KHINH VỚI TRỌNG
Thường ngày, chị em gái ngồi nói chuyện với nhau cứ hay phàn nàn rằng: người nọ khinh tôi, người kia không đáng trọng mà lại trọng.
Tôi bèn đem ý nghĩ thô thiển giải nghĩa cái tình khinh trọng như sau này:
Phàm cái tư cách con người có cái đáng trọng khinh thật ví dụ như trọng đạo đức, trọng hiền hiếu, trọng tài năng, trọng thông minh; khinh thì khinh những cách lỗ mãng, xảo trá, xu nịnh, ỷ giàu ỷ có, cậy thế cậy quyền. Đó là lấy theo phong hóa ngày xưa mà nói, chớ xã hội bây giờ khuynh hướng về mặt khác, ai có tiền thì trọng, có chức thì trọng, có tài mà không có tiền cũng khinh, có đức mà không có chức cũng khinh, bởi vậy mà sự khinh trọng trái ngược nhau. Song le, ta ở vào thời nào ta phải biết thời thế mà đối đãi. Cái sự giao thiệp khéo vụng chỉ có chút máy móc ở chỗ đó. Đại để nhơn tình ai cũng ưng người ta trọng mình hết thảy, cái lòng hiếu thắng ấy là cái lòng chung của thiên hạ, vì hiếu thắng mà sinh ra khinh và trọng. Nhưng cũng vì hiếu thắng mới có sự tiến hóa, thế thì ta không nên ghét những người hiếu thắng mà ta chỉ nên định bình hai chữ khinh trọng mà thôi.
Ôi, khinh trọng bởi đâu mà ra, mình tự hỏi mình, có phải tự mình cũng có một phần không? Ai trả lời rằng tại người ta hết thảy, tôi thực không dám tin. Bình sinh tôi có cái tính tự tin rằng, mình chưa có cái ân huệ chi cho thấm đến người, có tài năng chi chỉ đủ dùng việc cho mình, cái đức hạnh cũng vừa đủ giúp thân mình, mà biểu người ta trọng mình thì cũng quá lẽ. Còn sự khinh mình thời mình nếu yên phận không luồn cúi ai, sao ai khinh đặng. Những người chịu sự khinh dễ là nguyên do tại mình khinh mình trước. Ai mượn mình thày lay xong xanh tới chỗ mà mình không có cái địa vị danh dự ở trong, để cho người ta phải rủ lòng thương đoái đến mình, cầu người tức người phải khinh. Nếu mình chưa tránh khỏi các điều ấy, không nên phàn nàn sự khinh trọng của thế gian, mình muốn vuốt hết hai chữ khinh trọng đi, trừ phi đừng đặt mình vào trong cái lồng, thân giá mới cao, chớ đã vào cái lồng bất hạn lồng sơn son thếp vàng hay là lồng tre đan cũng thế. Cái lồng thì không sung sướng bao giờ, không khỏi khinh trọng bao giờ. Nhưng cũng có cái khinh trọng mê muội lương tâm, như là khinh kẻ nghèo khó, khinh đứa tàn tật, trọng nhà cao cửa lớn, trọng thóc lắm, bạc nhiều mà ngỗ nghịch thất hiếu, trốn chúa lộn chồng, thất hạnh thất tiết, không kể đó là trọng nịnh trọng hót, trọng thù phụng, trọng kiếm chác, cho nên trọng cũng có ba bảy đường trọng, biết đâu trọng đó mà không khinh đó hay sao. Bọn ta hà tất quan tâm các điều khinh trọng vô vị như thế.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 12-11-1924; Mục Lời đàn bà
NGƯỜI ĐÀN BÀ MUỐN GIỮ QUYỀN LỢI CHO MÌNH
PHẢI NÊN CÓ MƯỜI ĐIỀU
1/ Sửa mình cho ngay thẳng trong sạch.
2/ Tính cần kiệm siêng năng làm công việc; chớ nên tiêu phí những sự vô ích.
3/ Đối với chồng: phải trọng nể nhau, đừng lấy tình thương yêu mà đem lòng lờn dễ, thường thường cứ coi nhau như một bậc khách quí, mặt mũi tươi cười mà chớ nên dỡn cợt như phường son phấn gió trăng, nết na ỉu nhỉu mà không ai dám phạm điều vô lễ đến mình. Mình phải giữ đạo làm vợ, để cho người ta phải giữ đạo làm chồng, hết lòng hết sức lo lắng công việc trong gia đình, làm sao cho người ta chịu công nhận cái… (mất 8 chữ).
4/ Tình gia tộc đối với cha mẹ chồng, anh em họ hàng nhà chồng: phải coi như anh em cha mẹ họ hàng nhà mình. Chớ có thấy người nghèo kẻ khó, sa sút thua mình mà khinh bỉ, hay là quê mùa dốt nát mà sinh lòng rẻ rúng thì người yêu của mình cũng khó chịu thay.
5/ Biết cách nuôi con: sinh con là nhờ lẽ tự nhiên của tạo hóa, không tự sức mình ưng muốn là đặng. Duy cái công nuôi dạy mới thực sự mình ưng muốn làm sao thì đặng làm vậy; cách nuôi trẻ con, giữ gìn lúc ăn uống, khi đau đớn, khôn lớn khuyên bảo học hành, luyện tập tính tình, gây dựng nên nòi giống tốt lành, thay đỡ một phần trọng yếu cho người đàn ông.
6/ Tính kín đáo, ngăn nắp: người đàn bà dầu giàu sang đến bực nào, mà tính không kín đáo để người ngoài khuy du vào việc nhà, tất sinh lời dèm pha chê cười, vợ chồng giận dữ nhau, anh em chống báng nhau, gia đình xáo trộn bởi đó mà ra. Còn không ngăn nắp, thì mất trật tự đi, việc trước chưa làm lại làm việc sau, kẻ sơ coi làm thân, mỗi việc đều có nhúng tay vào, mà mất còn không biết.
7/ Đối với kẻ hầu người ở trong nhà: bọn ấy là giúp việc cho mình nên niệm công lao khinh trọng, chớ nhứt luật coi giỏi cũng như lếu, hay cũng như dở, mà thất nhơn tâm.
8/ Nghề nghiệp: người ta ở đời có nghề nghiệp mới có giá trị, không hạn nghề gì, cốt để mà tự vệ lấy thân mình, phòng khi lỡ bước sa chân, khỏi mất cái thế con người.
9/ Đối với bạn bè: phải thành tín, làm người ai cũng có bạn, song phải lựa chọn bạn hiền mà chơi, kẻo nữa gần mực ắt đen, há chẳng quan hệ lắm sao.
10/ Tài tích súc, đàn bà với con gái ra làm công việc tuy không bằng đàn ông con trai mạnh dạn hơn, nhưng về phần vén khéo nhen nhúm từng ly từng hào, lại kỹ càng tinh tế xấp bội. Bởi thế mới biết cái thiên chức đã phân chia rành rạnh, coi như gia đình nào hưng vượng, thực không lọt khỏi tay người đàn bà, vậy nên người đàn bà cần phải có tài tích súc. Người đàn bà mà trái cái luật ấy, làm sai bổn phận, sẽ phải phạt mất quyền lợi ngay.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 6-11-1924; Mục Lời đàn bà
(Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái”- 1928)
LẠI MỘT ĐIỀU LÀM PHÚC NỮA
MÀ BỔN PHẬN NGƯỜI NÀO CŨNG PHẢI NÊN CHÚ Ý
Ở Trung kỳ tháng trước, gặp phải trận bão lụt nguy hiểm khốn nạn vô cùng, tưởng người đồng bang ta ai cũng hiểu hết thảy. Sự tai biến ấy nhà nước đã lập ra hội cứu chẩn để quyên tiền giúp cho nạn dân trong mấy tỉnh Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi; những dân cư về bãi bể, nhà cửa trâu bò ruộng trưa hư hại nhiều quá, mà nhất là Phú Yên, tình cảnh lại càng bức thiết lắm; người bỏ xác theo nước, kẻ sống sót không có cơm ăn, sản nghiệp điêu linh, sinh kế cùng khốn.
Có người trong tỉnh ấy thuật chuyện lại bữa hôm một cơn gió thảm sóng sầu, người mất mẹ kẻ mất chồng, lìa con bỏ cái, tan cửa nát nhà, tiếng than khóc vang động một phương. Trời tối đất đen, không còn quang cảnh nào thương tâm thảm mục cho bằng hết nạn ấy đến nạn kia, ba ngày chưa tìm có chỗ mà nương ngụ, bốn năm bữa chẳng mua đặng đồ ăn. Một đồng bạc hai lon gạo, đi từ sáng đến trưa chưa tìm ra làng chợ, tình cảnh rất là bức thiết. May sao sau nhờ có tư giấy mua gạo ở Nam kỳ tải ra, kéo vớt hơi sống của dân đặng thoi thóp lại mà đợi ngày qua tháng khác.
Than ôi! cái tình trạng như thế, e tránh không khỏi việc cơ cận cũng sắp tới nơi. Năm nay sự thiên tai Bắc kỳ, Trung kỳ đều vương phải nỗi khốn khổ, nhưng mà Bắc kỳ vỡ đê thì thoảng một vài năm có nghe luôn, chỉ duy Trung kỳ thiệt không mấy khi có, mà dân Trung kỳ lại nghèo nàn hơn, đã nghèo lại gặp cơn nghèo, cho nên cái sự quẫn bách có thể gấp bội ngoài Bắc vậy.
Dịp trước việc giúp cho nạn dân ba tỉnh ngoài Bắc, thì chị em mình cũng có góp nhau người nhiều kẻ ít mà làm; việc phúc nay mấy tỉnh Phú Yên, Bình định, Quảng Nam, Quảng Ngãi là chính bốn xứ của mình, tưởng nên điều đình làm sao? Dầu trên đã có nhà nước lo toan cứu giúp, nhưng nghĩa vụ người đối với người, tình đồng chủng đồng bang, liên bần tuất nạn, thiết tưởng ai ai cũng có cái lòng thương xót hết thảy, vậy thì chúng ta nên mách bảo với nhau, để xin ký vào sổ quyên của nhà nước một số bạc về phần bọn đàn bà chị em mình có lòng từ thiện cứu chẩn một đôi chút. Chớ không phải như ai chỉ cứ cho chúng mình chỉ biết một việc cúng chùa cầu phúc cho mình, mà không hiểu câu làm phúc cho người. Lại có người nói rằng: nhà tôi có con đi học đã có cúng mấy hào trên trường rồi; người thì nói ông tôi làm việc ở sở đã cho mấy đồng rồi. Nói thế là không phải, ai có bổn phận nấy, trừ ra những nhà thiếu thốn nỡ nói làm chi, chứ nhà đã dư ăn thừa để, thì phải nên làm sao? Ấy cũng ví như ông đi xem hát bà cũng xem, con cũng xem, khi nào có trừ đi đặng. Huống người đã có bụng từ thiện, nghe thấy những điều đau đớn của người đời, tất không ai làm thinh đặng, bởi thế nên tôi muốn bàn bạc với các bà các cô, ngõ hầu ra tay tế độ với người trầm luân, làm phúc nào cho bằng làm phúc này. Gắng lấy!
Sau đây tôi xin nhắc lại câu chuyện với chị em ngoài Bắc; sách có câu: “Thố tử hồ bi, vật thương kỳ loại ” , huống chi hai xứ việc rủi cũng như nhau, lẽ nào người đồng bệnh, dễ tình lại khác; mong rằng các bà các cô cũng biểu đồng tình với người bổn hạt mới là…
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 12-12-1924; Mục Lời đàn bà
ĐÀN BÀ NƯỚC TA ĐỜI NAY
Ai mới đọc qua cái đầu đề, cũng ngỡ rằng nói đàn bà nước ta đời nay, không bằng đàn bà nước ta đời xưa. Nhưng không phải nói thế, tôi nói đây là chấp trung mà nói, bình tình mà nói. Đời xưa có cái hay của người đời xưa, mà đời nay cũng có cái hay của người đời nay, nếu nhất luật mà cho đời nay đàn bà dở hết, xã hội còn mong gì thịnh vượng nữa. Vậy cho nên sự nghị luận phải cho công bằng hết sức; lấy điều hiện tại mà chứng với cuộc tương lai, thì người đàn bà bây giờ đã có cái lòng quảng đại, biết điều suy xét nhiều lắm. Cái tính nết khác không kể, chỉ lấy một việc nghĩa, quyên tiền giúp dân bị bão lụt, ở hai xứ Bắc kỳ, Trung kỳ mới đây đủ hiểu. Hàng ngày trên các báo trương đăng tên các nhà từ thiện, những bà, những cô lạc quyên mà vừa giúp tiền bạc, kẻ ít người nhiều, còn lại kẻ biết tổ chức nên hội chẩn cấp áo quần, như bà Tổng đốc Thanh Hóa Ưng phu nhân, đã nhiệt thành với đồng bào, mà xướng lên việc nghĩa. Trong tỉnh các bà hằng tâm hằng sản đều noi theo, may đủ ba ngàn áo quần gửi vô cho các nạn dân các tỉnh trong Nam. Tại trường nữ học Đồng Khánh cũng có góp nhau may áo quần gửi đi trợ cấp các xứ nữa, thực là cái gương quí báu đã tỏa ra trong nữ giới, vinh hiển thay! Tôi coi cái việc lạc quyên này, đều là người trong phạm vi Hán học còn lại và trong phạm vi tân học mới ra, cùng nhau dắt tay bước lên con đường từ thiện, mối cảm tình quyến luyến tha thiết, có phần chắc chắn mạnh mẽ khác thường thế thì cái tinh thần phong hóa nước nhà vẫn còn đông đúc lắm. Tuy hình thức về phần vật chất mỗi đời tùy theo thời mà thay đổi thực, song không đến hại, mà lại có cái đáng mừng, là sự biết cách làm lành, rất chắc chắn mạnh mẽ, không như trước cứ vu vơ, nói vẽ hồn vẽ bóng, tưởng tượng những cái phúc vị lai, mà quên việc phúc thực hành hiện tại. Nếu cứ thế dần dần tiến lên mãi, thì sau này thuộc về việc công ích công lợi, đàn bà mình cũng sẽ làm đặng một cái địa vị trong xã hội về cái đường từ thiện đó ru.
Nguyên tính trời đã sẵn cho, người đàn bà bẩm chất mềm mỏng thì cái lòng cảm xúc chứa chan vô hạn, thương xót đau đớn hơn người đàn ông, nên sự làm lành hình như dễ lắm. Làm lành mà có cái cội gốc, thì khỏi phải bắt buộc chi, vui mà làm, chỉ duy cần phải có người đem đường chỉ nẻo cho; vì vậy mà cái văn minh tiến hóa đã có ảnh hưởng đến làng khuê tú. Khi trước biết yên lành trong chốn gia đình, nay lại rộng thương cả người đồng loại, biết suy cái lương tâm mà làm lành, chớ không phải vì sự ngũ cầu mà làm lành, chia áo sẻ cơm, vớt nàn đỡ khó cho người nước, thì tình ấy cảm ấy, có tình cảm nào đằm thắm bằng.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 19-12-1924; Mục Lời đàn bà
TỰ DO KẾT HÔN
Sự hôn giá ở bên nước mình là theo phong hóa Á Đông, sách Nho có câu: “Phụ mẫu chi mạng, môi chước chi ngôn”, là nghĩa để quyền cho cha mẹ định liệu, nhờ lời mối dong mà nên; chớ người con thường không dám tự tiện mà lựa chọn lấy, bởi thế mà cũng có chỗ bị cái quyền ức hiếp, không được như nguyện, vì cha mẹ tham chỗ phú quí, hoặc nể vì sự hiện diện với nhau, lỡ lời giao ước trước, về sau thời sự biến cải, làm cho đôi lứa thiếu niên không vừa lòng xứng ý, thành ra cái ái tình không đặng đằm thắm, nhưng đó là trong số mười phần ngẫu nhĩ có một đôi phần chịu thiệt hại ai đó mà thôi, chớ như nhứt luật đều sai lầm đi hết, thì đạo phu phụ còn đâu đến đời nay, nòi giống làm sao dài dặc ra mãi được.
Bây giờ những kẻ tân học hâm mộ cái lý thuyết tiến hóa phương Tây, cho sự hạn chế làm ngăn trở cái tính độc lập mới mong lợi dụng hai chữ tự do, để cho rộng cái quyền phép của mình, mà hòng thi thố các công việc, để cầu ích lợi với đời. Những người học thức cao thâm thì nỏ nói làm chi, còn người ương ương dở dở, bắt chước tự do, thời chỉ làm hại luân lý, phá trật tự hết thảy. Tự do mà ra ngoài cái phạm vi, quên giới hạn, thấy người ta được tự do kết hôn, mình cũng tự do kết hôn, chớ không nghĩ cái phong hóa mình với người là khác nhau thế nào; phong hóa mình là còn ở vào cái gia tộc chủ nghĩa, mà phong hóa người ta thời về xã hội chủ nghĩa, cho nên tư cách độc lập mình chưa có mấy chút, mà sự phục tòng, không muốn phục tòng cha mẹ còn biết phục tòng ai.
Đây tôi không nói những người đàn ông con trai, chỉ xin bàn bạc với chị em đôi lời mà thôi. Nầy, nầy, các chị em ơi! Việc nam nữ hôn giá khi xưa, rất đỗi là cái giáo dục nghiêm khắc như thế mà có chỗ sơ lậu ra lắm để còn không giữ vững tiết hạnh nổi, huống nữa cái dây lễ nghĩa ấy mà nới lỏng ra, thì không biết cái hại đến chừng nào là cùng. Là vì đàn bà con gái thường thường đã sẵn mối thương tâm, nhẹ dạ hay tin người, nếu đem các lời tình tự quyến luyến, lại càng dễ cảm lắm, khi cảm thì không chủ trì cho mình đặng, tơ tình bối rối, phải xiêu lạc theo đường tà tịch, hư nết xấu tên một đời. Bởi vậy mà cái dây ràng buộc đó, là hạnh phúc cho chúng ta, bất tất phải dị nghị. Đổi cũ thay mới mà mong tháo cởi tất cả các cái lề lối thứ tự của mình ngày trước, mà tìm con đường tắt để đi cho mau, biết đâu con đường tắt lại chông gai thập bội. Và cái sự tự do kết hôn, là hai bên trai gái phải cho giàu trí thức tư tưởng để thăm dò nhau, trong khi giao thiệp có đủ nghị lực mà duy trì và quyết đoán đặng, chớ không thì lầm phải những lời hoa ngôn xảo ngữ, giả cảnh ngọt ngào phỉnh phờ nhau, thời thêm nguy hiểm cho đường tương lai chi khỏi hối hận. Nếu con để quyền cha mẹ chủ trương, dầu rủi ro gì nữa, cũng còn có chỗ mà tự ủy, chớ tự do mà bất đắc chí, đến nghĩa…(không rõ chữ), bởi cái lòng hổ thẹn buồn rầu, không biết đổ lỗi vào đâu, mình làm mình chịu, kêu mà ai thương.
Thường thường những tấn bi kịch, diễn ra luôn trên cõi đời này, thực là tại ngộ nhận bốn chữ tự do kết hôn. Than ôi! Tự do kết hôn về phần lợi thì ít, mà phần hại thì không biết bao cơ.
Người mình chưa thể sống riêng ra một cái đời, chỉ một cặp uyên ương với nhau mà vinh hạnh đặng giàu có sẽ có tính độc lập, muốn đem mình để ra ngoài vòng không theo công lệ thường thì phải cho có con mắt tinh đời, chí khí cho thanh cao, nhiên hậu người mới hưởng phần thanh cao. Xưa bên Tàu cũng có một vài chuyện tự do kết hôn, mà thành giai thoại, nay biên vào đây để cho rộng sự nghiên cứu. Song trước phải nên biết rằng bao nhiêu những đám trai gái trước và sau có thành vợ chồng nữa, là thiên hạ cũng cho là một tiếng tự hôn, không phải chính phong mà làm bài học cho ai đặng.
Truyện “Tây kinh tạp chí”có nàng Trác Văn Quân là con gái một nhà đại phú, mười bảy tuổi góa chồng, thấy chàng Tư mã Tương Như là trang thanh nhã thiên tài; khi nghe khúc đàn “Cầu hoàng” bèn theo chàng bỏ hết sự sang giàu sung sướng, cam chịu cực khổ, kết đôi bạn với một kẻ hàn sĩ, chí khí cũng kiên nhẫn lắm thay. Sau chàng làm đến chức thượng khanh.
Nàng Hồng Phất là người thị nữ của ông Dương Tố; Tố làm tể tướng nhà Tùy, oai quyền lừng lẫy, trong nước danh nhơn tứ khách, ra vào làm môn hạ rất đông. Nàng Hồng Phất để con mắt riêng chọn lựa người tri kỷ đã lâu, duy một mình ông Lý Tịnh trong lúc phong trần lạc bạc, mà khí phách hiên ngang; biết là kẻ hào kiệt, canh khuya tìm đến nhà ngụ, nguyền định ước trăm năm, cùng nhau hẹn ước băng ngàn dãi dầu sương tuyết mười mấy năm trời; sau quả Lý đặng đại dụng làm một tay lương tá cho nhà Đường.
Thế là phong trần vật sắc, kén đôi bạn hiền, cũng là thiên cổ kỳ tài vậy. Những người tầm thường làm gì bắt chước cho nổi, biết ai là Lý Tịnh, ai là Tương Như, hay là bọn đeo mặt nạ, nhận lầm có nguy hay không? Gần đây lại có nghe cái tiếng “Băng - bần” tiên sinh rất thịnh hành, ai cũng là ông “Băng - bần” cả; người con gái nào cũng là nàng Cách – lan cả. Chao ôi! Người ta kết giao với nhau cao thượng dường ấy, mà mình diễn ra một cách đê liệt như vậy, nghĩ có buồn cười hay không.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 20.12.1924; Mục Lời đàn bà
TÌNH HỮU ÁI
Cái tình yêu thương anh em chị em là thiên tính, người nào cũng có, mà cứ giữ cho thủy chung đừng sai chạy thì cũng khó; vì cái mối yêu thương khi khôn lớn hay chia ra nhiều nơi, thành thử phai lạt lần lần mà tan đi hết. Như lúc còn cha mẹ, anh em, chị em coi nhau có phải mật thiết là nhường nào, ăn một mâm, nằm một chiếu, cùng đi học, cùng đi chơi, chen vai liền cánh, trước sân trong thềm thú vui hể hả, chỉ biết có cha mẹ anh em chị em thôi.
Từ khi trưởng thành, con gái có chồng, con trai có vợ, gia thất đã nên, giao thiệp đã rộng, thời cái tình hữu ái phân ly từ đó lại gia dĩ sự tang thương biến dịch, cảnh nghèo cảnh giàu xô đẩy lẫn nhau mà càng rời rã ra nữa, đó cũng vì cái vật chất bề ngoài mà hẳn làm cho ám muội cái lương tâm vậy.
Than ôi! Tình máu mủ ruột thịt mà hờ hững thì nhân nghĩa gì với đời nữa. Người mà đối với tình hữu ái đã dở thì dẫu đối với người khác có hay cho mấy cũng là giả dối hết thảy, chẳng qua cái tính ưng mưu lợi lộc cho mình mà phải làm ra dáng đó thôi. Người ta xét tâm thuật con người từ ở chỗ trong gia đình làm trước, để cho vợ mình bỉ bạc anh em mình, hay chồng mình bỉ bạc anh em mình, cũng là cái lỗi tại mình cả, không hay thiện xử làm cho người khác bắt chước theo. Mất tình hữu ái thiệt hại cho đạo ngũ luân , đã vậy mà còn di hại về sau cho con cái. Cái nghĩa tuần hoàn có ở đâu xa. Xe trước ngã làm sao, xe sau ngã làm vậy. Phỏng mình có đành lòng trông thấy con cái đối đãi với nhau lạt lẽo như nước lã không, tất mình cũng thương lắm chứ?
Tục ngữ có câu: “Mười đời chưa rời cánh tay”, thực là một nền phong hóa tốt, gia tộc cũng nhờ đó mà phồn thịnh. Lục thân quyến thuộc phải có tình liên lạc với nhau nhiên hậu mới là con người. Làm con người không phải là khô khan như khỉ gỗ, trơ tráo như tượng đồng, phải
có giọt nước mắt mồ hôi, dây máu mủ vấn vít với nhau. Mình với anh chị em, một cật, một ruột, cục máu xắn đôi, cũng như cái cây có ngành có ngọn, muốn cho gốc rễ bền chặt thì ngành ngọn phải che chở lẫn nhau.
Có người nói rằng: người mình thường hay có tính ỷ lại, cho nên anh em thương yêu nhau, tư giùm cho nhau, làm quen thói lười biếng mà không còn nghĩ gì đến phương kế tự lập. Nói thế cũng phải, nhưng cũng chưa chắc là toàn phải hết, vì cái lòng thương cho thực là thương kia, mới vận động đặng các cách giùm giúp mà có bổ ích, chớ thương mà bất đắc dĩ phải thương, đó là thương hại, chớ không phải là thương chính đáng, đâu gọi là tình hữu ái đặng. Tình hữu ái là có vì thể cái lòng yêu của cha mẹ, cho nên yêu nhau cốt phải khuyên dạy vỗ về, thiết tha đau đớn với nhau, anh em nghèo khổ cũng như mình nghèo khổ, anh em sung sướng cũng như mình sung sướng. Tiền của có thể làm ta được, chứ anh em biết đâu mà kiếm cho có. Đã là anh em nên đối đãi lấy tình hơn lấy lý; vì lấy lý tức là phải đấu tranh, mà đấu tranh thời còn ra gì là hữu ái nữa.
Những nhà anh chị em không được hòa thuận thời cái gia đình ấy thực khó bảo toàn vậy.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 22-12-1924
NGÀY XUÂN RẤT QUÍ HÓA
Hoa đào non nẻo, ngành liễu lơ thơ, “hớn hở nhụy vàng đua trước gió, đậm đà sắc lục rủ bên mành”; nơi nơi rủ gấm phơi là, chốn chốn pháo mừng rượu rước. Cái quan niệm người ta đối với tiết xuân, như có chiều mật thiết vô hạn, mà muôn vật đối với cảnh xuân càng thêm quyến luyến vô cùng. Oanh chào yến gọi, bướm liệng ong bay, dập dìu phách nhịp sanh ca, ngào ngạt hương xông, xạ ướp; lại thêm chín tầng mây tạnh, ngàn dậm bóng im, cảnh tượng thiều quang như thêu như vẽ, ngày xuân quí hóa thay. Nhưng mà cảnh sinh tình chăng? tình sinh cảnh chăng? Chớ như cái vẻ thiên nhiên ấy, mà tinh thần không chú trọng, thời xuân cũng như xuân, cái hình thức dầu phô bày trăm vẻ êm đềm, song lòng người lơ lửng cũng hư độ quang âm mà thôi. Cho nên ngày xuân là ngày vạn vật sinh trưởng, cốt để thúc giục lòng người phấn chấn thêm, về phần học vấn tư tưởng, về phần kỹ nghệ công xảo, đều cần nên tu tiến, chớ để hoài mất thời giờ, như thế cái cảm tình mới không phụ với ngày xuân. Vì non sông cũng nhờ có sức hoạt động của loài người, mà non sông sinh sắc, cỏ hoa cũng nhờ có công tô điểm của loài người mà cỏ hoa tươi vẻ, nay người đời chỉ biết vui xuân mừng xuân, mà không biết quí hóa ngày xuân, đem sự dật lạc lưu liên mà tiêu dùng về trong cái thì giờ hữu hạn, thực là khá tiếc.
Kìa những tuổi thanh niên, cũng ví như cái nụ hoa xuân, đương chịu cái ánh sáng của bóng thiều quang rực rỡ, mà sinh sôi nảy nở, làm cho sự hy vọng về đường tương lai ai nấy cũng nô nức đợi xem cái ngày kết quả, huống tục ngữ lại có câu: “Người ta là hoa đất”, hoa ấy là hoa của nước nhà, nên chi gặp ngày xuân mà càng mong mỏi cho tuổi xuân.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 13-2-1925; Mục Lời đàn bà
NGƯỜI ĐÀN BÀ PHẢI NÊN CHĂM COI VIỆC NHÀ
Gia đình là một cái cơ sở của người ta, ví như con chim có cái tổ, người đàn bà là chủ gia đình, nên cần phải cố công gắng sức, kinh doanh cho thành qui củ, mỗi ngày cho có cơ rực rỡ thêm, nhiên hậu mới mong vững bền lâu dài đặng. Người đàn ông làm nên giàu có, làm nên quan sang mà tay nội trợ không tiêm tất thì công việc lộn xạo, cũng chẳng thành phong thể gì.
Tục ngữ có câu: “Gái ngoan làm sang cho chồng”. Làm sang cho chồng là làm sang cái gì? Có phải trang điểm hoa hột, phấn sáp cho nhiều là sang chăng? Có phải tiêu pha xài phí hết bạc trăm, bạc nghìn là sang chăng? Khôn ngoan mà nhiều lời đặng tiếng cũng không phải, khôn ngoan mà tâm địa nham hiểm cũng không phải cái nghĩa làm sang cho chồng, chỉ những công việc nhà biết chăm nom, biết xếp đặt cho khéo là tùy gia tư từng hạng mà tiêu dùng, đừng hậu lắm, cũng đừng cho tiện lắm. Hậu lắm, thì có khi đến thiếu thốn, túng thế tất phải vay lạm của người ta, ấy là thất thể của chồng con. Tiện lắm, thì như là mình làm nô lệ cho đồng tiền, bo bo mà giữ của đời cũng vô ích, nào làm mất cái lạc thú của sự sống, cho nên trừ ra sự lãng phí thì nên kiệm ước, để dành giữ đồng tiền lại, khi lâm sự dùng làm việc phải, mới là xứng đáng. Câu ăn ở cho có thứ lớp, là một cái ăn với một cái ở, ăn uống chủ sự trong sạch, cho có chừng đỗi, ở là ở với chồng với con, ở với chúng bạn, ở với người nhà, kẻ làm thuê, tình nghĩa ân oán sao cho đúng, mới gọi là thứ lớp vậy. Đến những việc tế toái trong nhà thường thường cũng nên biết rằng cái gì con mắt mình không trông tới nơi thì khó đặng chỉnh tề, vì khi xem xét, nếu không vừa ý, tự khắc mình phải sửa sang lại. Nếu bà chủ đã thân hành, thì mọi người trong nhà đều bắt chước theo, tuy mình nhúng tay làm có một chút, mà sự lợi châu đáo được nhiều phần. Người ta có câu nói rằng: “Nước chảy ào ào không hao bằng lỗ mội” nghĩa là tiêu việc lớn mà có chừng cũng không hại bằng mất mát do phải tiêu hao luôn luôn, thì cái đó mới là hại nhiều. Đã gọi là người chủ trương trong gia đình, tất phải phiền nhọc đến trí não một phần, mà công tháo tác cũng không phải không có ngay đi đặng.
Gần đây, người đàn bà trong xã hội mình chia ra làm hai phái: nên lắm người thấy cái hiện tượng giữa đời, mà nghĩ quanh nói quẩn. Thấy những kẻ làm việc với nhà nước, có lương bổng mà cho là mình làm việc nhà không có công lao chi. Nói thế là lầm, phải biết rằng: mỗi người có mỗi cái tính chất, công việc giữa đời, tùy theo từng cái tính chất người ta, người nghề này, kẻ nghề khác, người chủ việc giáo dục, kẻ trọng sự kinh doanh, cho nên đã gọi là làm việc thì làm việc gì cũng đều có lợi ích hết thảy, việc thì lợi cho nhà, việc thì ích cho nước, huống thay cái thói hay cần kiệm, nết tốt hiền hòa, cũng có ảnh hưởng cho xã hội lắm lắm. Chúng ta nên suy xét cho kỹ, để vui lòng mà làm cho hết bổn phận.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 25-2-1925; Mục Lời đàn bà
ĐỐI VỚI KẺ TÔI TỚ MÌNH
Người đồng thời người, mà kẻ thời sung sướng, kẻ lại cực khổ, nhà ăn không hết, nhà làm không ra, bởi vậy mà chia ra chủ nhà đầy tớ. Những kẻ biết nghĩ câu lấy của mua công, thì không đến hà khắc với đứa tôi đòi. Vì chưng tình thương của người đời, phần nhiều chỉ nghĩ tiền của là trọng, coi nhân cách không ra gì, đã đặng phần hơn người ta, lại muốn lấn lướt đủ trăm điều, không đoái tưởng cái tình cảnh thân thế đứa nô lệ. Dẫu no cơm ấm áo chăng nữa, mà quyền tự do đã mất hết, cũng là cực rồi, hà tất còn hành hạ nhiều điều cay nghiệt, sao không biết thương tâm, thực là nhẫn vậy. Cái tính cay nghiệt ấy, do vì cái tính lận sắc mà sinh ra; ham công tiếc việc, ưng thích riêng cho mình, phần nhiều thấy người đàn bà hay có tính ấy, xử với đầy tớ rất là tàn tệ, hành hạ đầu tắt mặt tối, cả ngày, cơm không kịp ăn, mặt không kịp rửa, bẩn thỉu lem luốc, bo bo làm việc cho chủ, ngộ sai tuyển đôi tí, là bị đòn bị chửi ngầy ngà, bồi thường hết tiền công làm việc cả năm.
Cách ngôn Tây có câu: “Chúng ta phải nên ăn ở với kẻ đầy người tớ thế nào, mà giả sử mình là chúng nó mình cũng chịu đặng”.
Sách Nho nói rằng: “Vô tiểu nhơn bất thành quân tử”. Nếu mình không có bọn ấy thì cũng chẳng xong đặng nào, một ngày không đầy tớ cũng khổ, một tháng mà cứ đổi luôn năm bảy đứa đầy tớ, công việc đều bễ nghễ ra hết.
Đành rằng bọn hạ lưu thì bao giờ tri thức cũng ngu muội, không bằng kẻ có tiền của, tâm tính hắn cũng không đặng bằng kẻ có thường sản. Đó là bởi những cái cảnh bần bức bó buộc hắn, ăn mặc thiếu thốn, quanh quẩn bên mình toàn là sự nghèo khổ, lấy đâu nghe xa thấy rộng mà biết điều phải điều trái, dầu lòng gian tham vụn vặt, cũng bởi cớ ấy mà sinh ra. Người ta chớ nên sợ những kẻ nghèo khổ mà gian tham xảo trá, chỉ nên sợ những người giàu có mà gian tham xảo trá thôi. Cái hại ấy mới là khốc hại, chớ như bọn hạ lưu gian tham xảo trá, thời còn nhiều cách trừng trị đặng; nếu những nhà ăn ở cho có trật tự qui củ, thời tự khắc hắn phải noi theo khuôn phép mà làm, những nhà kỷ cương siêng năng, chớ để lơ đễnh lơ hoang mà giục lòng kẻ gian tham, trộm cắp. Thánh nhơn có câu: “Man tàng hội đạo”, nghĩa là của giấu mà để sơ mơ thời xui lòng trộm cắp của chúng nó. Nay mình giữ gìn trước mà đem lời dạy bảo thêm sau, tự nhiên chỉnh được cái lòng là vậy. Lại đối với đầy tớ, phải có cái cảm tình quyến luyến, trên dưới liền lạc với nhau, khi tật bệnh chu toàn, khi rủi ro giúp đỡ, để cho hắn thấm ơn đùm bọc, thì dầu tính hư nết xấu đến đâu, tất cũng phải đổi sai phần ít nhiều; coi như loài vật mà mình yêu hắn, dạy vẽ cho hắn còn nên đặng, huống chi là người.
Ngày xưa thường có cái tiếng nghĩa bộc mà ngày nay thì nghe những tiếng đầy tớ bất lương rất nhiều, đó là một cái hại chung cho nhân tâm thế đạo vậy. Lấy con mắt thục tất nhơn tình mà nghiệm, lòng người xưa với lòng người nay, thay đổi ra làm sao, trước kia chủ nhà áp chế đầy tớ hắn phải chịu, vì áp chế mà hắn không biết là áp chế, cứ chịu trong cái vòng bó buộc ấy đã quen, thì trong ấy hay cũng nhờ mà dở cũng phải chịu. Bây giờ cái tư tưởng của người đời đã rộng ra, tính phù bạc nhiều hơn tính chất phác, mình cứ đem tiền của đè nén dọa nạt hắn, không những mất cái cảm tình yêu mến, mà lại sinh thù oán nữa. Nói tóm lại, không hạn xưa hay là nay, tình chủ bộc chỉ có hai lẽ: ân oai cho phân minh, có ân thì hắn phục tình, có oai thì hắn mới hết lòng làm việc; lại nên biểu cho hắn biết ngày nay làm công việc cho chủ, ngày sau còn biết lập sản nghiệp mà làm ăn, cũng đủ sức siêng năng mà liệu lý, mong cho hắn sẽ được sung sướng cho bằng người. Đứa nào có cái tư cách muốn học hành nghề nghiệp gì, cũng nên tùy thích, chớ không nên cầm cố hắn lại, làm được công việc cho mình, mà bỏ cái trí ham muốn của hắn, thế là phải. Chớ lấy chức phận hạ tiện của hắn, khinh người ta không có ngày phát đạt hơn nữa, thế là lầm. Vì những lẽ ấy, nên chi chủ nhà với đầy tớ, nên lấy lượng khoan dung, nuôi dạy cũng vị như một đứa con thứ hai, nhiên hậu hắn mới phục.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 28-3-1925; Mục Lời đàn bà
NGUỒN CÓ TRONG, THỜI DÒNG MỚI SẠCH
Người ta nói rằng: “Muốn tô bồi cái nền giáo dục trong gia đình, cần phải luyện tập cái tư cách làm người cha mẹ trước”. Lời nói ấy chính phải, vì tục ngữ có câu: “Nguồn có trong thì dòng mới sạch” là nghĩa như vậy. Phàm đứa trẻ con ở trong nhà, từ sự ăn uống cho đến sự làm lụng của cha mẹ, đều là cái bài học vỡ lòng của trẻ con trước hết thuộc về đường vật chất như vậy, mà thuộc về đường tinh thần thì cái máu gì hẳn cũng sẽ đúc ra cái máu nấy. Ví dụ như: Máu ngay thẳng thời đúc nên con người ngay thẳng, máu gian tham thời đúc nên con người gian tham, máu nóng sốt, máu nguội lạnh, cho đến máu uống rượu, máu đánh bạc, thiệt đều có di truyền hết thảy. Cho nên người ta phải cẩn thận mà phòng nhàn lấy tâm tính của mình, vì những sự đã gây nên bất hạn xấu tốt, đều có ảnh hưởng cho con cái về sau.
Có kẻ nói rằng: tâm tính con người hay thay đổi, khi còn ở trong nhà thời theo khuôn phép của cha mẹ, còn khi ra ngoài thời tiêm nhiễm theo anh em chúng bạn mà thành ra quen thói cũng có, nhưng cái đó chẳng qua về phần ngoại cảm; người ta sở dĩ lo sợ cái bệnh căn ở trong cốt tủy mà sinh ra mới độc, chớ theo sự người đời cám dỗ, thời như muốn tránh xa lánh giữ cũng còn khỏi được, nếu đã di truyền của cha mẹ hay thì hay một đời, mà dở thì dở cả kiếp. Vậy nên muốn giải quyết cái vấn đề nầy, trừ phi tự người lớn phải tu chỉnh lấy đã, rồi mới mong dạy dỗ con cái noi theo. Vì cái đức cảm hóa ở chỗ gia đình là mạnh lắm, mà sự hành vi của của người ta, thì gây nên từ lúc lên ba lên bảy dầu hay dầu dở đã in sâu vào não đứa trẻ con, khôn lớn muốn gột rửa cho phai nhạt là sự vạn nan. Một người đã mất giáo dục từ thuở còn bé, tuy khôn lớn nhờ có thầy hay bạn tốt, đào luyện làm sao, thì tài trí có thể tăng tiến được, chí như tâm thuật cũng khó bổ cứu cho lại.
Lắm nhà trách con bất hiếu bất mục, mà không chịu suy nguyên cái sự bất hiếu bất mục ấy từ đâu mà ra; nay những nhà than rằng: luân lý suy đồi, nhơn tâm biến đổi, mà cũng không chịu suy nguyên sự phát nguyên cho rõ, thời dẫu than thở cho lắm, cũng chẳng ích gì. Muốn nhiệt tâm về đường giáo dục, mà bổ cứu cho văn hóa khỏi suy đồi, thời nên ai nấy tự lo lấy việc nuôi dạy con trẻ cho thành tâm. Khi người con trai con gái đã nên vợ nên chồng, là sẽ làm cha mẹ cho lũ người sau này, thời nên vì con mà để lại một cái sản nghiệp rất chính đáng, mà cái sản nghiệp ấy không thể đem tiêu phí đi đặng, là cái sản nghiệp gia đình giáo dục vậy. Vun trồng lấy điều nhơn ngãi, thời hạnh phúc cho cả nòi giống, chớ không phải chỉ một nhà mình có ích lợi mà thôi.
Cách ngôn có câu: “Làm cha mẹ nuôi con dạy con, ấy là để đền trả ơn cái xã hội của mình ở”. Vậy thời sự giáo dục trong gia đình cũng là một phần nghĩa vụ, bổn phận thuộc lương tâm của mình. Đối với con còn dối, thời còn đối với ai thiệt thà đặng. Mình phải tôn cái quyền giáo dục của mình lên, thời tự mình không khi nào dám sai lạc điều lễ phép, mới làm cái gương tốt cho con.
Sách Nho có câu: “Chưởng qua đắc qua, chưởng đậu đắc đậu” , có đâu trồng đậu lại sinh dưa khác thường.
Trung Bắc Tân văn
Số ra ngày 29-3-1925; Mục Lời đàn bà
CÁI CẢM TƯỞNG ĐỐI VỚI CÁC CÔ GIÁO
VÀ NỮ HỌC SINH
Một buổi chiều thứ năm kia, tôi đương đứng trong sân nhà vừa nghe có tiếng lao nhao kẻ đi người nói chuyện trước đường quan, rất là nhiệt náo, bèn nom ra hàng rào xem, thời thấy các cô giáo và nữ học sinh đi dạo. Lệ thường nhà trường mỗi tuần lễ, các cô giáo phải dẫn học trò đi hai lượt để thư thả sức vóc, thở hớp không khí cho mạnh khỏe và thưởng thức các phong cảnh cho tăng trưởng sự kiến văn.
Kìa một bọn thanh niên thiếu ngại tim tím, trăng trắng, áo quần thướt tha, tóc bỏ ngang vai có, tóc bao vấn đầu có, tóc còn chừa chóp có, thấp cao hàng nhạn, thỏ thẻ tiếng oanh, cái vẻ non nẻo như hoa xuân mới nở bói trên ngành, cái tia sáng lóng linh lại như những ngôi sao mới hiện giữa buổi đêm đông, đám mây che sương mù phủ cho nên vẫn không tỏa nổi.Tôi đối với bọn thiếu ngại ấy, như có cái cảm tình riêng chan chứa vô hạn, thấy cái cảnh tượng hoạt động của họ, đặng nhờ ơn giáo dục của nhà nước phổ cập như thế mà mừng. Tưởng cái thân phận bồ liễu về sau chưa có mục đích mà thương, cái sự học chưa thành tài mà đã đến bằng cấp nọ bằng cấp kia, thời không đặng mấy người, mà đường luyện tập thực hành về chức vụ gia đình, thời còn đương thiếu thốn nhiều, cái mầm non nụ tốt ấy cần phải tô bồi cho lắm, mới mong ngày sau kết quả vẻ vang. Thế mà cái người tô bồi đó là bậc trưởng thượng lại ít gia tâm trau nắn cho hoàn toàn tư cách, hễ đứa con vào trường học, thì giao hết các trách nhiệm dạy bảo cho thầy giáo, hình như mình không còn can dự gì nữa.
Lại gia dĩ bề ngoài, thì cái luồng gió bài bác, nay mỉa mai cô giáo nầy, mai nhạo báng chị nữ học sinh khác, làm cho cái địa vị các cô giáo, các chị học sinh mất hết giá trị đi cả. Tình cảnh người đàn bà, con gái xứ mình không khác gì một vật đồ chơi, để trước cửa miệng người đời nhắc nhở mãi, động đến việc chi, họ cũng đem ra làm một trò cười cho thiên hạ. Xem nào là diễn thuyết, nào là diễn tuồng, các tạp chí, các tân văn, nhan nhản những tiếng khắt khe diễu cợt, hàng ngày đọc đến mục nữ giới nước nhà, mới liếc qua cái đầu đề, thì đã nghĩ ngay là lời nói xấu, chớ không phải tiếng tốt rồi. Ngậm ngùi thay cho cái nền giáo dục của nữ giới, ngao ngán thay cho cái phong trào đối với nữ giới. Không biết họ muốn vị trí một hạng nửa nhơn loại ấy vào con đường nào? Nói rằng dư luận có công kích như vậy, người đời mới giảm bớt tính hủ nết xấu, mới dụt đặng cái tự do càn, bình đẳng láo ấy đi, kẻo bọn đàn bà con gái, nó cứ ỷ mình làm nên, thì kiêu ngạo, không giữ hạnh kiểm, không theo quy củ. Nói thế cũng nhằm, nhưng: phải suy đi xét lại thử cái nguyên nhân tạo ra tính hư nết xấu là bởi ai? Tạo ra bình đẳng láo, tự do càn, là tại ai trước đã, không phải cái hạng người óc ruột non nớt tay chân mềm mại ấy mà xướng lên nổi, ai run rủi thành thói bậy, ai đưa dắt mà ra mất qui củ hạnh kiểm, chớ bọn đầu xanh đào thơ liễu yếu thiệt không có tội lỗi gì. Vì người đàn bà con gái tính tình nhu nhược, dạy bảo rất dễ, nếu ở với người cha hiền, tức là đặng hiền, khi còn thơ ấu như vậy, đến lúc khôn lớn lấy chồng, nếu chồng là người ôn hậu quân tử, thời không bao giờ không hóa theo mà nên người quân tử. Dầu xã hội đương khi thay đổi, hay xô đẩy nhau mà thành ra tiêm nhiễm, mất cái phép tắc thói nhà băng tuyết đi, nếu vậy thì cũng chỉ một phần người không có cha mẹ chủ trương cho, hay nhà con hèn hạ, mới theo, chớ nhà nào đã có kỷ cương dòng giống, thời phải giữ lấy cái trật tự trong gia đình, sao nỡ lại đổ quấy cho ai. Lại người ta có nói rằng: Phàm thói đời có tiêm nhiễm nữa, thì bất quá như cái bã bám ngoài da, không phải như thuốc tiêm vào mạch máu đâu. Vậy thì muốn gây dựng cho xã hội một nền phong hóa tốt, tức là phải nhờ chỗ gia đình chỉnh đốn cho có trật tự, cho có phép tắc, thì lần lần mà giảm bớt cái đồi phong bại tục đi. Chớ như cứ muốn bổ cứu cho phong hóa, mà đem lời bình phẩm lắm điều khắc bạc, nhục nhã đến nhơn cách người ta, một mai cái tiếng nói ấy mà đã nhàm tai người, đã không biết xấu hổ nữa, thì cho bài bác mấy cũng nỏ hiệu nghiệm gì. Bởi vậy mà phải bảo tồn cái nhân cách cho nhau, huống hồ người đàn bà con gái là còn có một cái nhiệm vụ rất trọng, dầu đàn ông có tài cao trí ngỏ đến đâu, cũng không thể làm nổi, mà người đàn bà hèn kém ngu dốt mấy cũng làm đúng, nhưng hay với dở chưa chắc, cái nhiệm vụ ấy là cái thiên chức phó thác cho về đường sinh dục, đẻ con với nuôi con, thì đàn ông phải nhường tài đàn bà mà thôi. Những lẽ như thế, mà phải nâng cao cái phẩm giá mới mong lợi dụng các công việc, tuy mình không quan hệ chi với người đàn bà ấy, mà kỳ thiệt người khác có quan hệ lắm, bởi vậy mà không nên phỉ báng nhiều lời.
Kẻ có nhiệt tâm với thế đạo, lo cho con đường tương lai, trong đoàn nam nữ hậu tiến này, là cái vận mệnh chung của chưởng tộc, hay thời mỗi người thơm lấy một chút, dở thời không khỏi dính phải tiếng tăm, cho nên phải cầm bút mà giải quyết những cái vấn đề còn khuyết điểm ngõ hầu cho người đời phải động lòng, mà tưởng lại cái đạo đức cũ. Còn những kẻ vì những lẽ tư riêng của mình, hoặc trêu ghẹo không xong, hay thấy người ta có mà mình không cũng ghẻ mặt, thường đem điều thêu dệt, việc có ít lại muốn xít ra cho nhiều, mong phá hoại cái danh của người ta, dựng lên ba hàng bảy dãy mà nói, kết cuộc không có một điều chi bổ ích làm cho người có lỗi thấy để mà chừa, người không có trông cũng phải răn. Phàm văn chương muốn răn dạy người, trước hết phải làm sao cho lòng người cảm phục, nhiên hậu mới sửa đặng tâm tính, còn muốn khuyên người ta làm việc chi, thì phải nói cho người ta phấn khởi cái lòng lên, tự khắc là thành công. Nay không dạy, mà lại chọc tức người ta, thì chỉ có cái ác cảm đối với nhau, chớ không phải là thiện sách, lại tìm không ra cái nguyên nhân đời nào mà vãn hồi cho đặng, thấy vậy mà chạnh lòng thay!
Trung Bắc Tân văn
Số 2413, ra ngày 4-4-1925
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.
www.trieuxuan.info
|