Nobel Văn học 1931: ERIK AXEL KARLFELDT (1864-1931)
Erik Axel Karlfeldt là nhà thơ Thụy Điển. Cha ông là chủ trang trại ở Delekarlia. Thưở nhỏ ông học ở Karlobo. 1885, ông vào Đại học Tổng hợp Uppsala. Đúng lúc đó gia đình phá sản, ông phải vừa đi học, vừa đi làm, nên năm 1902 ông mới tốt nghiệp đại học.
Tập thơ đầu tiên của Karlfeldt là Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu xuất bản năm 1895 (Songs of the wilderness and of love). Tiếp theo là các tập thơ Những bài ca của Fridolin (Fridolins visor, 1898); Vườn hoan lạc của Fridolin (Fridolins lustgard, 1901); Flora và Pomona (1906); Flora và Bellona (1918); Tiếng kèn mùa thu (Hosthorn, 1927) Năm 1904 ông được bầu là Viện sĩ Viện hàn lâm Thụy Điển. Ông trung thành với truyền thống dân gian và cuộc sống thôn dã. Thơ ông lấy đề tài từ thiên nhiên và đời sống nông thôn, vừa hóm hỉnh, vừa lãng mạn, vừa hiện thực, nó đem lại cho bạn đọc những cảm xúc tươi vui, những tình cảm sâu lắng. Bài Bức họa của Dalmalningar là bài thơ độc đáo nhất của Karlfeldt, nó mô tả những bức tranh dân gian truyền thống lấy đề tài từ Kinh Thánh và từ các câu chuyện huyền thoại ở tranh treo trong các ngôi nhà nông dân Thụy Điển. Năm 1905, ông là thành viên Ủy ban Nobel của Viện hàn lâm Thụy Điển. Năm 1912, ông trở thành thư ký vĩnh viễn của Ủy ban giải thưởng Nobel về văn học. Chính vì vậy năm 1920, ông từ chối nhận giải thưởng Nobel văn học. Ông được truy tặng năm 1931. Tuy thơ của Karlfeldt không được biết đến nhiều ở nước ngoài, nhưng thơ ông được đánh giá rất cao ở Thụy Điển bởi thơ ông giàu cảm xúc và đậm đà bản sắc dân tộc Thụy Điển.
Nobel Văn học 1932: JOHN GALSWORTHY (1867-1933)
Nhà văn, nhà viết kịch Anh John Galsworty là con một luật sư giầu có. Cậu bé John học phổ thông ở Harrow. Ông học ngành Luật ở Đại học Oxford . Tốt nghiệp đại học Luật năm 1890, nhưng Galsworthy không muốn làm luật sư nên hành nghề được vài năm thì bỏ. Năm 28 tuổi, ông đi du lịch Nga, châu Mỹ, châu Đại Dương trong hai năm. Những tác phẩm đầu tay của ông, tập truyện Bốn ngọn gió (From the four winds, 1897); tiểu thuyết Jocelyn (1898) được xuất bản dưới bút danh John Sinjohn.
Galsworty có khuynh hướng hiện thực phê phán, ông miêu tả giai cấp tư sản Anh. Năm 1899, Galsworty nổi tiếng thế giới do bộ sách gồm 3 tiểu thuyết Người tư hữu (The man of property, 1906); Trong thòng lọng (In chancery, 1920); Cho thuê (Tolet, 1921), và 2 truyện ngắn Mùa hè cuối cùng của Forsyte (The indian summer of a Forsete, 1917) và Thức tỉnh (Awakenning, 1920). Bộ sách được gọi là Truyện dòng họ Forsyte (The Forsyte Saga, in trọn bộ năm 1922) phản ánh sự cố gắng làm giàu của nhiều thế hệ trong một dòng họ tư sản - giai cấp tư sản thời Nữ hoàng Victoria. Hai bộ tiểu thuyết đáng lưu ý của Galsworty là Hài kịch hiện đại (A modern comedy, 1928) gồm 3 tĩểu thuyết Chú khỉ trắng (The wihte monkey,1924); Chiếc thìa bạc (The silver spoon,1920); Bài ca thiên nga (Swan song,1928). Bộ cuối chương (End of the Chapter) miêu tả sự đổ nát của tư sản sau đại chiến thế giới I và sự tan vỡ của các lý tưởng thời Victoria – sự suy sụp của các giá trị nhân đạo tư sản, bộ sách gồm 3 tập với tên là Cô gái chờ bạn (Maid in waiting, 1931); Sa mạc nở hoa (Flowering wildernisse, 1932); Qua sông (Over the ribver,1933). Ngòai tiểu thuyết, Galksworty còn viết kịch. Kịch Chiếc hộp bạc (The silver box, 1906); Xung đột (Struggle, 1909); Băng đảng (The mob, 1914); Miếng đòn chết người (The skin game, 1920) của Galswothy có tính chất tự nhiên chủ nghĩa, chủ yếu viết về các tầng lớp trên, sự suy sụp của giai cấp tư sản.
Galsworty viết 20 tiểu thuyết, 27 vở kịch, 3 tập thơ, 173 truyện ngắn, 5 tập tiểu luận v.v. Ông là một trong những người sáng lập, đồng thời là Chủ tịch đầu tiên của Hội văn bút quốc tế –P.E.N. (PEN-Club1921). Ông được tặng thưởng giải Nobel văn học năm 1932, vì bộ sách Truyện dòng họ Forsyte của ông.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|