Đập chỉ là những hàng đá được xếp lại chít bằng cỏ quyện với đất sét, bề mặt không đến một mét, ngăn dòng nước ở suối cho chảy vào mương. Hằng ngày, người chủ ruộng phải đi thăm đập, nếu thấy bị rò rỉ hay bị phá phải tu sửa hay đắp lại. Đến mùa nước lũ về, đập bị phá hoàn toàn, mùa sau người dân lại đắp lại, có khi không phải ở chỗ cũ. Các con mương, rạch cũng thay đổi. Vào mùa khô, sau một thời gian bỏ hóa, chủ ruộng lại đắp bờ, phát cỏ, lá cây rải đều lên mặt ruộng, phơi khô rồi đốt để làm phân.
Hệ thống thủy lợi trên rất có khả năng là bản địa vì các thuật ngữ chỉ các bộ phận của hệ thống: Đập, mương, máng, các nông cụ... hoàn toàn có tính địa phương. Vả lại, diện tích phân bố khá rộng ở vùng chân núi, ở đó không có những thung lũng lớn với một con suối chảy giữa lòng như ở vùng núi miền Bắc, kỹ thuật không có gì độc đáo như kiểu đô thị - thủy lợi Ăngkor, quan hệ với việc sùng bái ông vua - thần Khmer. Vì vậy không nên tìm nguồn gốc của nó từ ấn Độ. Hơn nữa, hình thức đao canh thủy nậu còn thấy ở hồ Lắc (Đắk Lắk), ở những chỗ ruộng trũng rải rác khắp miền núi phía Bắc, đặc biệt ở vùng người Mường.
b) Hệ thống thủy lợi Chăm
Nước Chămpa được xây dựng trên mảnh đất hẹp nằm giữa bờ biển miền Trung và d•y núi Trường Sơn. Các vua chúa người Chăm rất chú ý xây dựng các công trình thủy lợi, nên được người dân Chăm ca ngợi, tôn thờ. "Núi đồi trùng trùng điệp điệp, nhờ phép thần thông của Po Klaong Giarai và Po Yang In; Ngài biến thành hồ chứa nước cho dân được nhờ"; "Đắp đập dọc theo dòng sông, nhờ tài phép của Po Klaong và Po Rômê, khai mương, đắp kè nước chảy ngược về đập Ma Rên, đủ nước dân cày cấy trên cánh đồng xanh tươi".
Hiện nay, người Chăm vùng Ninh-Thuận-Bình Thuận còn sử dụng bốn nhóm đập (banưk) Pô Klaong Giarai, Pô Rômê, Pô Yang In, Pô Đăm. Nhóm công trình thủy lợi dựa theo nguyên tắc thiết lập những đập cấu trúc đại thể là bắt đầu từ một hay nhiều hồ chứa nước nhân tạo do lấy những tảng đá to (tali) đắp cao, chắn ngang các đầu nguồn nước làm đập (binâk, banưk), bằng cách đóng năm hàng cọc gài chà để tạo mặt đập có bề rộng từ 4 – 5 m. Cọc thường dùng là gốc tre già (khăng yau tapăng krưm) (chắc như cọc tre); chà thường dùng cây chùm bầu (Passifloraceae), cây sả (thro yau hala mưlan, lah adhan yau plăng) (bò như cây chùm bầu, đẻ nhánh như cây sả (Cymbopodon citratus). Bờ đập theo hình thang, hai cánh chéo gọi là vai đập (bara), mỗi đập có từ 1 đến 2 mương tưới (ribaong, libong). Mỗi mương phân thành nhiều nhánh (anâk ribaong), nước qua các lỗ ở nhánh vào các mảnh ruộng. Lỗ nước được đục to nhỏ khác nhau để nước được phân phối đều cho các mảnh ruộng trên, dưới. Hồ nhân tạo thường có nước quanh năm, đến mùa tu sửa đập, được nạo vét cho đỡ bị đất bồi đắp. Với người Chăm, những hồ chứa nước là nguồn sống của họ, được họ coi là nước trời cho, không có nguồn: "Nước hồng con cá cũng hồng, Cái hồ trên núi ấy không có nguồn".
Để bảo vệ đập, người ta lợi dụng lớp đất cát theo nước tràn qua mặt đập lắng xuống tạo thành một lớp đất chống mối làm thân đập càng thêm chắc. Lớp đất đó được trồng nhiều cây say - một loại cây có bộ rễ rất chắc và chịu nước, vì thế người Chăm gọi là đập aphun ralai. Kênh mương của người Chăm được đào uốn lượn theo sông suối, nên tựa như con rồng. Hằng năm khi làm lễ đắp đập khai mương (hay tu sửa đập, nạo vét mương) họ thường vẽ hình con rồng đặt xuống hông mương quay đầu trở xuống theo dòng nước chảy. Họ tin làm như vậy sẽ tránh cho mương bị bồi lấp.
Công trình thủy lợi Chăm được xây dựng từ lâu đời, qua nhiều lần tu sửa vẫn tồn tại đến ngày nay. Công trình Po Klaong Girai (Giarai), lấy tên ông vua có công xây dựng đã tồn tại từ cuối thế kỷ XII đến nay. Po Klaong Girai (1151 - 1205) chú trọng thủy nông, mở rộng đất đai canh tác, làm lợi cho dân. Đáng chú ý là đập Nha Trinh (Charin) nay tại địa phận thôn Phước An, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, trên nguồn sông Cái. Tên đập được mang tên ông bà nội mẹ nuôi của nhà vua (banưk Pasa hay bara Chakling). Theo tục truyền, sau khi cho thả bè chuối khấn thần linh, định được địa điểm xây đập, nhà vua cho đào hai con mương. Mương phía Bắc giao cho nữ (ri boong kamay - mương cái); mương phía Nam giao cho nam (riboong likay - mương đực) thi nhau đào ; cuối cùng đến hạn bên nam mải chơi bỏ dở không đào hết nên thua. Đập Nha Trinh được tu bổ nhiều lần, chiều dài đập 385 m, rộng 3 m , cao 5 m Lòng mương Bắc hay còn gọi là mương Cái, rộng khoảng 6 – 8 m, chỗ hẹp cũng 3 – 4 m , chiều sâu 1,5 – 2 m. Mương dài khoảng 60 km dẫn nước tưới cho diện tích đất canh tác là 15.800 hécta của các thôn hai huyện Ninh Sơn và Ninh Hải như Lương Tri, Tháp Chàm, Thành ý, Công Thành, An Nhơn, Ba Tháp, Gò Đền, Hộ Diêm, Phan Rang, Bình Nghĩa, Dư Khánh. Mương Nam hay còn gọi là mương Đực mới được thi công trong thời gian gần đây, có người nói là năm 1965. Lòng mương khoảng 8 m, chạy dài trên 40 km, dẫn nước tưới cho các xã Phước Sơn, Phương Dân và An Hải. Thuộc hệ thống sông Cái, ngoài đập Nha Trinh còn 2 đập khác, đứng vững đã được hơn 800 năm, là đập Lâm Cấm (Pus saki) và đập Nha Húi (Chahoch).
Công trình thủy lợi do vua Pô Rômê khởi công (1627-1651) cũng đã được gần 400 năm, gồm nhiều đập: đập Cà Tiêu (Katêu) với con mương dài trên 50 km cung cấp nước canh tác cho 10.000 hécta ruộng xã Phước Hà, Nhị Hà, Phước Hữu huyện Ninh Phước; đập Ma Giăng (Chadăn) cung cấp nước cho 15.000 hécta cho các làng La Chử, Mông Thuận, Hữu Đức xã Phước Hữu và một số đập nhỏ khác. Đáng chú ý có đập Marên (Mưrên), nằm trên dòng sông Biêu, phía dưới đập Cha Vin (Chaping) nay thuộc địa phận thôn Nhị Hà 1, xã Nhị Hà, huyện Ninh Phước, với con mương dài
40 km cung cấp cho 10.000 hécta đất canh tác các thôn Hậu Sanh, Văn Lâm, La Chữ, xã Phước Hữu.
Ngoài ra còn công trình của Pô Yang In với các đập Tapa Kăm, Pa Rah, Sa Paon, đặc biệt đập sông Quao (Kraong Kuoa), nay Nhà nước xây thành hồ chứa nước Sông Quao tưới nước cho cả vùng Hàm Thuận Bắc. Công trình Pô Đam do Pô Kathit, em ruột bà Po Sah Inư, con vua Parachan, lên ngôi vua lấy tên là Pô Đam (1435-1460), khởi công tưới nước cho tỉnh Bình Thuận, gồm một số lớn đập. Đáng chú ý có đập Cà Dây (Agôk pathay hay Ô Thay) được tạo bởi hai nhánh sông Lù U và Kakau (Kakăup). Nay hồ Cà Dây điều tiết nước cho các đập phục vụ cho 10.000 hécta đất canh tác, một năm hai vụ. Đập Đồng Mới (Hamu birau) còn gọi là đập Sông lớn tại sông Luỹ cung cấp nước cho cả vùng phía nam huyện Bắc Bình. Đập La Bá (Labak), đập Đá Hàn (Patâu Chăng) đập Pa Ni (Panik)... cũng đáng chú ý.
ở miền núi có nhiều vùng chỉ là những thung lũng hẹp, việc trồng trọt tiến hành cơ bản ở các chân núi, sườn đồi. Người nông dân tạo ra các nguồn nước từ các khe, lạch, các mạch nước ngầm của các núi đá vôi, đắp đập dẫn nước vào các mảnh ruộng cao, thấp khác nhau. Việc này thường thấy ở miền núi phía Bắc. Cũng có thể coi những công trình thủy lợi nhỏ bé này nằm trong hệ thống tạo dựng hồ chứa nước không thường xuyên, vì hồ không thật là hồ theo đúng nghĩa của nó, chỉ là một nguồn nước cung cấp đủ cho những thửa ruộng hẹp cày cấy theo mùa. Nên không thể đồng tình với ý kiến J. Delvert, M. Ner, M. Colani, cho rằng hệ thống tạo dựng hồ chứa nước có nguồn gốc từ ấn Độ. Việc tạo dựng những hồ chứa nước điển hình thấy ở đế chế Angkor, ở vương quốc Chăm, những quốc gia ảnh hưởng của văn hóa ấn Độ, không hẳn đã do việc bắt chước kỹ thuật tưới nước từ ấn Độ, mặc dù một số chi tiết trong nghi lễ nông nghiệp chịu ảnh hưởng ấn Độ. Chỉ những thuật ngữ nhằm chỉ các bộ phận hệ thống thủy lợi của người Xơ Đăng, Chăm và các tộc người khác ở Đông Dương không hề vay mượn của ấn Độ cũng đã bác bỏ được thuyết truyền bá văn hóa (diffusionisme), một thời được các nhà Dân tộc học chấp nhận. Có thể xem đây là một hệ thống của vùng chân núi mà G. Montandon thấy ở cả Mexicô, Chi Lê... ở rặng núi Andes, cũng như ở vùng hải đảo Đông Nam Á và có thể ở nhiều nơi khác có cùng một hoàn cảnh địa lý. Theo ông, ở miền rặng núi Andes "Việc tạo ra những thửa ruộng cao thấp khác nhau ở những sườn núi nhằm mở rộng diện tích nông nghiệp và việc quy hoạch những phương tiện thủy lợi thích hợp là việc làm mà nhiều vùng khác trên địa cầu không sao đạt tới được".
Cần lưu ý, người Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận sinh sống trong tiểu khu vực địa lý rất khô hạn, nên rất giỏi việc tạo nguồn nước phục vụ canh tác, đào giếng phục vụ sinh hoạt và tưới vườn, tưới ruộng. Giếng Chăm nước trong vắt, rất ít khi bị cạn trong mùa khô hạn.
2. Hệ thống tưới tiêu “Mương phai, lái lín" vùng thung lũng
ở miền núi, những cư dân sinh sống ở các thung lũng đều sáng tạo nên một hệ thống tưới tiêu khá tiêu biểu rất thích hợp với địa hình lòng chảo, là dòng nước suối chảy theo hướng từ cao xuống thấp được gọi là hệ thống mương phai, tiêu biểu là của người Thái, với những cánh đồng nổi tiếng như: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc. Hệ thống này phổ biến khắp miền Nam Trung Quốc, miền núi Đông Dương rất có thể bắt nguồn từ tổ tiên cư dân Tày - Thái. Thuật ngữ mương, phai được người Việt dùng phải chăng cũng chỉ sự kế thừa hệ thống tưới tiêu này từ người Tày - Thái anh em trong quá trình hỗn huyết từ buổi ban đầu, để hình thành nên cư dân tiền Việt - Mường, trước khi thành người Việt, do sự giao tiếp với người Nam Đảo và nhất là người Hán.
Hệ thống mương phai là một hệ thống thủy lợi bao quát cả một con suối lớn với nhiều nhánh lan tỏa phủ khắp một thung lũng lớn và các thung lũng nhỏ bao quanh. Hệ thống này bắt đầu từ một trung tâm, nơi có thể đắp một chiếc phai lớn đưa nước tưới đều đặn cho một diện tích ruộng lớn, nuôi sống được nhiều gia đình, tổ chức được một chiềng - bản trung tâm của một mường, từ đó chi phối được các bản xung quanh. Cho đến nay người Thái Tây Bắc vẫn gọi các mường lớn hàng châu là Nặm luông mương tức Suối hay sông lớn mường như gọi Mường La, Mường Muổi, Mường Lay là Nặm luông Mường La..., trong khi đó các mường nhỏ không có tính chi phối hay đúng hơn bị lệ thuộc vào mường lớn thì chỉ gọi là nặm mương. Người Thái lưu truyền một câu chuyện cổ của một cô nàng Ăm Ca và chàng người "Xá" Tóng Đón khai phá vùng Mường Bằng (Sơn La) bắt đầu bằng việc xây dựng hệ thống mương phai để dựng mường lập bản rất cụ thể và l•ng mạn.
Nhìn vào hệ thống mương phai của Mường La, ta thấy đây là một công trình quy mô với việc sắp đặt vị trí các đập tức phai rất khoa học, hạn chế được sức phá hoại của nước lũ những khi hung dữ, đảm bảo được việc tưới nước ưu tiên vào những thửa ruộng nhà quan, nhưng đồng thời cũng đảm bảo đủ nước trong những năm bình thường cho nhà dân. Ruộng tốt thường là các thửa ruộng nằm sát bản hay kề miệng mương, ruộng xấu nằm kề suối hay cuối mương, phai.
Phai là yếu tố quyết định trong hệ thống thủy lợi. Công việc đắp phai là công việc của toàn dân, thường do một chức dịch quan nà trông coi đôn đốc. Phai có vững, ruộng mới đủ nước, mùa màng mới đảm bảo; phai vỡ mùa màng thất bát, dân đói khổ. Người Thái coi phai như chỗ ở của thuồng luồng (tu ngược hay tô ngựa), tức chủ nước (chẩu nặm) hay thần nước, rất được kính trọng vì tính thiêng của nó. Phai vỡ như cha chết, phai vững như cha còn (po tai phai păng, po nhăng phai mẳn). Muốn dựng phai, phải tìm được một địa thế thích hợp. Hai đầu phai phải tựa vào tảng đá lớn hay gốc cây to chống lại sức xói mòn của nước. Trước hết, người ta phải đặt một thân cây lớn gọi là mẹ nằm (trên) cát (me nòn xái), nằm dưới đáy suối, hai đầu tựa vào hai đầu bờ phai, một nửa thân cây chìm dưới nước. Nếu khúc sông hay suối quá rộng, phải làm những điểm tựa ở giữa chỗ nối hai cây me nòn xái, bằng cách lấy những thanh tre quây tròn thành hình trụ rồi bỏ những tảng đá cho đầy; sau đó xếp gỗ và ken gỗ theo hình rẻ quạt gọi là dựng đầu phai (có chon phai). Cuối cùng, lấy phên tre nứa ốp lên mặt phai, đắp đất cho mực nước dâng lên đủ chảy vào mương phần nước còn lại sẽ tràn qua mặt phai. Phai có ưu điểm là lực nước càng mạnh càng nén chặt các tầng phai xuống, làm phai chắc thêm. Có nơi phai được củng cố thêm bởi một hệ thống cọc gỗ xếp thành lớp. Ngoài kiểu phai gỗ, người Thái và các tộc người khác còn đắp các loại phai đất, đá theo hình thang cân, được gia cố bằng các phên phủ xung quanh ở các dòng suối vừa và nhỏ.
Nếu so sánh phai (Thái) với các đập của người Chăm, ta thấy ở phai lượng đá được sử dụng không nhiều, mặt đập không rộng, thiếu lớp cây chịu nước (cây chùm bầu, cây sả) trồng trước mặt phai để đập thêm chắc. Cho nên, với độ dốc của thế đất ở miền núi cao, nước chảy xiết, thường hàng năm người dân lại phải dựng hay tu bổ lại phai.
Phai chặn các dòng suối nằm giữa thung lũng, thường nâng mức nước suối lên cao từ 1 m - 3 m dẫn nước vào các con mương được đào đắp chạy theo ven sườn đồi hay sườn núi, đổ nước vào các mảnh ruộng nằm cạnh mương. Nước tràn từ mảnh ruộng trên xuống mảnh ruộng dưới qua các máng hay ống, luôn giữ được độ mát cần thiết cho cây lúa. Những ruộng này trước đây còn có điều kiện nuôi cá ruộng. Việc nuôi cá ruộng lợi cho việc trồng lúa vì cá sục bùn rỉa rễ lúa, kích thích rễ lúa mọc nhiều.
Mương dài ngắn khác nhau, có khi dài đến hàng chục cây số uốn mình men theo sườn đồi, núi, chạy từ phai qua những chân ruộng nằm giữa khoảng cách hai đập nước cùng con suối nếu có. Có những con mương có qu•ng phải bắc máng bằng thân cây bương hay cây gỗ đục rỗng vượt qua các khe giữa hai sườn đồi, núi, qua các chặng đường khúc khủyu, mấp mô, để đảm bảo cho lòng mương luôn bằng phẳng, nước chảy đều, đáy mương thu nhỏ, bờ mương thoai thoải. Người Hà Nhì có kinh nghiệm khi tháo nước vào mương, thả cái nia đường kính khoảng một thước, nếu nia trôi bình thường từ đầu mương đến cuối mương thì coi là được, nhưng không vì thế mà cho rằng người Thái trắng không biết đào mương, phải nhờ người Hà Nhì.
Từ con mương chính còn các mương phụ và các máng dẫn nước vào từng thửa ruộng dọc theo vùng đất mương chảy qua. Hệ thống đó người Thái gọi là lín. Lín thường được đắp bằng đất, hay các thân cây gỗ, thân cây cọ, cây móc được đục rỗng, các thân cây bương, vầu, tre. Có nhiều loại máng khác nhau. Theo Cầm Trọng, có loại máng ngầm, ngắn (lo, hay láy) rút nước trực tiếp từ mương vào các thửa ruộng sát mương, đưa nước từ ruộng trên cao xuống ruộng dưới thấp, hoặc tháo hết nước của một thửa ruộng. Máng này thường có nắp đóng mở tùy theo yêu cầu. Người Thái có kinh nghiệm cho các lo hay láy ở độ sâu cách mặt đáy lòng mương bao nhiêu cho thích hợp, đảm bảo mức nước vừa phải của mặt ruộng. Có loại máng dài hàng hai, ba trăm mét (lín) đưa nước từ trên cao xuống các thửa ruộng thấp. ở vùng Việt Bắc, các tộc người Tày, Nùng, Sán Chay, Dao... lợi dụng loại máng này đưa nước về nhà phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày. Điều đó có thể thấy ở vùng người Mường, người Thổ, hiếm thấy ở người Thái Tây Bắc. Có những loại máng bắc qua các khe suối phải đặt trên cầu treo được gọi là cuộm.
Hệ thống dẫn nước tuy ở tình trạng thủ công, nhưng đã hợp lý. ở một số vùng như Quỳnh Nhai, Phù Yên việc phân phối nước thông qua mương máng khá công bằng, được tính khá chính xác, ở ruộng trên tiết diện các máng (láy) nhỏ hơn các ruộng ở cuối và xa mương. Điều đó chưa thấy được ở vùng Mường Muổi, Mường La.
Để đưa nước từ những nơi mức nước các sông, suối quá thấp so với mặt ruộng, người Thái phải dùng những phai của hệ thống cọn nước được gọi là lốc hay cọn hay cọn nặm (Tày) . Những phai đó được gọi là lái.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|