Đến thời Pháp thuộc, công trình tưới nước cũng không thực sự phục vụ cho việc tưới tiêu các ruộng lúa vùng đồng bằng, dòng nước các con mương, rạch thường chảy chậm, độ chênh lệch giữa nguồn tưới và mặt ruộng lại không cao. Vì vậy, ở đây ta ít thấy những công cụ tưới nước như ở vùng chân núi và thung lũng miền núi, không có những cọn nước (noria), mà người nông dân chỉ dùng nông cụ đơn giản là chiếc gàu dai và gàu sòng, nhằm nâng mức nước lên từ 10 - 50 cm. Đôi chỗ mức nước chênh lệch cao thì dùng chiếc xe guồng mà từ thời Lê (XVI - XVIII) đã phổ biến từ Bắc vào Nam. Năm 1759, Lê Hiển Tông đã ban bố cách thức chế xe nước, bắt dân y theo cách thức ấy chế tạo để lấy nước tưới vào ruộng. Chiếc xe guồng này có nguồn gốc từ Trung Quốc, chỉ dùng để tưới nước vào ruộng ở những vùng ruộng trũng cần đưa nước lên từ 1 mét đến 1.5 mét.
Chiếc gàu dai (khau sòng) được làm bằng tre dài 70 cm, rộng 25 cm, có chiếc cán dài từ 1.5 - 2 mét, được treo trên một chiếc giá đỡ ba chân, (cột vọt) cao thấp tùy theo mức nước cần đưa lên. Khi tát nước, người dân cầm đầu cán vục xuống nước rồi đưa gàu đẩy nước qua bờ vào ruộng.
Chiếc gàu sòng (khau giai) rộng 30 cm, cao 40 cm, được buộc vào bốn đầu dây cho hai người tát. Để tát nước lên một độ cao từ 10 đến 30 - 40 cm, tức là ở chân ruộng thấp, dùng gàu sòng là thích hợp nhất và đó cũng là loại gàu phổ biến nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Để tát nước lên một độ cao từ 0.8 - 1 mét, có khi đến 1.5 mét, thì người nông dân phải dùng gàu dai. "Ruộng cao đóng một gàu dai, ruộng thấp thì phải đóng hai gàu sòng".
Tát nước là một công việc khó nhọc, năng suất thấp, người nông dân thường thích tát nước vào ban đêm, vừa đỡ mệt, vừa thơ mộng "Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi". Theo R. Dumont, với một chiếc gàu sòng một ngày làm việc bình thường, muốn đưa nước lên độ cao 0,3 m trong 1 phút đẩy gàu được: 22 lần. Khối nước một lần tát: 10 lít. Thời gian một ngày làm việc 7 giờ có thể tát được 93 mét khối nước.
Với một chiếc gàu dai, muốn tát nước lên độ cao 0,3 mét, trong một phút tát được 20 lần. Khối nước một lần tát: 7 lít. Thời gian một ngày làm việc 7 giờ thì 2 người lao động có thể tát được 60 mét khối nước.
Vậy muốn có một lớp nước dày 10 cm, tức là ruộng được no nước, với một chiếc gàu sòng phải mất 11 ngày công, trong khi đó với một chiếc gàu dai, phải 33 ngày công. Hai loại gàu sòng và gàu dai rất phổ biến ở một số nơi trên thế giới, từ Nhật Bản, Nam Trung Hoa đến, Inđônêxia, Campuchia, ấn Độ, là một dải các quốc gia làm ruộng nước. Ngoài ra, còn một loại gàu vẩy. Gàu được cấu tạo như gàu sòng nhưng cán ngắn hơn, dùng để tát vét nước ở ruộng mạ, ở những ruộng trồng màu. Gàu vẩy cũng còn dùng để tát nước từ ao đầy nước khi tưới vườn. Gàu vẩy còn được gọi là bồ đài.
R. Dumont và Ngô Đức Thịnh còn phát hiện ra một loại gàu, mà Ngô Đức Thịnh gọi là gàu sòng kéo, không có giá đỡ ở vùng trũng thấp như Nam Hà, đặc biệt là vùng Hải Hậu. Đó là loại gàu có thân đóng bằng gỗ hình múi bưởi, chiều ngang miệng gàu khoảng 0.5 – 0.7 m. Gàu có cán gỗ như hình cán bừa dùng để kéo nước từ thấp lên cao, chiều ngang bằng chiều ngang miệng cán, chiều dọc khoảng 0.7 – 0.8 m. Người tát nước đứng trên ruộng, tay cầm cán gàu, múc nước rồi kéo trượt gàu lên, đổ nước vào ruộng cao hơn mực nước tưới từ 0.2 – 0.3 m đến 0.5 m là thích hợp.
Đảm bảo đủ nước theo đúng thời vụ là một việc khó, cần sự giúp đỡ của cả cộng đồng. Mai Văn Hai và Bùi Xuân Đính cho ta một ví dụ cụ thể ở một làng đồng bằng Bắc Bộ, làng Đào Xá, trước năm 1959. Để đảm bảo nguồn nước cho các khâu làm đất, gieo cấy và thời kỳ sinh trưởng của lúa, những gia đình trong xóm hay cùng họ hàng giúp từng nhà theo kiểu vần công như đã thấy ở nhiều tộc người ở Việt Nam. Sau vụ làm mùa, ruộng được cày ải hay cày vỡ đất, phơi nắng để phân hủy các ấu trùng sâu bọ, tránh nguy cơ sâu bệnh hại lúa vụ sau và làm giàu cho đất. Đến gần ngày cấy, muốn bừa phải cần một lượng nước lớn, vừa để đủ ngấm và dư thừa một lớp chí ít cao bằng mặt luống cày. Muốn thế cần phải tát nước đổ ải. Đó là một khâu lao động nặng nhọc nhất của vụ chiêm, vụ mùa. Tuy nhiên, do địa thế, ruộng liền thửa, gần hay xa nguồn nước khác nhau, cần phải tạo lập một nong nước hay còn gọi là nhõng nước ở một chỗ đất bằng phẳng, rộng r•i đủ chỗ đặt gàu tát nước vào ruộng thuận lợi nhất. Khoảng cách giữa mặt nguồn nước và mặt ruộng chỉ nên cao vừa phải, nếu là gàu sòng là từ 0.2 – 0.5 m, nếu là gàu dai, 0.8 – 1 m; nếu quá giới hạn đó, người tát nước rất tốn sức vì phải cúi sâu, rồi lại dướn người lên. Kinh nghiệm cho biết, nếu phải đưa nước lên cao hai lần, năng suất sẽ giảm đi từ 1.5 đến 2 lần trong một ngày.
Nếu ruộng kế nhau, mặt bằng như nhau, các gia đình thường làm chung nhõng nước. Nếu độ chênh mặt ruộng cao, nước từ nong không tự chảy vào ruộng xa hơn được, có biện pháp tát chuyền hay tát dây, một người tát từ nong nước lên ruộng gần nhất, rồi một người khác lại tát nước lên ruộng tiếp theo, một dây chuyền có khi đến 4 - 5 gàu tát.
4. Hệ thống kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là phần l•nh thổ nằm ở cực nam Tổ quốc kéo dài từ 11o đến khoảng 8o 30' vĩ độ Bắc, có nghĩa là toàn vùng nằm trong vòng đai nhiệt đới ẩm, có khí hậu nóng ẩm quanh năm. Đồng bằng rộng 39.568 km2, rộng gần gấp 3 lần châu thổ Bắc Bộ, bao gồm 11 tỉnh, với khoảng trên 16 triệu dân, là vựa lúa và thực phẩm lớn nhất cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa ở cửa sông Mê Kông mà đỉnh là Phnom Pênh, thủ đô Campuchia. Khi chảy đến địa phận Việt Nam, sông Mê Kông chia làm hai nhánh: phía Bắc là Tiền Giang, phía Nam là Hậu Giang. Hai sông này càng ra đến biển càng rộng lớn và chia làm nhiều nhánh, cửa vào con sông nhánh rộng đến vài km. Hai con sông lại được nối lại với nhau bằng nhiều nhánh sông nhân tạo hay thiên tạo, lượng nước chảy lớn, mùa nước lũ là từ tháng 7 đến tháng 11, cao nhất là tháng 9, tháng 10, mức nước có thể cao hơn mùa cạn đến 4 m.
Chứng tích lịch sử cho thấy con người đã có mặt ở vùng đất này cách đây khoảng 4000 - 5000 năm, trên một vùng bao quát cả phần trên dưới lưu vực sông Cửu Long và sông Đồng Nai, nhưng họ đã chưa thể tràn xuống cư trú rộng r•i ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Người đầu tiên khai phá vùng này không ai khác là cư dân Khmer. Ban đầu, họ cư trú thành những phum, srốc lẻ tẻ trên những dải đất cao (giồng) dọc các con sông, kênh, rạch tự nhiên (prêh thom mchiết). Đó là những lớp phù sa cổ sinh, trên mặt là cát pha đất màu, dưới là sét được tạo nên qua quá trình đồng bằng tiến ra biển. ở đây, ngoài việc chờ nước mưa làm ruộng, người Khmer còn biết lợi dụng những hồ chứa nước, tức đầm trũng (beng) hay đào các giếng hay ao để lấy nước tưới ruộng và dùng sinh hoạt hằng ngày. Những ao (sra) đó còn được biết qua các sự tích ao Tiên ông, Tiên bà, ao Bà Om v.v.... Dần dần, do áp lực về dân số, do trình độ kỹ thuật phát triển, họ đã dời bỏ các giồng, tiến xuống khai phá các vùng ven giồng, đào kênh rạch (prêh chik), điều mà người đồng tộc Khmer của họ bên Campuchia cách đây không lâu vẫn chưa thực hiện được. Di tích ngôi chùa Pra Xa Thkong, còn gọi là chùa Vua, xây dựng cách đây 796 năm, ở xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng là một chứng cứ. Như vậy, người Khmer đã biết đào kênh rạch, khai phá ruộng đồng. Ban đầu, họ đắp bờ khai thông các con sông, rạch tự nhiên, đào dài và rộng thêm, nếu nhỏ thường rộng 5 – 10 m, nếu lớn hàng chục mét, thuyền bè có thể đi lại được. Bờ được tôn cao, có thể thành đường đi trong mùa nước rút, nhà dựng hai bên đường, bên trái, bên phải, đằng sau là các thửa ruộng be bờ. Mùa lũ, nước tràn bờ, phù sa tràn vào ruộng. Ngày thường, nước từ các con sông lớn chảy vào các kênh rạch tự nhiên hay nhân tạo, rồi chảy vào các nhánh (khoeng), rộng chừng từ một đến ba mét, dài khoảng từ 0.5 km đến 3 - 5 km. Các khoeng thường được lấy tên người đứng ra khai phá đặt cho, từ đó ta có thể suy ra tính tộc người. Đập (tum núp) thường được đắp lùi vào trong dòng nước chảy hai, ba chục mét, hai vách và chân đập được gia cố rất chắc, trên được chắn bằng những thân cây gỗ đặt ngang, chèn đất đá, tương tự như của các dân tộc xung quanh: Chăm, Việt, Lào... Cái khác là ở vùng đất còn nhiều phèn, họ phải làm sao giữ được nước ngọt để ếm phèn, tức là để phèn lắng ở độ nước sâu (từ 60 - 100 cm) không gây độc hại cho cây trồng, hoặc ngăn nước mặn không theo con nước tràn qua kênh vào ruộng. Đập làm bằng thân cây dừa được đục rỗng (bọng, lu) để ngăn hay thóat nước tùy theo sự lên của thủy triều, có hai nắp đậy hai đầu, có thể kéo lên, hay hạ xuống gọi là sonte stuê lu hay sonle stuê lu. Khi nước triều lên, người chủ đập hạ chiếc nắp phía nước lên xuống cho nước mặn không tràn vào ruộng, khi nước triều xuống, họ nâng nắp phía nước xuống lên, đặt chiếc đăng hay hom vào chỗ lỗ (bọng) để bắt cá và để nước trôi rửa phèn. Có đập lớn cho nhiều thửa ruộng, cũng có đập nhỏ cho từng mảnh ruộng.
ở các ao, giếng nước, người Khmer biết dùng chiếc gàu kéo (xnach thloăng) bằng gỗ, kỹ thuật dùng cũng giống như chiếc gàu kéo mà R. Dumond và Ngô Đức Thịnh mô tả ở vùng đồng trũng Bắc Bộ. ở các thửa ruộng, thông thường như người đồng tộc ở Campuchia và người Việt, người Khmer dùng chiếc gàu sòng (xnach) hay gàu dai(xnach yaung), gần đây là chiếc guồng nước hay xe nước (rơhat tuk) học được từ người Hoa và người Việt hay chiếc bơm nước điều khiển bằng điện.
Ở các vùng ruộng trũng, người Khmer đã biết lợi dụng loại lúa dại hoặc đã sạ loại lúa nổi, năng suất không cao, nhưng không phải tốn nhiều sức.
Tuy nhiên với số dân không nhiều, lại ở vùng ngoại vi thuộc Thủy Chân Lạp, những thổ dân đồng bằng sông Cửu Long - cư dân Khmer không đủ sức khai phá một miền l•nh thổ rộng lớn, lại khó chinh phục, nơi mà "Toàn đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hàng ngàn dặm (Phủ biên tạp lục), "Quạnh hiu hoang mạc" (A. de Rhodes), "Những cánh đồng hoang không một gốc cây..., hàng trăm ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy" (Lê Hương), nơi:
"Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh".
(Ca dao)
Nhà Nguyễn chủ trương khai phá đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu từ miền Tây Nam Bộ vào đầu thế kỷ XVII, sau khi thành lập Phiên trấn Gia Định, bằng việc di dân, trong đó có nhiều lần ồ ạt. Ban đầu, những người dân di cư phải bám vào những con sông, kênh, rạch tự nhiên, cư trú trên những giồng ven sông, lựa chọn những nơi sinh sống tùy ý, tự do khai khẩn ruộng đất, lập làng, lập ấp. Đến cuối thế kỷ XVII, nhà Nguyễn thu nạp một số quan lại nhà Minh lưu vong (Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch...) cho vào sinh sống ở Nam Bộ từ Gia Định, Mỹ Tho cho đến phần đất Hà Tiên. Công cuộc gian khổ đó kéo dài đến cuối thế kỷ XVIII đã biến vùng đất mới thành vựa thóc lúa cung cấp cho Đàng Trong. Khi Gia Long lên ngôi, việc khai khẩn Nam Bộ được đẩy mạnh hơn. Những kênh đào đã đào được kéo dài, như con kênh Bảo Định (1765) rạch mới sông Tranh (1785) (kênh Thương M•i) nối liền sông Vàm Cỏ Tây và sông Tiền Giang, hoặc đào thêm kênh Vĩnh Tế (1819) ở vùng Hậu Giang nối liền sông Hậu với vịnh Thái Lan, ngoài ra còn có những con kênh nhỏ như kênh Ruột Ngựa (1772), kênh Thụy Hà (1816), kênh An Thông (1819), kênh Lợi Tề (1829) tức kênh Bo Bo (1829), kênh Vĩnh An (1843), kênh Tân Hương, kênh nối rạch Lấp Vó với sông Sa Đéc v.v.... Kênh rạch đào đến đâu, làng ấp mọc đến đó, không theo thế mật tập như ở đồng bằng Bắc Bộ, mà trải dài theo kênh rạch hoặc từ một điểm tụ cư sau tỏa ra nhiều tuyến. Công cuộc chinh phục Nam Bộ bắt đầu từ năm 1672, năm 1698 mới đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm 1724 tới Hà Tiên, năm 1732 đến vùng sông Tiền, năm 1750 đến vùng Tân An và Gò Công, năm 1757 toàn vùng Bắc Hậu Giang và sau đó không bao lâu toàn Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long được khai phá trở thành một vựa lúa lớn nhất nước.
Người dân cũng tự mình đắp bờ quanh ruộng, chia mảnh ruộng thành nhiều ô nhỏ (tiếng Khmer: au) để giữ được mức nước đồng đều và cao thấp tùy ý. Ngoài ra còn có một hệ thống rạch nhỏ trong ruộng và cửa cống thông với rạch giúp điều chỉnh mực nước, ngăn mặn, rửa phèn cũng như hàng loạt đê bao ngăn mặn dọc các sông, rạch lớn nhỏ. Hệ thống đê bao, bờ ngăn nước mặn giúp người dân xả nước mặn, nước phèn khi mùa mưa đến.
Ngoài ra, ở những vùng đất thấp, người nông dân đã có sáng kiến đào kênh rạch lên liếp. Họ đào những con rạch song song. Đất đào được đắp lên tạo thành những liếp đất cao để không bị ngập khi nước sông dâng cao. Nước sông vừa tưới được cho ruộng và các vườn cây ăn trái, vừa lắng đọng phù sa ở đáy rạch. Hằng năm hay hai ba năm một lần, người ta vét bùn trong kênh đưa lên mặt liếp, vừa làm thông dòng nước chảy trong kênh, vừa làm cho đất trồng thêm màu mỡ. Kết quả đem lại là đời sống người dân di cư đã ổn định, phần lớn làm nông nghiệp, một bộ phận "Nuôi bán cá tươi hoặc muối mắm, phơi măng khô, đốn gỗ, làm kế sinh nhai" (Lê Quý Đôn). Theo Đại Nam Nhất thống chí đã có 93 chợ và Sài Gòn - Bến Nghé đã trở thành thương cảng lớn nhất ở Đàng Trong. Người dân "Cứ gieo một hộc thóc giống, thu hoạch 300 hộc" (Lê Quý Đôn), "Ngày ăn ba bữa, ít khi ăn cháo, lại không ăn độn, vì lúa gạo nhiều và không có năm nào mất mùa" (Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí).
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|