tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
17.03.2020
Vương Trung Hiếu
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng?


"KHỔNG TỬ" VÀ NGHĨA CHỮ "TỬ"


Khi bàn về Học viện Khổng Tử thành lập ở Đại học Hà Nội, có người giải thích Khổng Tử như sau: Khổng là họ, còn Tử là tên. Chúng tôi thật sự bất ngờ trước cách giải thích này, bởi vì rất nhiều người biết Khổng Tử có nghĩa là “thầy Khổng”, còn tên họ thật của Khổng Tử là Khổng Khâu.


Chữ tử ở đây (thuộc bộ Tử) là một cách mĩ xưng, dùng để chỉ người thầy, người đàn ông có học vấn và đạo đức. Cách gọi Khổng Tử 孔子 (thầy Khổng) cũng giống như gọi Mạnh Tử 孟子(thầy Mạnh) vậy. Chú ý: Lão Tử 老子 không phải là thầy Lão, từ này có nghĩa là bậc thầy cao tuổi. Đây là cách gọi một triết gia chính yếu của triết học Trung Quốc, tên thật của ông ta có thể là Lý Nhĩ 李耳.


Chữ tử ở trên có nhiều nghĩa khác nhau, chúng tôi xin phép mở rộng để hầu chuyện cùng các bạn.


Tử còn là cách xưng hô tôn quý trong những trường hợp khác. Con cháu gọi người trước là tiên tử 先子;  vợ gọi chồng là ngoại tử 外子; chồng gọi vợ là nội tử 內子. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chữ tử được dùng trong cách xưng hô bình thường: chu tử 舟子 (chú lái đò),  sĩ tử 士子 (chú học trò)… hoặc dùng để gọi người ít tuổi, vai vế thấp hơn: tử đệ 子弟 (con em).


Xét về danh từ, tử  còn có nghĩa là con (trai hoặc gái), thí dụ:  phụ tử 父子 (cha con) hoặc có nghĩa là con trai (tứ tử nhị nữ 四子二女 : bốn con trai, hai con gái).


Tử có nghĩa là thế hệ sau, con cháu. TD: Ngã bổn Vương gia tử 我本王家子 (Ta vốn là con cháu nhà họ Vương).


Tử cũng còn có nghĩa là chim thú còn nhỏ. TD: bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử 不入虎穴, 焉得虎子 (không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con) hoặc mầm mống các loài động thực vật. TD: ngư tử 魚子 (giống cá), tàm tử 蠶子 (giống tằm), đào tử 桃子(giống đào), lí tử 李子 (giống mận).


Dĩ nhiên khi xét về động từ, tính từ hay phó từ thì chữ tử còn có những nghĩa khác.


Nếu xét tổng thể về âm Hán Việt, ngoài chữ tử nêu trên, chúng ta còn thấy nhiều chữ tửkhác nữa: tử (bộ Khẩu), tử (bộ Ngạt), tử (bộ Mịch), tử (bộ Mễ), tử (bộ Nhân) và tử (bộ Mộc). Chúng tôi sẽ giới thiệu trong dịp khác nếu thuận tiện.


 Vương Trung Hiếu


“SƯƠNG” LÀ "NGƯỜI ĐÀN BÀ GÓA CHỒNG"?


Cụ Nguyễn Đình Chiểu có người con gái thứ năm làm thơ, viết báo rất nổi tiếng. Bà này có bút danh là Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 với tên gọi “Nữ giới chung” (tiếng chuông của giới nữ).


Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ban đầu bút danh của bà chỉ có hai chữ là “Nguyệt Anh”, sau khi chồng qua đời bà mới thêm chữ “Sương” vào để có bút danh là “Sương Nguyệt Anh”. Chữ “Sương” có nghĩa là “người đàn bà góa chồng”, ý nói bà nguyện thủ tiết thờ chồng.


Trong Hán ngữ, quả thật có chữ sương (bộ Nữ) nghĩa là “người đàn bà góa chồng”, nhưng hiện nay, sau khi tra cứu từ Google chúng tôi thấy rằng tất cả các trang mạng tiếng Việt đều ghi bút danh chữ Hán của bà là 湯月英 (Sương Nguyệt Anh), kể cả Wikipedia tiếng Việt.


Trong Wikipedia tiếng Ý, tên chữ Hán của Sương Nguyệt Anh cũng được viết là 湯月英 (mục Nome cinese di cortesia, số 37 - tiểu mục Vietnamita); còn trong Wikipedia tiếng Latin, tên chữ Hán của bà cũng được viết là 湯月英 (mục Nomen urbanitatis, số 37 - tiểu mục Vietnamens)…


Thật là kỳ lạ, tất cả đều công nhận chữ trong bút danh của Sương Nguyệt Anh đọc là sương nhưng chữ này hoàn toàn không có nghĩa là “người đàn bà góa”. Vậy có gì nhầm lẫn ở đây chăng? Theo chúng tôi: 1. Không thể phiên chữ (bộ Thủy) là sương, bởi vì, theo các vận chú trong Khang Hi tự điển, thiết âm của chữ như sau:


 - Thổ lang thiết (đọc là thang).


- Tha lang thiết (đọc là thang).


- Dư chương thiết (đọc là dương).


- Tha lãng thiết (đọc là thảng).


- Thấu không thiết (đọc là thông).


Còn trong Thuyết văn giải tự, thiết âm của là:


- Thổ lang thiết (đọc là thang). - Thủy dương thiết (đọc là thương).


Như vậy, nếu phiên thiết sang từ Hán Việt nên chọn một trong những âm ghi là thang, thảng, thông, dương, thương, bởi vì giọng Bắc Kinh đọc chữ này là tāng; không nên viết là sương, cho dù trên thực tế đôi khi người Trung Quốc còn đọc chữ này là shāng.


2. Nếu chữ sương trong bút danh Sương Nguyệt Anh thật sự có nghĩa là “người đàn bà góa chồng” thì phải viết là (bộ Nữ). Các vận chú trong Khang Hi tự điển ghi thiết âm của chữ này là: Sắc trang thiết (đọc là sang), Sư trang thiết (đọc là sang), Sắc tráng thiết (đọc là sáng); còn trong Thuyết văn giải tự ghi: Sở trang thiết (đọc là sang).


Vậy, chữ có thể chuyển sang từ Hán Việt là sang, sáng hoặc sương (căn cứ vào giọng đọc Bắc Kinh: shuāng). Tóm lại, bút danh của Sương Nguyệt Anh cho thấy 2 điều:


- Nếu chữ sương không có nghĩa là “người đàn bà góa” thì có thể sử dụng chữ như cách ghi của các trang mạng hiện nay.


- Trong trường hợp chữ sương là “người đàn bà góa”thì hầu như, nếu tìm từ Google, tất cả các trang mạng tiếng Việt đều ghi sai tên chữ Hán của Sương Nguyệt Anh (tính đến ngày 20/4/2017).


Theo chúng tôi, viết đúng phải là sương và đây là từ mà chúng tôi hoàn toàn ủng hộ. Chữ này đã được khẳng định trong quyển The Oxford Handbook of Classical Chinese Literature (1000 BCE-900CE) của Wiebke Denecke, Wai-Yee Li và Xiaofei Tian (Oxford University Press, 2017) như sau:


“Sương Nguyệt Anh 孀月英 (Nguyệt Anh the Widow), editor-in-chief of the first Vietnamese newspaper for women, composed poems in Chinese-style forms and in chữ quốc ngữ vernacular, also translating Chinese vernacular novels and writing editorials defending women’s rights” (Sương Nguyệt Anh 孀月英 (Góa phụ Nguyệt Anh), chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên về phụ nữ, người đã sáng tác những bài thơ bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ, cũng như dịch những tiểu thuyết tiếng Trung Quốc và viết những bài xã luận bảo vệ nữ quyền) – trích mục Literary Heritage in the Sinorgaphic Sphere, tr. 529.


VTH.


Cám ơn tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »