh hưởng sâu xa đối với pháp luật. Vì vậy nhà làm luật chú trọng đặc biệt đến những điều liên can đến luân lý, đến chỗ duy trì các thuần phong mỹ tục.
Để chứng tỏ điều này, chỉ cần lược cử một vài thí dụ: Điều thứ hai trong bộ Quốc Triều Hình Luật, nói về 10 tội ác (thập ác).
Trong số 10 tội ác, tội thứ bảy là tội bất hiếu: nghĩa là cáo giác hay chửi rủa ông bà, bố mẹ hoặc ông bà bố mẹ chồng, không tuân theo mệnh lệnh của bố mẹ (Trong luật nhà Đường, điều này khác: tự ý bỏ nhà, phân chia tài sản), không phụng dưỡng bố mẹ, cưới xin trong khi có tang cha mẹ, vui chơi trang sức trong khi tang chế, được tin ông bà bố mẹ chết mà không chịu tang hoặc phát tang giả dối.
Tội ác thứ 8 là tội bất mục, mưu giết hay bán các thân thuộc (cho đến ngũ đại), đánh hoặc cáo giác chồng hay các tôn thuộc (cho đến tam đại).
Tội ác thứ mười là nội loạn tức là loạn luân, thông dâm với thân thuộc từ hàng thứ tư trở lên, hoặc với tỳ thiếp của bố hay của ông.
Những tội ác trên này, tuy chỉ thuộc về phạm vi luân lý nhưng được xếp ngang hàng với các tội ác chính trị như mưu phản: lật đổ nền cai trị của nhà vua, (tội ác thứ nhất), mưu đại nghịch, phá đền đài, lăng tẩm nhà vua (tội ác thứ hai), mưu loạn: phục vụ nước địch (tội ác thứ ba).
Thí dụ thứ hai: Các điều 130 và 131 càng chứng tỏ giữa pháp luật và luân lý không còn cương giới rõ rệt. Các bổn phận con cháu đối với cha mẹ, ông bà ở trong gia đình không phải chỉ là các nghĩa vụ luân thường; trái lại, nhà lập pháp đã trù liệu những hình phạt nặng nề nếu các nghĩa vụ ấy không được tôn trọng.
Theo điều 130, nghe thấy tang ông bà, cha mẹ và chồng mà không khóc thì phải tội đồ làm khao đinh, đàn bà phải tội đồ làm tang thất phụ (làm việc chăn tằm). Trong khi có tang, bỏ đồ tang mặc đồ thường mà vui chơi đàn hát thì biếm hai trật. Gặp đàn hát mà nghe hay là dự những việc vui mừng đều phải phạt 80 trượng.
Cùng nhiễm một tinh thần, điều 131 trù liệu: ông bà, cha mẹ và chồng bị tội tử hình còn đang phải giam mà con cháu hay vợ lại đàn hát thì phải biếm hai trật.
Thí dụ thứ ba: Đạo hiếu trong nền luân lý Đông phương còn rất nhiều hình thái. Không phụng dưỡng ông bà, cha mẹ là thất hiếu. Kiện ông bà, cha mẹ cũng là thất hiếu. Tất cả các hành vi bất luân này, dưới thời Hồng Đức, do ảnh hương sâu xa của nhân trị chủ nghĩa, đều bị nghiêm phạt.
Theo điều 506, con cháu không theo lời dạy bảo, và không phụng dưỡng mà ông bà cha mẹ đi thưa thì phải tội đồ khao đinh; con nuôi, con kế, mà thất hiếu với cha nuôi cha kế tội giảm một bậc và mất những tài sản đã được chia cho.
Điều 511, trừng trị các con cháu kiện nhau với ông bà cha mẹ, ông bà ngoại hay vợ kiện ông bà cha mẹ chồng. Họ sẽ phải biếm một tư; nếu lý lẽ trái thì phải thêm tội một bậc.
Nhà làm luật coi nền tảng gia đình trọng hơn là trật tự công xã hội. Cho nên, dù cha mẹ, ông bà có phạm tội thật chăng nữa, con cháu cũng không có quyền tố cáo, nếu không sẽ phải tội lưu viễn châu. Tố cáo ông bà ngoại, cha mẹ và ông bà chồng, hay đầy tớ tố cáo chủ cũng phải chịu cùng một tội (điều 504).
***
Nhân trị chủ nghĩa vụ vào sự tu thân lấy lễ, nhạc làm phương pháp cốt yếu để giữ cho cái tính thiện vốn sẵn có của con người khỏi bị sai lạc. Theo sách Khổng Tử tập ngữ, cái thường tính của lòng người trung nhân hễ có thừa thì xa xỉ, không đủ thì sẻn, không ngăn cấm thì dâm đãng, không theo tiết độ thì sai lầm, buông thả lòng dục thì hư hỏng. Cho nên ẩm thực phải có hạn lượng, y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có phép độ, sức tụ phải có số thường, xe cộ và đồ dùng phải có ngữ hạn, là để phòng giữ nguồn loạn vậy.
Khổng Tử tập ngữ; Tề Lầu Vấn XIII: Trung nhân chi tinh, hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm, vô cấm tắc dậm, vô độ tắc thất, túng dục tắc bại. Cố ẩm thực hữu lượng, y phục hữu tiết, cung thất hữu độ, súc tạ hữu số, xa khí hữu hạn, dĩ phòng loạn chi nguyên giã).
Vì những thị dục của ta đều ở trong tâm, không phải luôn luôn phát xuất bằng cử chỉ ngôn ngữ, nên Khổng giáo phải dùng đến “hình thức chủ nghĩa”. Lễ theo nghĩa rộng là gồm tất cả những nghi thức phải xếp đặt thế nào để có thể gây được một bầu không khí lễ nghĩa, tự nó vừa có tính cách giáo hóa con người, vừa không gây rối trật tự xã hội.
“Lễ là để định thân sơ, quyết sự hiềm nghi, phân biệt cái giống nhau, khác nhau, rõ cái phải trái”. (Lễ Ký Khúc lễ thượng I: Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị, minh thị phi giả).
Cũng vì được thấm nhuần nhân trị chủ nghĩa, rất nhiều điều khoản trong bộ Quốc Triều Hình Luật đã coi lễ là một phương tiện hiệu quả không những để tu thân mà còn để duy trì trật tự xã hội.
Vì vậy đối với mỗi giai cấp xã hội cách xưng hô, (điều 147 và 148) các lễ nghi về tế tự, tống táng (điều 141 và 142) cho đến các thuyền tàu dùng thường ngày, đều được quy định kỹ càng, không được lạm dụng.
***
b) Bộ Quốc Triều Hình Luật, cũng như các bộ luật cũ của ta và của Tầu đã chịu ảnh hưởng rất lớn của nhân trị chủ nghĩa; song pháp trị chủ nghĩa cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng.
Để cho các điều giáo lý trong đạo Khổng Mạnh được mọi người tuân theo triệt để, nhà làm luật đã dùng đến những hình phạt rất nặng. Ta đã rõ điều thứ hai Hình luật nhà Lê coi tội bất hiếu, bất mục là những tội đại ác.
Những điều giáo giới hay giáo hóa dân chúng cũng không phải chỉ là những chỉ thị thông thường. Theo điều 136 Hình Luật nhà Lê, ai không tuân theo các điều ấy sẽ phải tội lưu hay tội tử. Xem như vậy đủ rõ, trong nền luật pháp nhà Lê, không những thiếu một sự phân biệt giữa phạm vi luân lý và phạm vi luật pháp lại còn có cả một sự hàm hỗn giữa hình luật với các điều luật về dân luật như bổn phận vợ chồng, con cái trong gia đình.
Song, các điểm nói trên, hậu quả của các chủ nghĩa nhân trị và pháp trị, cũng chưa đủ để chứng tỏ cái tinh thần đặc sắc của nền pháp luật triều Lê. Sau khi khôi phục lại nền độc lập về phương diện chính trị, nước Việt ta còn biểu thị được cái tinh thần bất khuất cổ truyền qua những điều luật tân kỳ, chưa hề thấy trong pháp chế sử của Trung Hoa.
2) Các đặc điểm riêng biệt đối với tình trạng xã hội Việt Nam.
Các điều luật tân kỳ của bộ Quốc Triều Hình Luật có thể phân làm hai loại. Loại thứ nhất phản chiếu một cách trung thực một tình trạng xã hội đặc biệt của nước ta vào quãng các thế kỷ thứ 15, 16, 17; loại thứ hai biểu lộ một nội dung phong phú và một kỹ thuật pháp lý cao siêu, ghi một bước tiến quan trọng của pháp chế nước nhà.
a) Các bộ luật của Trung Hoa chỉ chú trọng đến các vấn đề liên can đến trật tự công xã hội, và ít trù liệu các vấn đề về quyền lợi tư nhân, vì vậy các vấn đề về dân luật thường không được quy định một cách mỹ mãn. Về giá thú chẳng hạn, chỉ nói tới những điều kiện liên can đến trật tự xã hội, như không được có tang chế, không được làm rối loạn trật tự thê thiếp, còn ngọa giả các vấn đề về hôn sản, các nghĩa vụ của chồng, của vợ, đều không được đề cập đến. Về khế ước, hay chứng thư, cũng chỉ nói đến sự trừng phạt giả mạo, mà không quy định cách tạo lập hay hiệu lực của các chứng thư, khế ước ấy.
Về thừa kế, cũng chỉ nói việc lập đích tử vì định chế này liên can đến nền tảng gia đình xã hội, còn ngoại giả các quyền lợi của thân thuộc, hay của người chết đều không trù liệu.
Thái độ cổ điển này của nhà làm luật phương Đông nói chung và của nhà lập pháp Trung Hoa nói riêng cũng dễ hiểu. Vì trong một xã hội, lấy tổ chức phụ hệ chế làm gốc, bao nhiêu các mối khó khăn trong gia đình đều hoàn toàn phó thác cho người chủ gia đình xử xét. Việc không xong, đã có những người đại diện cho uy quyền của nhà vua, ở cấp làng hay cấp tỉnh phán đoán, theo các giáo điều của đạo Khổng - Mạnh.
Tuy nhiên, bộ Quốc Triều Hình Luật đã thoát ly khỏi cái khuôn khổ cố hữu này. Nhà lập pháp triều Hậu Lê đã quy định trong rất nhiều điều khoản về các vấn đề vừa được nêu ở trên. Các vấn đề hôn sản về thừa kế (điều 374 và tiếp cận), các cách thức tạo lập và chứng nhận chứng thư, cùng di chúc (các điều 366, 390, 589, 611…) đã được trù liệu cặn kẽ. Tất cả các điều khoản liên can đến hương hỏa (quyển 3) đều là những điều khoản đặc biệt của pháp chế nhà Lê; không thể tìm thấy trong một bộ luật cổ nào của Trung Hoa những điều tương tự.
Các đặc sắc này còn có ảnh hưởng cho tới ngày nay qua tục lệ và án lệ. Ở đây, chúng tôi chỉ lược cử hai thí dụ: nếu ta đem so sánh những mẫu chúc thư do các đồng bào ở thôn quê làm ngày nay với các chúc thư được tạo lập với triều Lê, ta sẽ nhận thấy là hình thức không thay đổi. Sở dĩ có sự liên tục này qua tục lệ, là nhờ ở bộ luật Gia Long thay thế cho bộ luật nhà Lê, dưới triều Nguyễn, đã quá câu nệ trong sự bắt chước bộ luật nhà Mãn Thanh, nên đã bỏ hết các điều đặc biệt trong pháp chế cũ. Đứng trước thái độ mặc tĩnh của nhà lập pháp triều Nguyễn, người dân, về các vấn đề dân luật, gần như sống ngoài lề bộ luật Gia Long, và vì lẽ đó, vẫn tiếp tục theo tập truyền đời Lê di lưu lại.
Hơn nữa, ngày nay, các tòa án hiện tại ở Nam Việt, một đôi khi cũng còn phải đi ngược giòng thời gian, để giải quyết nhiều vấn đề không được trù liệu trong bộ Dân Luật Giản Yếu 1883 hay trong bộ Luật Gia Long, như các vấn đề về thừa kế, hương hỏa, và nhất là vấn đề tài sản riêng của người đàn bà có chồng.
b) Ngoài các điều luật phản chiếu trung thực tổ chức gia đình và xã hội Việt Nam, cần phải nhấn mạnh vào một loại các điều khoản khác, biểu lộ một nội dung rất phong phú cũng như một kỹ thuật pháp lý rất khả quan.
Ở đây thiết tưởng không sao kể hết những điều đặc sắc về phương diện này, trong cái kho nguyên liệu vô cùng quí báu và dồi dào bao gồm từ hình luật, dân luật, đến quân lực, luật hành chánh, luật quốc tế, vân vân…
Chỉ cần lần giở qua các trang bộ Quốc Triều Hình Luật, cũng có thể nhận ngay được rằng nhà lập pháp triều Lê đã từng trải qua tất cả những nỗi thắc mắc của các luật gia Tây phương, đối nội cũng như đối ngoại, và trong thời bình cũng như trong thời loạn: điều 37 nói về sự câu phát tội phạm; điều 40 đề cập đến các vấn đề hầu như thuộc về hình luật quốc tế; điều 41 và 47 giải quyết ý chí phạm tội; điều 48 nói về trường hợp giảm hình; điều 79 trù liệu tội sứ thần tư thông với nước ngoài, điều 116 liên can đến tội tiết lậu bí mật nghề nghiệp của các công chức; điều 191 trừng phạt những người làm đồ khí dụng giả dối; điều 198 nói về tội tích trữ hàng hóa; điều 221 trừng phạt các sứ thần ra nước ngoài mua bán hàng hóa, điều 295 nói về cứu trợ xã hội, vân vân…
***
Bộ Quốc Triều Hình Luật còn có giá trị một bài học lịch sử.
Đồng thời với sự cải cách nền luật học trong khuôn khổ Đại Học Quốc Gia, một vấn đề pháp luật khác không kém phần quan trọng cũng cần được giải quyết, sau khi Chánh phủ Quốc gia đã đặt nền tảng vững chắc cho nền độc lập: vấn đề thảo soạn các bộ luật duy nhất về dân sự, hình sự… áp dụng trên toàn thể lãnh thổ để thay thế cho các bộ luật lỗi thời, thảo soạn dưới thời kỳ Pháp thuộc mà vẫn được hiện hành tại Trung, Nam, Bắc.
Về phương diện này, Bộ Quốc Triều Hình Luật đã là một tấm gương sáng của tiền nhân lưu lại.
Cũng như các luật gia Lê Triều trước đây năm thế kỷ, nhà lập pháp ngày nay, trong việc xây dựng nền pháp luật mới của nước nhà, phải có nhiệm vụ bảo vệ dân tộc tính, đi sát với các phong tục, chế độ cố hữu mà vẫn không ngừng bước tiến trên con đường kỹ thuật. Trong nhiệm vụ khó khăn này, nhà làm luật luôn luôn phải quan tâm đến hai yếu tố như là lập pháp thời Hồng Đức: một yếu tố tĩnh lực gồm các truyền thống, cổ tục; một yếu tố động lực bắt nguồn ở các nhu cầu mới mẻ của một nền văn minh mỗi ngày một thêm phức tạp.
Nhờ ở sự điều hòa hai yếu tố ấy, luật pháp mới tiến được theo nhịp biến chuyển của xã hội và phản chiếu trung thực các trạng thái của dân tộc.
Được như vậy, ta sẽ không hổ thẹn với công trình của tiền nhân còn lưu truyền lại. Và đó cũng là mối hy vọng tươi sáng đã rạng chiếu tâm khảm chúng tôi hôm nay, ngày kỷ niệm đệ nhất chu niên việc thành lập nền Quốc gia Đại học.
Sài Gòn, ngày 11 tháng 5 năm 1955
Vũ Văn Mẫu
www.trieuxuan.info
|