Nobel văn học 1905: HENRYK SIENKIEVICZ (1840-1916)
Henryk Sienkievicz là nhà viết tiểu thuyết Ba Lan. Ông là con trai một địa chủ quý tộc nghèo ở nông thôn. Sau gia đình chuyển về thủ đô Warszawa. Năm 1866, ông vào học ở Đại học Tổng hợp Warszawa. Lúc đầu ông học luật và y khoa, nhưng sau chuyển sang văn và sử. Scienkievicz được dư luận chú ý với tiểu thuyết Phí hoài (Namare, 1871). Năm 1876, ông được Tạp chí Ba Lan (Gazeta Polska ) cấp tiền cho đi Mỹ để viết một loạt bài về nước Mỹ (tập phóng sự: Những bức thư trên đường sang Mỹ – Lysty z podrozy do Ameryki, 1882). Năm 1878, ông trở vế châu Âu viết báo, viết văn và diễn thuyết. Năm 1879, ông trở thành chủ bút một tờ nhật báo. Scienkievicz nổi tiếng với bộ tiểu thuyết 3 tập Trận hồng thủy, Ngài Wolodyjowski, Bằng lửa và gươm (Potop, 1886; Pan Wolodyjowski, 1888; Ogniem i mieczem, 1884) kể về các sự kiện diễn ra hồi thế kỷ XVII trong thời gian chiến tranh giữa người Ba Lan với với người Cazac, với Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ. Tiểu thuyết Quo vadis – nói về cuộc đấu tranh của những người Thiên chúa giáo dưới triều đại hoàng đế bạo chúa Nero thời cổ La Mã mang lại cho ông danh tiếng trên thế giới. Henryk Scienkiewicz nhận giải Nobel văn học năm 1905 vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử, ông là một trong những nhà văn lỗi lạc trong thể lọai tiểu thuyết lịch sử trên văn đàn thế giới.
Không phải cá nhân, mà cả dân tộc
Viện Hàn lâm Thụy Điển đánh giá: Henryk Sienkievicz là một trong những thiên tài hiếm hoi thể hiện được tinh thần dân tộc. Ông là hiện thân của tinh thần dân tộc Ba Lan.
Ông nói rất có tình có lý trong buổi nhận giải Nobel: Các nhà văn, nhà thơ chính là những người đại diện cho đất nước họ trong cuộc đua rộng mở để giành giải Nobel. Vì thế giải thưởng của Viện hàn lâm Thụy Điển không chỉ tôn vinh chính tác giả mà cả dân tộc sinh ra họ. Đó là bằng chứng rõ ràng rằng dân tộc đó đã đóng góp vào thành tựu chung của thế giới.
Nobel văn học 1906: GIOSIE CARDUCCI (1835-1907)
Carducci là nhà thơ, nhà phê bình Italia. Vì gia đình thường xuyên thay đổi chỗ ở, nên cậu bé Giosie học tại nhà. Khi gia đình dọn về Florencia năm 1848, cậu bé Giosie mới đến trường học. Cậu thích sử, thơ, văn học cổ điển. Năm 1853, Carducci học triết học và văn học ở đại học Pisa. Sau khi tốt nghiệp, Carducci dạy học ở trường trung học thành phố Man-Miniato-al- Tedesco. Carducci theo khuynh hướng cổ điển và nhân văn chủ nghĩa . Từ 1860, ông là giáo sư văn học Italia ở Đại học Tổng hợp Bologne và làm trưởng khoa này tới khi về hưu năm 1904. Ngoài giảng dạy, ông còn có các công trình phê bình các tác giả văn học Italia theo phương pháp lịch sử . Nhân danh truyền thống dân tộc, Carducci chống lại Công giáo và chống trào lưu lãng mạn, ông muốn tỏ ra trung thành với các mô hình cổ điển trong văn học latinh và Italia. Tập thơ đầu tay Thi vận của Carfducci in năm 1857. Nếu cảm xúc tâm tình ta thấy trong Những vần thơ mới (Rime nuove, 1861-1887) thì ta thấy những tiếng nói nghiêm trang hơn trong Thơ và nhịp điệu (Rime e ritmi, 1901). Trong Những bài ca hoang dã ( Delle di barbare, 1877-1889) ông muốn đổi mới thơ Italia bằng một thi pháp phỏng theo cấu trúc vần luật Hy-La, một thử nghiệm được bình luận một cách say mê cũng như các tác phẩm bút chiến của ông. Ông có 4 khảo luận đáng lưu ý là Nghiên cứu về những thế kỷ đầu tiên của quá trình phát triển văn học Italia (Sudii su la letteratura italianna dei primi secoli, 1884); Về sự phát triển nền văn học dân tộc (Dello svolgimento della letteratura nazionale, 1868-1871); Nghiên cứu văn học (Studi letterati, 1874); Phác thảo phê bình và tranh luận văn học (Bozetti critici e discorsi letterari, 1876) Giosie Carducci nhận giải Nobel văn học năm 1906 vì những hiểu bviết sâu sắc và trí tuệ phê phán, vì những nỗ lực sáng tạo, sự tươi mới của phong cách, trong đó chủ nghĩa cổ điển mang màu sắc cách mạng có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình văn hóa ở Italia ở thế kỷ XIX.
Nobel văn học 1907: RUDYARD KIPLING (1865-1936)
Rudjard Kipling là tiểu thuyết gia, nhà thơ Anh. Ông xuất thân từ giới học thức cao Anh-Ấn, cha ông là giáo sư Hiệu trưởng trường nghệ thuật Bombay- một chuyên gia lớn về lịch sử nghệ thuật An Độ. Mẹ xuất thân từ gia đình danh giá nổi tiếng ở London, Anh. Cậu bé Rudyard trọ học từ sáu tuổi trong một gia đình ở Southsea để nhận sự giáo dục của kiểu Anh ở các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882, Kipling trở lại An Độ, trở thành nhà báo và xuất bản những bài thơ châm biếm đầu tay Những bài ca ở bộ (Deparmental ditties, ,1886), các tập truyện ngắn Truyện kể núi đồi (Plain tales from the hills, 1887); Ba chú lính (Soldiers three, 1888); Năm 1889, Kipling đi du lịch nhiều (Trung Quốc ,Nhật Bản ,Ôxtrâylia ) và dừng lại ở châu Mỹ khoảng thời gian để viết 2 tập truyện Sách rừng ( The jungle book, 1894) và Sách rừng thứ hai (The second jungle book, 1895) .Khi trở về Anh, Kipling xuất bản tập thơ Bẩy biển (The seven seas, 1896); Những thuyền trưởng quả cảm (Capitains courageous, 1897).Ngoài các truyện ngắn trong tập Công việc hàng ngày ( The day’s work, 1898),các truyện kể cho thiếu nhi Chuyện thật đơn giản cho trẻ nhỏ (Just so stories for little children, 1902). Tiểu thuyết Kim của Kipling xuất bản năm 1901 có thể coi như là chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902, Kipling lui về sống ở một làng quê hẻo lánh thuộc vùng Sussex ở tây nam nước Anh cho đến cuối đời. Tại đây ông vẫn tiếp tục làm thơ, viết truyện ngắn, trong số đó có các tập truyện ngắn Hành động và phản ứng (Actions and reactions, 1909); Những loài vật đa dạng (A diversty of creatures, 1917); Những giới hạn và gia hạn (Limits and renevals, 1932). Rudyard Kipling đến Stockholm nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1907, nhưng không đọc diễn văn. Rudyard Kipling nổi tiếng với 2 tập sách về rừng rậm - phản ánh tư tưởng về sự sống khởi nguyên , với tiểu thuyết Kim – tiểu thuyết hay nhất về Ấn Độ. Năm 1926, Kipling nhận giải Huy chương vàng Văn học Hòang gia Anh.
Nobel văn học 1908: RUDOLF CHRISTOPH EUCKEN
(1846-1926)
Nhà triết học Đức Rudolf Christoph Eucken sinh trong một gia đình bố làm ở bưu điện, mẹ là người có học vấn và có nghị lực. Eucken có thiên hướng triết học ngay từ lúc còn ngồi ghế nhà trường. Ở phổ thông, Eucken đã theo học Thần học, Triết học, Văn học, Lịch sử ở Đại học tổng hợp Gõttingen, Berlin. 1871-1874, Eucken dạy triết học tại Đại học tổng hợp Basel, Thụy Sĩ. Năm 1912, Eucken sang dạy ở Đại học tổng hợp Havard, Mỹ. Eucken đi từ nghiên cứu lịch sử triết học, lôgic học, sang đạo đức học. Ông là tác giả các quan điểm Phương pháp lôgic học tinh thần, Siêu hình học tinh thần .
Những tác phẩm tiêu biểu của Eucken là Phương pháp nghiên cứu của Aristotle (Die Methode der aristotelischen Forschung, 1872); Những khái niệm cơ sở (của tư tưởng triết học) hiện đại (Die Grundbegriffe der Gegenwart, 1878). Khi tái bản năm 1908 sách có tên là Các trào lưu tinh thần hiện đại (Geistige Strõmungen der Gegenwart), Nhân sinh quan của các nhà tư tưởng lớn Die Lebensanschauungen der grossen Denker, 1890) Tính chân thực của tôn giáo (Wahrheitsgehalt der Religion,1901); Ý nghĩa và giá trị của cuộc sống (Der Sinn und Wert des Lebens, 1908); Nhập môn triết học đời sống tinh thần (Einfũhrung in eine Philosophie des Geisteslebens,1908); Tập bài giảng ở Đại học tổng hợp New York năm 1923 Đạo đức học hiện đại trong mối quan hệ với đời sống tinh thần (Present day ethics in their relation to the spiritual life); Con người và thế giới- Một triết lý sống (Mensch und Welt-Eine Philosophie des Lebens, 1918). Ông là nhà triết học nhưng nhận giải Nobel văn học năm 1908.
Nhận thức xung đột, bối rối
Tư tưởng của Eucken rất phổ biến trong những năm đầu của thế kỷ XX ở Đức, Anh, Mỹ , Nhật và các nước vùng Scandinavia. Ông được coi là một trong những nhà tư tưởng và đạo đức học lớn nhất của thời hiện đại. Trong buổi nhận giải Nobel văn chương, ông nói rất triết lý:
- Lịch sử nhân lọai biết đến một số vấn đề vừa rất cũ lại luôn luôn mới; các vấn đề đó cũbởi bất cứ lối sống nào cũng hàm chứa lời giải đáp cho chúng, và luôn luôn mới bởi vì các điều kiện mà những lối sống đó phụ thuộc lại luôn xê dịch. Và ở những giai đọan gay go có thể thay đổi đến mức các chân lý đã được nhiều thế hệ an tâm chấp nhận có thể trở thành câu hỏi bỏ ngỏ, gây ra xung đột và bối rối... (đó) là sự tương phản giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa lý tưởng.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|