Trước đây đồng bào không dùng phân bón trên rẫy vì quảng canh diện tích quá rộng, nay có dùng phân hóa học trong trường hợp trồng những cây cần phân nhiều. Biện pháp chăm sóc tích cực duy nhất là diệt cỏ dại. Hiện nay, một số tộc người nay đã dùng cuốc hay cày để rẫy chết cỏ và vun gốc. Trước đây, công cụ làm cỏ phổ biến từ nam chí bắc là chiếc nạo cỏ (Khơ Mú: vơr, Gia Rai: knor, Xơ Đăng: aniếc, Thái: kvẹ...) tự rèn từ những chiếc dao cùn hoặc trao đổi với các tộc người, nhóm địa phương có kỹ thuật rèn, hình dáng có chút sai biệt ở từng vùng, có lưỡi bằng sắt vặn nghiêng, mài sắc lắp vuông góc vào cán. Chiếc nạo cỏ cũng còn dùng để xới đất và vun đất tra hạt, hoặc đào củ hay chặt rễ cây.
ở vùng Bắc Tây Nguyên và miền núi Quảng Nam, các tộc người Ba Na, Gié Triêng, Xơ Đăng v.v... còn dựng một dàn đàn mõ (tơninh) dọc các suối chảy cạnh rẫy, bao gồm đủ các loại như quả lắc bằng đá (pơđinh, tua hmau) tiền thân của hệ thống đàn đá, mõ tre, gỗ (đô koong), mõ gỗ (khọ), máng bập bênh (knang tea, kche) v.v... máng nước nhỏ đổ đều ba, năm phút một lần (po) hay máng nước lớn đổ chậm gây tiếng động lớn, làm các con thú lớn như lợn rừng, hươu, nai giật mình bỏ chạy. Hệ thống đàn mõ không chỉ là công cụ tự động bảo vệ nương rẫy, mà còn là một dàn nhạc giải trí cho người coi rẫy. Bất kỳ ai cũng có thể sửa được vị trí các mõ, quả lắc... để tạo nên những nhạc điệu khác nhau; cũng như ở những nơi xa suối, đồng bào mắc nhiều mõ tre, gỗ, nhiều hình bù nhìn (khăng), khi chim đến, người coi nương giật dây cùng với tiếng hò đuổi chim không chỉ xua chim bay đi, mà còn tạo nên một nhạc điệu lạ tai cho người qua đường. Có thể nói hệ thống đàn rừng này là cơ sở cho những chiếc đàn tơ rưng, krôông bút, đàn đá v.v... của Tây Nguyên xuất hiện.
Trong ảnh, một chiếc mõ có 3 cánh quạt hứng gió làm quay trục, khiến 3 que luân phiên nhau gõ vào ống tre, gây ra tiếng động khi nhanh khi chậm (tùy theo sức gió mạnh hay yếu).
d) Việc thu hoạch
Cách đây không lâu, các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên và một số ở Tây Bắc còn thu hoạch lúa bằng cách tuốt bằng tay. Đó là công việc chủ yếu của phụ nữ. Họ đeo một chiếc giỏ trước bụng, hai tay kéo bông lúa vào miệng giỏ rồi tuốt lấy hạt. Khi giỏ đầy, họ đổ vào gùi rồi chuyển vào kho.
Một số tộc người đã biết dùng đũa kẹp để tuốt lúa trên rẫy như người Khơ Mú, Xinh Mun... Rõ ràng đây là sự tiếp nối của thời kỳ hái lượm. Kỹ thuật quá thô sơ này tồn tại rất lâu, thậm chí cả ở người Việt, khi cắt lúa về nhà cũng dùng đũa hay tay để tuốt. Một tiến bộ có tính bước ngoặt trong việc thu hoạch lúa chính là sự xuất hiện các công cụ gặt lúa bằng dao nhíp trên nương.
Dao nhíp có nguồn gốc từ chiếc nhíp bằng đá hay đồng, phổ biến ở những cư dân trồng các ngũ cốc thấy ở người Ainu (Nhật Bản), ở lưu vực sông Dương Tử đổ xuống, ở miền Bắc Đông Dương và ở cư dân Hải Đảo, dùng để ngắt từng bông, hoặc hai, ba bông một lúc. Dạng dao nhíp này còn thấy ở châu Phi gần với dạng dao nhíp của Inđônêxia, hiếm hay không thấy ở Trường Sơn – Tây Nguyên hay Campuchia. Dao nhíp được sử dụng chủ yếu trên nương rẫy là do địa hình, do truyền thống trồng xen canh, gối vụ hoặc do loại lúa khó rụng bông. Nguyễn Việt và Ngô Đức Thịnh phân loại dao nhíp làm ba kiểu: 1. Kiểu buộc dây. Dây được buộc vào cổ tay, ngón tay kẹp lấy nhíp, thấy ở người H’mông, Cơ Lao, Hà Nhì... 2. Kiểu có tay cán ngang vuông góc với dao nhíp, dùng lòng tay giữ chặt dao, ngón tay tự do đưa ngọn lúa vào lưỡi nhíp, thường thấy ở người H’mông, Khơ Mú, Dao, Kháng, Mảng...
3. Loại có tay cán, dây đeo, hai đầu thân dao nhíp cấu trúc khác nhau, thường thấy ở người Mường, Thái, Khơ Mú, Hà Nhì...
Dao nhíp là tiền thân của chiếc hái, ít dùng trên nương rẫy. Hiện nay, nhiều tộc người đã không dùng tay, đũa hay dao nhíp để tuốt lúa, mà chuyển sang dùng liềm. Họ chỉ dùng tay, đũa, dao nhíp hái lúa nếp trên nương hay dưới ruộng hoặc những khóm lúa dùng cho nghi lễ. Cần lưu ý, sự thay thế dao nhíp bằng liềm không phải do tăng năng suất, mà do giống lúa đã thay đổi, hay rụng bông. Đối với các giống lúa nếp cũ, đồng bào vẫn dùng dao nhíp để ngắt lúa.
Sau khi xem xét quá trình canh tác nương rẫy, ta có thể đưa ra một nhận xét việc cải tiến kỹ thuật không tập trung vào khâu cải tiến công cụ sản xuất, vẫn chiếc gậy chọc lỗ, chiếc đũa kép hay dao nhíp, vẫn không có hệ thống thủy lợi và trông nom, bảo vệ thành quả trồng trọt bằng cách xua đuổi chim thú. Đưa chiếc cuốc, hay cày lên rẫy, dùng liềm với các giống lúa khó rơi rụng, thì không thực tế và hủy hoại đất màu, nên con người ở đây chỉ tập trung vào việc chọn lựa đất trồng sao cho thích hợp, ở việc gieo trồng các cây bằng phương pháp luân canh hay xen canh, gối vụ các cây trồng, không những có tác dụng buộc từng loại đất, tùy từng thời gian cho một năng suất cao nhất, chắc chắn nhất, có tác dụng chẳng những tận dụng độ phì của đất, mà còn giữ cho lớp đất màu mùn xốp trên mặt đất chậm bị xói mòn. Chính vì vậy, không có hiện tượng chuyên canh trên một mảnh đất nhất định, kể cả trên những mảnh đất dành cho trồng cây lương thực chính. Sự tiến bộ của kỹ thuật canh tác trên nương lại là đi từ chuyên canh đến đa canh, rồi lại trở lại chuyên canh trên các mảnh vườn có thể ở ngay trên rẫy và việc chống xói mòn.
Hiện nay, có những cư dân chủ yếu sinh sống bằng rẫy, luôn gắng tạo ra các mảnh ruộng bậc thang có thể là ruộng nước, ruộng chờ mưa, hay thổ canh hốc đá... Ngược lại, có những cư dân vùng thấp sinh sống chủ yếu bằng ruộng, nay lại phá rừng làm rẫy nhiều hơn. Ruộng xưa đã không thể cung cấp cho họ đầy đủ lương thực, thì nay cho dù năng suất lúa đã cao gấp hai, ba lần, nhưng với việc tăng dân số quá mau, lại càng thúc đẩy mở rộng diện tích rẫy. Do đấy, vấn đề phá rừng làm rẫy không còn chỉ đặt ra với các cư dân rẻo cao, mà cả với các cư dân xưa "ăn" ruộng và cư dân đồng bằng đi kinh tế mới... Trên thực tế, họ cũng đã góp phần phá rừng, làm rẫy không thua gì dân vùng cao. Nhưng hậu quả của nạn phá rừng lớn nhất trong những năm gần đây đã dẫn đến các vụ sạt lở đất, lũ cuốn, núi đổ...
2. Đặc điểm canh tác nương rẫy
Một trong những đặc điểm rõ rệt nhất của hình thức canh tác nương rẫy là chặt, đốt rừng, lợi dụng lớp tro và đất mùn mỏng ở các sườn đồi, chân núi để canh tác. Sau khoảng 2 - 3 năm, có khi đến 8 - 10 năm, đất cạn màu phải để hóa chí ít là 8 - 10 năm, nhiều hơn là 15 - 20 năm cho rừng mọc trở lại rồi mới canh tác tiếp, vì thế nương rẫy là mảnh đất trồng trọt không liên tục. Chu kỳ quay vòng như thế này cũng chỉ được 4 - 5 lần. Lâu ngày, đất bị khai thác kiệt quệ, xói mòn, rừng không đủ sức hồi phục, làm rừng không đủ độ được che kín, cỏ mọc nhiều, năng suất lúa sẽ giảm đáng kể. Cuối cùng, rừng biến thành những tràng cỏ gianh hay đồi trọc trơ trụi. Do đấy, đó không phải là mảnh đất trồng trọt vĩnh viễn. Hình thức canh tác rẫy là quảng canh, mà phạm vi và mức độ diện tích lại rất lớn, nên thường bên cạnh một mảnh đất canh tác phải chuẩn bị 4 - 5 mảnh, có khi đến 8 - 10 mảnh đất bỏ hóa để quay vòng, luân khỏanh và những mảnh rừng với diện tích tương tự để dự trữ. Theo tính toán, trung bình một cây số vuông rừng chỉ có thể khai thác từ 10 - 20 hécta đất trồng trọt và chỉ có thể sử dụng thường xuyên từ 2 - 4 hécta để canh tác mà thôi.
Để thu hoạch diện quảng canh, các tộc người chỉ có thể tiến hành theo hai cách:
Một là, Cho đất quay vòng hợp lý để sau khi đất nghỉ (để hóa), đất đủ sức phục hồi thành rừng tái sinh, để lại có thể tiếp tục trồng trọt. Đúng là với việc quay vòng đất theo chu kỳ khép kín, với việc bảo vệ rừng đầu nguồn, và, với dân số tăng ít nên có nơi, cư dân đã sinh sống được ổn định trong một địa vực cư trú nhất định, với điều kiện là mật độ dân số không quá 10 người trên 1km2. Việc canh tác nương rẫy trong trường hợp này có thể chấp nhận được, vì nó không phá hoại sự cân bằng đời sống của rừng tức là không dẫn đến việc hủy diệt môi trường sống.
Thực tế đã diễn ra không hoàn toàn như vậy. Một cư dân không thể đời này qua đời khác ở yên một chỗ, cho dù dân số tăng ít, vì qua nhiều lần quay vòng, rừng không tránh khỏi suy thoái và không thể trồng trọt được gì trên đất đó. Người dân buộc phải dời làng đi nơi khác kiếm sống. ở vùng Bắc Đông Dương cách đây 200 năm, rừng còn phủ kín trên các rẻo cao, nay hơn một nửa đã trở thành đồi trọc, phần lớn là do hậu quả của hình thức canh tác này. Sự chuyển cư của các nhóm cư dân Tây Nguyên cũng là vì lí do trên. Đến nay đất bạc màu không trồng trọt được, đã chiếm khỏang 3 - 4 triệu hécta. Gần đây, nhiều người cho rằng duy trì hình thức canh tác nương rẫy là không đúng với thực tế, mà cần chuyển sang trồng rừng, hay trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, tức là công nghiệp hóa nông lâm nghiệp miền núi, theo kinh nghiệm của một số vùng trong nước và các nước Trung Hoa, Thái Lan, Malaixia... Việc này là hợp với quy luật, nhưng cần có thời gian.
Hai là, để hạn chế hiện tượng xói mòn đất, chỉ nên dùng những công cụ rất thô sơ tác động tối thiểu lên mặt đất. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, hình thức này ít cho phép cải tiến công cụ. Thực tế, trải qua hàng ngàn năm, công cụ chính để làm đất trên rẫy vẫn chỉ là chiếc gậy chọc lỗ hay chiếc mai, nếu dùng cày hay cuốc trên rẫy dốc, lớp đất màu bị lật lên, mưa nguồn đổ xuống, đất sẽ bị xói mòn nhanh chóng. Đó là kinh nghiệm thất bại của một số nơi muốn áp dụng kiểu canh tác vườn hay ruộng nước trên rẫy và cũng là việc làm thiếu nghiên cứu của một số cư dân vốn đã có một kỹ thuật canh tác cao, buộc phải trở lại làm rẫy theo thói quen của cư dân chuyên làm rẫy, điển hình như người H’mông. Điều này có thể thấy ở công trình của J. Lemoine về người H’mông xanh ở Lào.
Nhờ trí thông minh và sự cần mẫn tuyệt vời của một bộ phận cư dân H’mông, Dao, Hà Nhì, Nùng... những nương rẫy trên rẻo cao đã biến thành những thửa ruộng cạn chờ mưa hay ruộng bậc thang. Có thể nói, trên thế giới chưa có một nhóm người nào như các cư dân kể trên, đã mang được chiếc cày lên trên rẻo cao, biến những tràng cỏ gianh thành ruộng, vườn, hay đã tạo nên một hình thức thổ canh hốc đá bằng sự kiên nhẫn vác đất từ chân núi lên đổ vào, làm ngạc nhiên nhiều nhà nghiên cứu. Nhưng, bên cạnh những thành công kể trên, ở những nơi dốc, chính kỹ thuật canh tác đó lại làm kiệt rừng nhanh chóng và họ cũng trở thành những người phá rừng tệ hại nhất. Rừng vĩnh viễn biến thành những đồi trọc trơ tầng đá mẹ và ở đấy ngoài cỏ gianh, sim, mua..., không một cây gì có thể sống được. ở Tây Nguyên, một số dân tộc như Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, nhờ phương pháp để ải qua đông và sự sáng tạo ra các loại cuốc khác thích hợp, đã biến các nương rẫy thành ruộng khô bằng cách be bờ giữ nước. Nhưng những thửa ruộng đó trước kia do không thâm canh, nên cũng chỉ tồn tại được lâu hơn một chút và một số cũng bạc màu, phải bỏ hóa đợi rừng chậm chạp mọc lại. Hàng triệu hécta đất cỏ gianh ở Tây Nguyên chứng minh điều đó. Nay, nhờ khoa học công nghệ, những thửa ruộng đó được thâm canh, một số đã được trồng cà phê, cao su, hạt tiêu, điều và các cây công nghiệp và cây ăn quả khác. Tiếc rằng, do mật độ dân số tăng cơ học quá nhanh, diện tích trồng cây công nghiệp quá lớn, nước ngầm dưới đất bị cạn kiệt, nạn thiếu nước đang xảy ra nghiêm trọng.
Đặc điểm thứ hai của hình thức canh tác rẫy là tuy lao động vất vả, nặng nhọc, nhưng năng suất lại bấp bênh. Đó là một phương thức canh tác còn sơ khai, gần như hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Những tác động của con người phần nhiều là tiêu cực. Việc chăm sóc (làm cỏ) là tác động có tích cực duy nhất đến cây trồng nhưng chỉ được tiến hành một cách sơ sài. Việc chọn giống, bón phân hầu như không có. Tuy nhiên, công sức con người bỏ vào đó không ít. Mọi khâu canh tác đều dùng sức lao động cơ bắp với sự hỗ trợ ít ỏi của công cụ. Người dân ở đây vất vả nhất là việc chặt đốt, trồng trỉa và gặt hái. Còn suốt thời gian cây mọc trên rẫy, việc xua đuổi chim, muông không được một lúc nào lơi là, tuy đó là công việc nhẹ nhàng, trừ những công việc có tính kết hợp như săn bắn, hái lượm, đặt bẫy, đan lát, thêu thùa... Và hiện nay, việc điều động lao động tưởng như dư thừa ở vùng làm rẫy gặp cản trở cũng vì cung cách làm ăn này.
Những năm nương rẫy phát lần đầu, do lượng tro và lớp đất mùn còn nhiều, nếu gặp mưa thuận, gió hòa, lại không bị thú rừng, chim chóc phá hoại, năng suất lúa có thể rất cao, cao hơn cả năng suất ruộng. Nhưng thực tế thu hoạch rẫy thường kém vì thường hay gặp thiên tai. Vì vậy, các cư dân phải trồng nhiều loại lương thực khác nhau ở những mảnh rẫy khác nhau, để nếu mất mùa lúa, còn được mùa ngô; nếu mất mùa ngô, còn được khoai sắn. Rẫy làm đến năm thứ 2, thứ 3, năng suất đã kém đi nhiều. Đến nay, nhiều nơi do thiếu đất, phải gắng làm đến năm thứ 4, thứ 5 hoặc nhiều hơn nữa, nên năng suất càng thấp.
Do năng suất trồng rẫy bấp bênh, nên các cư dân chỉ duy trì nổi mức sống tối thiểu trong nghèo nàn và đói rách. Để bù đắp sự thiếu thốn đó, họ trông mong vào hái lượm, săn bắn, đánh cá để cung cấp cho họ lương thực trong ba, bốn tháng giáp hạt. Nhưng gia súc không nhiều, chỉ vừa đủ cho cho việc sử dụng trong các dịp cúng bái, ma chay, cưới xin, khách khứa, hoặc khi sinh nở, ốm đau. Các nhu yếu phẩm không tự sản xuất được trông mong vào nguồn thu nhập eo hẹp từ một số nghề phụ gia đình như đan lát, dệt vải và thu hoạch lâm thổ sản, nên có thể nói cuộc sống của các cư dân làm rẫy còn rất khó khăn.
Đặc điểm thứ ba của hình thức canh tác rẫy là tổ chức xã hội nhỏ hẹp, phân tán, không ổn định, phải du cư, đời sống nghèo nàn khổ cực, phong tục tập quán nặng nề, lạc hậu.
Bản làng cư dân thường đi theo rẫy. Nếu ở các địa thế hẹp,
ít đất canh tác, làng thường chỉ có 5-7 nóc nhà, nhiều lắm là
10-15 nóc. ở những cư dân có ít ruộng nước hoặc cư trú ở một địa thế rộng như Tây Nguyên, làng bản có thể tập trung hơn. Lại thêm, hằng năm, các cư dân làm rẫy buộc phải sinh sống một chốn đôi nơi. Đến mùa làm rẫy, trong làng chỉ còn người già, người tàn tật và trẻ em. Phần lớn những người có sức lao động phải dời làng lên ở lều nương.
Tùy theo trình độ canh tác và theo tập quán của từng cư dân, từng địa phương, hình thức du canh, du cư cũng có những loại hình khác nhau:
1. Đồng bào dời làng theo rẫy. Thời gian cư trú và canh tác ở một địa điểm không quá 2-3 năm. Đó là giai đoạn du canh du cư khép kín liên quan đến việc quay vòng tuần tự từ mảnh rẫy này qua mảnh rẫy khác trong một khu vực nhất định.
2. Đồng bào dời làng sau 10-15 năm cư trú một chỗ sau khi quay vòng trên những mảnh rẫy xung quanh làng với một diện tích rộng gấp 4 - 5 lần diện tích canh tác hằng năm. ở đây, làng chỉ di chuyển sau nhiều lần chuyển rẫy. Cũng có thể do có một số ruộng, làng được xem gần như cố định xây dựng tại một chỗ, đồng bào luân khỏanh trên những mảnh rẫy có khi xa nhà hàng ngày đường. Cả hai trường hợp này cơ bản vẫn là dựa trên việc canh tác vòng quay khép kín.
3. Bản làng dời chỗ sau khi đã luân khoảnh kiệt quệ các mảnh đất có thể trồng trọt ở xung quanh do phá rừng. Hình thức này là hình thức canh tác hở, vì ở đây du cư gắn liền với phương pháp canh tác rẫy "bóc lột và phá hoại tàn khốc" môi trường.
Hiện nay, hình thức canh tác nương rẫy trở nên lỗi thời. Do chìm trong lớp sương mù của rừng nhiệt đới, tâm trạng luôn phấp phỏng lo thiếu ăn, thiên tai, dịch họa, nạn thú rừng, lũ lụt luôn uy hiếp, cư dân nương rẫy sinh ra tin đã vào sự may rủi do các lực lượng siêu nhiên tác động, hơn là tin vào trí tuệ và khả năng lao động của mình, từ đó dìm mình vào những mê tín, những tập quán lỗi thời. Tình trạng này càng gia tăng khi họ mù chữ, học vấn thấp v.v... Hầu như các cư dân sinh sống bằng nương rẫy đều ít nhiều bị tác động thoái hóa, do bị dồn vào một môi trường sống khắc nghiệt, đường sá không thuận tiện, đôi khi biệt lập với đời sống bên ngoài. Cuộc sống trên vùng cao, ở miền hẻo lánh đã làm mất đi yếu tố văn hóa tiến bộ, khơi lại nhiều phong tục, tập quán của một xã hội lạc hậu đáng lý họ đã phải vượt qua. Con người bất lực đành để bản thân trôi từ năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác trong cuộc sống nghèo khổ, với mục đích duy nhất kiếm sống, tránh nạn đói lưu niên đe dọa. Bên cạnh đó, họ là những nạn nhân khốn khổ nhất của chế độ áp bức giai cấp, áp bức dân tộc. Trước Cách mạng tháng Tám, một số nhóm đã đứng trước nguy cơ bị diệt vong, nhiều bản làng, nhiều tên nhóm địa phương đã bị xoá trên bản đồ. Hiện nay, cần có biện pháp cụ thể hữu hiệu để cứu những cư dân nương rẫy này, không thể để chủ trương "định canh định cư" đề ra từ năm 1968, mà nay số người trong diện lại nhiều hơn. Rõ ràng đó là một việc không thành công, cần nhận thức lại một cách đúng đắn với những biện pháp tích cực và hiệu quả.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|