14. BUDDHA
(563-483 tr. CN)
Người sáng lập ra đạo Phật – Buddhismus là thái tử Siddhartha con vua Suddhodana và hoàng hậu Maya. Năm hai mươi tuổi, thái tử bỏ cung vàng điện ngọc để đi tìm đạo cứu đời. Năm ba mươi lăm tuổi, sau bốn mươi chín ngày nhập định ở Buddh Gaya, Siddhartha đã nhận ra bản chất của sự tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và tìm ra con đường giải thoát mọi khổ đau. Sau bốn mươi lăm năm truyền bá đức tin của mình, sau khi mất, Siddhartha được gọi là Buddha- người giác ngộ dưới gốc cây bồ đề (tiếng Việt ta thường gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật là một triết lý không thừa nhận brahman (thượng đế) và atman (đẳng cấp). Đạo Phật cho rằng, mọi người bình đẳng, ai cũng có phật tính và có thể trở thành Phật. Vạn vật là vô thường, luôn luôn biến chuyển theo luật nhân quả, sinh ra (thành sắc) và diệt đi (thành không), tuần hoàn không ngừng. Số phận (Nghiệp) con người là do bản thân con người tạo ra và tự mình chịu trách nhiệm.
Cốt lõi của đạo Phật là bốn chân lý lớn: 1. Cuộc sống là bể khổ; 2. Nguyên nhân của nó là lòng tham, sự tức giận, sự ngu si (tham, sân, si/vô minh); 3. Diệt khổ là diệt những nguyên nhân ấy; 4.Con đường giải thoát là tu luyện theo bát chính đạo (hiểu biết đúng đắn, chí hướng đúng đắn, thật thà- không nói sai trái, suy nghĩ-ứng xử đàng hoàng, sống lương thiện, tâm niệm đúng đắn, định tâm đúng đắn).
Đạo Phật có khoảng 300 triệu tín đồ. Hai giáo phái chính của đạo Phật là Hyajana (Tiểu Thừa/Nam Tông) phát triển ở phía Nam (Srilanca, Myanma, Thái Lan, Lào, Camphuchea) và Mahajana (Đại thừa/Bắc Tông) phát triển ở phía Bắc (Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam).
Tứ diệu đế
Giáo lý cơ bản của đạo Phật là bốn chân lý lớn (thường gọi là tứ diệu đế). Tương truyền, sau khi giác ngộ (chân lý), Siddhartha giáo hoá chúng sinh bằng tứ diệu đế (1. khổ đế; 2.Tập khổ đế; 3.Diệt khổ đế 4.Đạo đế) tại Lộc uyển:
- Này các tỳ kheo , đây chính là Khổ thánh đế: sinh ra là khổ, bệnh là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.
- Này các tỳ kheo, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỷ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.
- Này các tỳ kheo, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.
- Này các tỳ kheo, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành: chính kiến; chính tư duy; chính ngữ ; chính nghiệp; chính mệnh; chính tinh tiến; chính niệm; chính định. (bản dịch của Thích Minh Châu)
15. KHỔNG TỬ
(551– 479 tr. CN)
Khổng Tử (La tinh hoá: Konfuzius – Kung-fu-dse) sinh ở nước Lỗ; tổ tiên là người nước Tống. Ông là con cầu tự của Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Thúc Lương Ngột quá 64 tuổi mới lấy Nhan Thị. Phải chăng Thúc Lương Ngột ra đi vào cõi vĩnh hằng khi làm xong phận mình (sinh con trai lúc tuổi đã cao)!? Con trai đặt tên là Khổng Khâu (tên là Khâu, tự là Trọng Ni, họ Khổng; tên cha mẹ đặt cho là Khổng Khâu- thằng con đầu gồ - có gò trên đầu; tên thiên hạ đặt cho là Khổng Tử).
Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục, nhà văn thời cổ đại Trung Quốc, ông xây dựng học thuyết chính trị- đạo đức, học thuyết này xoay quanh lễ và nhân – phải có tôn ti, trật tự xã hội, phải “chính danh định phận”. Tương truyền, môn đệ của ông có đến hơn 3.000 người. Trong số đó có 72 người “thông hiểu lục nghệ”. “Luận ngữ” là sách do môn đệ thu thập những lời đối đáp giữa sư phụ và môn đệ . Khổng tử có công lớn trong việc truyền bá văn hoá cổ đại Trung Quốc qua việc san định lại các sách đời trước để lại: 1. về quy luật biến đổi của vũ trụ và nhân sinh : Kinh Dịch; 2. về những lời răn bảo của vua tôi từ thời Nghiêu Thuấn đến thời Đông Chu: Kinh Thư; 3. về những bài ca, bài đồng dao có giá trị sử, văn, phong tục tập quán: Kinh Thi; 4. về những quy tắc, lễ nghi để duy trì trật tự xã hội, nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp của con người: Kinh Lễ; 5. về phép tắc chuẩn mực trong âm nhạc: Kinh Nhạc; 6. về lịch sử 242 năm của 12 đời vua nước Lỗ từ Lỗ Ân Công đến Lỗ Ai Công: Kinh Xuân Thu.
Tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng lớn trong lịch sử tư tưởng Trung quốc, nó có ảnh hưởng đến nhiều nước châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam.
Trí giả tương ngộ
Đến đất Chu , Khổng Tử đến yết kiến Lão Tử. Khi tiễn Khổng Tử, Lão Tử nói:
- Tôi nghe nói ”người giầu sang lấy tiền bạc để tiễn nhau, người nhân đức dùng lời để nói tiễn nhau. Tôi trộm tiếng là người nhân đức, xin có lời này tiễn ông:”Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một cách đúng đắn. Kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy đến thân mình vì họ nêu lên cái xấu của người khác”.
Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
Khổng Tử yết kiến Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công hỏi:
- Ngày xưa Tần Mục công nước nhỏ, ở nơi hẻo lánh, nhưng tại sao lại làm được nghiệp bá?
Khổng Tử đáp:
- Nước Tần tuy nhỏ, nhưng chí của nó lớn. Tuy nó ở nơi hẻo lánh, nhưng chính trị của nó đúng đắn.
Cảnh Công hỏi Khổng Tử làm chính trị phải như thế nào. Khổng Tử đáp:
- Vua phải theo đúng đạo (phận) làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng đạo làm cha, con phải theo đúng đạo làm con.
Nguồn: Danh nhân cổ kim Đông Tây, tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |