tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
23.11.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (2)

3. Văn hóa và lịch sử. Ở một thời điểm lịch sử nhất định, trong đời sống thường ngày của từng dân tộc hay tộc người, ta đều thấy hiện diện cùng một lúc nhiều hiện tượng, nhiều yếu tố văn hóa của các dân tộc, các tộc người khác nhau do tiếp xúc, giao lưu văn hóa, nên ta thấy có nhiều lớp văn hóa, lớp cũ và lớp mới, lớp nội sinh và lớp ngoại nhập. Sự hiện diện phức tạp đó ngày càng rõ rệt cùng với sự tiến triển của lịch sử. Nếu ở thời kỳ nguyên thủy, người ta dễ nhận ra các lớp, nhưng sang thời kỳ nông nghiệp, các lớp văn hóa quyện vào nhau khó phân tách, ngoại trừ những điều được sử sách ghi lại hay qua trí nhớ của người dân. Sang đến thời kỳ công nghiệp, những yếu tố công nghiệp ngoại sinh được sử dụng rộng r•i, nhưng ý thức người dân lại dễ phân biệt vì quá trình dân tộc hóa, tộc người hóa không dễ dàng. Đó là do một lẽ rất đơn giản bởi vận tốc lịch sử chuyển biến ngày một gia tăng, đột biến trong thời kỳ chuyển tiếp sang xã hội công nghiệp và thời kỳ hậu công nghiệp. Cho nên, C. Mác có lý khi viết một ngày chúng ta đang sống tiến nhanh bằng một thế kỷ của người nguyên thủy. Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ như cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu phát biểu khi còn sống, khoảng 95% trở lên những phát minh của loài người được thực hiện từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây.


Cho nên một dân tộc, một tộc người nhất định luôn bị chi phối bởi tác động lịch đại và đồng đại. Ban đầu khi khoa học công nghệ kém phát triển, khi không gian xã hội còn bị thu hẹp, tác động lịch đại dựa vào sự phát triển tự thân là chủ yếu nổi trội; tính dân tộc và tộc người trong đời sống văn hóa, xã hội được coi trọng. Ngược lại, khi khoa học công nghệ phát triển từ sau khi xuất hiện xã hội công nghiệp đến nay, khi không gian xã hội từng dân tộc, từng tộc người được mở rộng, thì tác động đồng đại tức là tác động tiếp xúc, giao lưu văn hóa là chủ yếu lại phát huy tác dụng, tính dân tộc, tính tộc người bị đe dọa, nếu không phát huy được sức tự đề kháng. Có thể nói, những yếu tố văn hóa ngoại sinh phi dân tộc hay tộc người nhiều khi thống trị đời sống hằng ngày, như tình hình sinh hoạt ở các đô thị, trong các công sở hiện nay, khi mà con người vào thời gian đó ít suy tính đến tính dân tộc hay tộc người, chỉ để ý đến sự tiện lợi cho sinh hoạt hằng ngày.


Những yếu tố của văn hóa dân tộc hay tộc người phải là những yếu tố văn hóa do bản thân cộng đồng đó sáng tạo ra hay được tiếp thu một cách chọn lọc và nhuần nhuyễn từ dân tộc hay tộc người khác, làm biến đổi phù hợp với tâm lý dân tộc hay tộc người, tức là được tiếp biến (acculturé) có nghĩa là tiếp thu cái mới, nhưng đã đổi mới trên cơ sở một cái cũ, có thể là cái truyền thống, cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Phan Ngọc đưa ra hai ví dụ để minh chứng sự vượt gộp đã được thực hiện thành công bởi Nguyễn Tr•i với Nho giáo, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tôi nói thêm với cả những tư tưởng tiến bộ của nhân loại và những tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Những yếu tố văn hóa được coi là của dân tộc hay tộc người, phải góp phần tạo nên được bản sắc (identité) dân tộc hay tộc người, qua thử thách của thời gian, trở nên một hệ thống biểu trưng cho một thế ứng xử (comportement) và giao tiếp của cộng đồng. Nó là linh hồn của một dân tộc hay một tộc người, là cái vừa thân thương vừa thiêng liêng, mà thiếu nó con người cảm như không yên tâm.


Những hiện tượng văn hóa dân tộc hay tộc người một khi đã tương đối ổn định, lại mang ngay mầm mống của sự thay đổi, phải tuân thủ quy luật truyền thống và cách tân, vì lịch sử luôn vận động có lúc chậm, có lúc nhanh, có lúc lại đột biến. Đó là sự giằng co, sự mâu thuẫn - động lực của mọi sự vận động của cộng đồng dân tộc, tộc người, nên một hiện tượng hay một yếu tố văn hóa theo thời gian phải thay đổi trong điều kiện mới của lịch sử, có thể mất đi trong thực tiễn đời sống, hoặc có thể để lại dấu vết hay biến thành một yếu tố cấu tạo nên những yếu tố mới xuất hiện, tạo nên một hiện tượng văn hóa mới. Nói một cách khác, một khi đã trở thành truyền thống, bản thân hiện tượng văn hóa cũng lại có ngay mầm mống đổi mới, do tự cải tiến hoặc do du nhập từ bên ngoài. Cái mầm mới sinh đó dần lớn lên với thời gian và chín muồi, một khi lượng đổi thành chất, nó trở thành một yếu tố quyết định để tạo nên một truyền thống mới, có thể vẫn giữ nội dung cũ, mà đổi khác về hình thức biểu hiện, có thể thay đổi hoàn toàn cả về nội dung và hình thức. Sự giằng co giữa cái mới và cái truyền thống đó chỉ kết thúc khi cái truyền thống trở nên lỗi thời, thành một sức ì, một vis inertiae như V.I. Lênin thường nhấn mạnh, thành một vật cản không còn phù hợp. Nhưng h•y coi chừng, cái truyền thống thường rất bảo thủ, chưa hẳn đã dễ đoạn tuyệt, thường lánh ra để thu mình lại trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo hay trong những sinh hoạt phụ, hoặc để rồi nếu gặp thời cơ lại trở lại với một hình dạng mới. Đó là hiện tượng tái văn hóa hay trở lại văn hóa (reculturation) mà ta thường gặp trong lịch sử, một khi có sự lỡ bước do lầm lạc, tất nhiên của những người cầm đầu hoặc do bị cưỡng bức bởi một thế lực bên ngoài, sau tự giải phóng được.


Thông thường ta thấy tình hình như sau: 1. Sự song song tồn tại của các loại văn hóa được tự sáng tạo hay tiếp thu, tất cả được người dân coi là truyền thống: hai kiểu nhà: nhà trệt và nhà sàn; hai kiểu áo: áo xẻ ngực và xẻ nách, quần và váy; hai kiểu lương thực: cơm tẻ và cơm nếp; "mèn mén" (tức bột ngô hấp) và xôi đồ; hai kiểu đồ uống: rượu cần (một thứ bia) và rượu cất; nhiều hình thức tôn giáo: Phật, Nho, Đạo, thờ tổ tiên, thậm chí thờ thần nông nghiệp, thờ tôtem... Tất nhiên người dân đều coi trọng cả hai, nhưng đều không hiểu cái gì cũ, cái gì mới, cái gì tự ta, cái gì ta tiếp biến từ bên ngoài; 2 - Sự song song tồn tại, nhưng có phân biệt cái của ta và cái khác ta mặc dù trong sinh hoạt đời thường vẫn được sử dụng. ở Việt Nam, cái khác ta bao gồm cả những yếu tố của văn hóa Trung Hoa và ấn Độ chưa được tiêu hóa nhuần nhuyễn, nay là những yếu tố từ phương Tây đem lại: ý niệm về tự do, sinh hoạt theo lối đô thị hiện đại, những yếu tố văn hóa trong sinh hoạt đời thường: điện, ô tô, xe máy, ti vi, tủ lạnh, nhà "Tây" và đồ dùng nội thất, Âu phục, thức ăn, sữa và những thứ chế biến từ sữa, một số loại hoa quả, đạo Kitô với hai nhánh Công Giáo và Tin Lành… Những yếu tố phương Tây ngày càng phong phú, đa dạng, đang trong quá trình cố gắng hội nhập vào văn hóa dân tộc và các tộc người Việt Nam, trong đó, bên cạnh những yếu tố tích cực, không ít những yếu tố không thích hợp hay tiêu cực.


Việc tiếp thu những yếu tố văn hóa bên ngoài phải coi là một tất yếu lịch sử, cần thiết cho sự phát triển của một dân tộc, một tộc người. Điều đó đã thường xảy ra ngay từ thời kỳ nguyên thủy, qua thời kỳ nông nghiệp, trở nên mạnh mẽ trong thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp. Không thể thấy những hiện tượng áp bức, thậm chí tiêu diệt các quốc gia dân tộc, các tộc người, không thể thấy những hiện tượng đồng hóa văn hóa cưỡng bức, áp đặt của chủ nghĩa phong kiến, thực dân, mà có thể đồng tình với chủ trương đóng kín, bế quan tỏa cảng, không chấp nhận sự giao lưu văn hóa, một điều tối kỵ chỉ mang lại sự chậm tiến của dân tộc, tộc người. Chủ nghĩa cấm vận quái gở hiện nay đối với một số nước là hình phạt để cô lập hóa nhằm làm suy yếu những quốc gia dân tộc không chịu theo chiếc gậy chỉ huy của đế quốc Mỹ và những kẻ đồng tình. Trong dân tộc học, không thể đồng tình với thuyết vòng văn hóa của F.R. Graebner với những cứ liệu võ đoán và không đầy đủ, coi văn hóa của một dân tộc, một tộc người là bất biến. Theo ông, nếu phá vỡ một thành phần cấu thành của văn hóa dân tộc từ bên ngoài, thay thế bằng một yếu tố văn hóa ngoại sinh, là phá vỡ sự cân bằng văn hóa của dân tộc và hệ quả là làm dân tộc đó suy vong. Đó là tiền đề cho một loạt luận thuyết phản động trong đó có thuyết chức năng của B. Malinowski và thuyết chủng tộc của W. Schmidt, người sáng lập ra trường phái Vienne, thuyết chứng minh cho sự bất bình đẳng bẩm sinh của các dân tộc, các chủng tộc, biện minh cho chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thay màu da và chủ nghĩa phát xít dưới nhiều dạng khác nhau.


ở thời kỳ tiền công nghiệp, những yếu tố văn hóa du nhập ban đầu còn hiếm hoi, lẻ tẻ, chậm chạp, thường chỉ tồn tại ở một số rất ít người trong giới thượng lưu, chưa được dùng đúng chức năng, làm vật trang trí, nên có thể coi là một yếu tố văn hóa tượng trưng. Về sau, yếu tố văn hóa đó được du nhập rộng r•i, được người bản địa hiểu thấu đáo và thấy cần thiết phải bắt chước chế tạo, cải biên chút ít để sử dụng sao cho thích hợp với cung cách của bản thân, từng bước đi dần vào quảng đại quần chúng nhân dân, trở thành một yếu tố văn hóa phổ biến, có tính sử dụng. Trong số các yếu tố đó, một số được dân tộc hay tộc người chấp nhận như một yếu tố văn hóa bản thân, tự coi là văn hóa truyền thống của dân tộc, của tộc người. Đó là một điều dễ hiểu, thời gian đã xóa bỏ sự hiểu biết về nguồn gốc, cộng thêm tâm lý hay vơ vào, để trở nên thân thuộc, thậm chí được dân tộc đó, tộc người đó coi như của mình. Thí dụ: Người H’mông đã huyền thoại hóa cây ngô, coi đó là của tổ tiên, biết đâu là một sản vật du nhập từ châu Mỹ; người Việt coi dưa hấu có từ thời Hùng Vương, đậu xanh được Lang Liêu, con vua Hùng dùng làm nhân bánh chưng, biết đâu những thứ đó đều từ các nơi khác đến vào những thời kỳ lịch sử muộn hơn. Bộ y phục phụ nữ với chiếc áo dài xẻ nách và chiếc quần phụ nữ gốc ngoại, trở thành biểu tượng của tộc người Việt và của dân tộc Việt Nam. Hai món ăn nem và phở cũng vậy. Đạo Phật, đạo Nho, Đạo giáo được Việt hóa đến nỗi về nội dung và những biểu hiện của nó đã khác nhiều khi khởi thủy, nên mới có tác giả như Kim Định cho là Việt Nho.


Những yếu tố được coi là văn hóa của dân tộc hay tộc người phần lớn được định hình từ thời tiền công nghiệp, được kế thừa, hội nhập vào cái mới, tạo nên một truyền thống, cốt lõi của văn hóa bắt nguồn từ quá khứ, qua hiện tại đến tương lai. Một số đặc điểm trở thành biểu tượng văn hóa dân tộc hay tộc người. Số còn lại, lỗi thời trở thành văn hóa tượng trưng và mất ý nghĩa sử dụng, số để lại dấu vết trong đời sống tín ngưỡng (y phục trong tang lễ, món ăn trên ban thờ…), trong văn hóa nghệ thuật (trang phục, huyền thoại, truyện cổ...), hay gần đây được lưu giữ trong các bảo tàng và các thư viện. Nghiên cứu dưới góc độ Dân tộc học hay Nhân học văn hóa cần thiết phải lưu ý đến hiện tượng này, qua đó, có thể cùng với tư liệu khai thác trên sách vở, tìm lại được những biểu hiện của những lớp văn hóa xa xưa. Đó là việc nghiên cứu bằng phương pháp tàn dư những dấu vết của quá khứ còn thể hiện trong đời sống cư dân.


Trong trường hợp thông thường, ở giai đoạn tiền công nghiệp, mỗi dân tộc hay tộc người còn có nhiều thời gian để suy ngẫm trước khi chấp nhận một yếu tố văn hóa mới du nhập. Đó một phần là do lượng văn hóa du nhập chưa nhiều, thường nhỏ giọt thông qua những người láng giềng khác tộc, lại thẩm thấu chậm chạp từ lớp người này qua lớp người khác, từ địa phương này đến địa phương khác; một phần lại do năng lực tiếp thu của người đón nhận còn yếu. Do đấy, bản sắc dân tộc hay tộc người còn có yếu tố bảo lưu; vì vậy hiện tượng đồng hóa văn hóa khó được thực hiện, chỉ xảy ra qua chiến tranh, qua chủ trương đồng hóa cưỡng bức của các thế lực ngoại bang hay của chính quyền trung ương đối với các tộc người thiểu số trong nước.


Đến giai đoạn công nghiệp và hậu công nghiệp, do không gian xã hội được mở rộng khắp toàn cầu, thành tựu to lớn của khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ phát triển, thương trường trở thành "chiến trường", sự du nhập ào ạt của các yếu tố văn hóa thế giới bên ngoài là một thách đố lớn với việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc và tộc người, đe dọa không chỉ các quốc gia dân tộc đa tộc người đang phát triển, mà còn làm cho các chính phủ của các quốc gia phát triển cũng phải lưu tâm. Dòng thác lũ văn hóa bên ngoài uy hiếp con đê văn hóa dân tộc hay tộc người, với tấm hộ chiếu hay vượt biên bất hợp pháp, dồn dập, liên tục, bằng đường bộ, đường thủy, đường không, qua sách báo, phương tiện thông tin đại chúng vào thẳng người dân. Người dân ngỡ ngàng trước sự lựa chọn, bức bách trước nhu cầu tiêu dùng, không biết liên kết với truyền thống của cha ông sao cho thích hợp. Nhà nước cũng khó đưa ra được những giải pháp thông minh và hữu hiệu. Hiện tượng nhiễu loạn văn hóa dễ xảy ra, nhất là ở các nước đang phát triển trên thực tế đang phải lệ thuộc vào các thế lực của siêu cường và các cường quốc. ở đây, con người thường có tâm lý mặc cảm với cái mình đã có, tự cho là kém cỏi, là lỗi thời, dễ bỏ rơi văn hóa của cha ông, để lại bị kích thích bởi quan niệm cách tân vô lối, ngợp mình trước những cái tưởng là tiến bộ trong mối quan hệ xã hội, sa đà vào những cái hèn kém của thế giới văn minh, hay tiếp thu vội v• sống sượng những yếu tố ngoại lai, cho dù là tiến bộ, lành mạnh với người ta. Lại thêm, những sản phẩm hàng hóa của xã hội công nghiệp thuận tiện, hiệu quả hơn trong sản xuất, tiêu dùng, những ngôn ngữ phổ quát lấn át những ngôn ngữ riêng lẻ, có tính địa phương. Tất cả sinh hoạt cá nhân, hoạt động văn hóa trong từng nước mất phương hướng. Một sự mất cân đối xảy ra. Cả hai loại văn hóa: văn hóa của người cho và văn hóa của người nhận đều bị suy thoái. Nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc/ tộc người bị đẩy lùi hoặc mất đi, không còn được sử dụng hoặc trở thành văn hóa tượng trưng, xếp ở bảo tàng hay cải biên trình diễn trên sân khấu. Văn hóa bên ngoài được đề cao, nhưng do tiếp thu không trọn vẹn, cũng bị suy thoái. Nảy nở ra những pigin tức là những thứ ngôn ngữ như kiểu tiếng Anh, tiếng Pháp "bồi", những điệu múa, bài ca "lai tạp" bắt chước, những trang trí nội thất què quặt "Tây không ra Tây, ta chả ra ta"… ở đây văn hóa đã bị thông tục hóa. ở nước ta hiện nay cũng thấy có hiện tượng đó, không riêng với văn hóa ngoại sinh mà với cả văn hóa các dân tộc thiểu số.


Hiện tượng nhiễu văn hóa, kết quả của sự cho-nhận giữa các cư dân trình độ phát triển chênh lệch trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, nếu không có hướng đi tốt, dễ dẫn đến sự nuốt trôi văn hóa của người tiếp nhận, thậm chí dẫn đến việc xóa bỏ tấm hộ chiếu của dân tộc hay tộc người trên Trái đất. Phản ứng trước hiện tượng đó, không thể chấp nhận chủ nghĩa tộc người trung tâm (ethnocentrisme), tự đề cao văn hóa của bản thân cho là hơn hết, thậm chí đi đến chỗ tự cao tự đắc, tự đánh lừa mình, thậm chí dẫn đến thái độ dân tộc cực đoan như một số người trong thế giới ? R?p hiện nay. Ngược lại, cũng không thể rơi vào thái độ sùng ngoại, cho rằng tất cả cái gì của cha ông để lại đều là dở, là lỗi thời. Trong thời đại hiện nay suy đến cùng là tư tưởng coi giá trị khoa học công nghệ là hơn hết, hay lấy sự tăng trưởng kinh tế đơn thuần làm thước đo cho sự phát triển, không thấy muốn phát triển kinh tế phải thấy gốc rễ của kinh tế là văn hóa, nếu không sẽ rơi vào sự phân hóa giàu nghèo quá đáng trong xã hội, kéo theo sự xuống cấp về văn hóa, tệ nạn xã hội trầm trọng, không những kìm h•m trở lại bản thân sự tăng trưởng kinh tế, thậm chí còn đe dọa đến sự tồn vong của đất nước và tộc người.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »