tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
12.12.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (11)

Sang đến thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chú trọng việc cải tạo, mở rộng, đào sâu, nối liền các kênh rạch sẵn có từ Sài Gòn đến vùng Rạch Giá, Cần Thơ nhằm mục đích có đường giao thông phục vụ cho việc bình định và tiếp sau là việc khai phá mở rộng đất canh tác. Ngoài việc làm thủ công, người Pháp đã bắt đầu dùng tầu cuốc. Phải đến năm 1905, một kế hoạch đào kênh quy mô được trao cho một công ty nhận thầu, mới được tiến hành có bài bản. Từ năm 1905 đến năm 1911, đã đào và cải tạo được nhiều kênh rạch ở vùng Bắc đồng bằng sông Cửu Long tập trung ở cánh đồng Cần Thơ - Sóc Trăng, lượng đất đào tăng nhiều nhờ tàu cuốc, tổng cộng là 44.558.000 m3 đất. Tiếp đó, một kế hoạch kế tiếp dự định thực hiện từ năm 1913 đến năm 1918, nhưng vì chiến tranh phải kéo dài đến năm 1929, đặc biệt là việc đào kênh Rạch Giá - Hà Tiên, là vùng hoang hóa dài 80 km, rộng 30 km, chưa có đường đi. Kênh chính chạy song song với bờ biển 81 km, sâu 3.5 – 3.8 m, rộng 28 m, nối liền nhiều kênh phụ thông ra biển và tiêu nước cho 4 vùng trũng, với khối lượng đất đào lên đến 22.200.000 m3, nhằm khai thác một vùng đất rộng đến 220.000 hécta. Ngoài hệ thống kênh Rạch Giá - Hà Tiên, đến năm 1930 còn hình thành một số khu thủy nông khác như ở Sóc Trăng, Cần Thơ với các kênh đào, các cống, đập, kè. Riêng vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn, người Pháp chưa tiến hành khai khẩn được là bao.


Từ năm 1931 - 1945, việc khai hoang bằng việc đào kênh rạch trở nên khó khăn. Nếu trong 10 năm từ 1880 - 1890 muốn khẩn hoang 1 hécta ruộng chỉ phải đào 12 m3 đất kênh rạch, thì đến năm 1920 - 1930 muốn khẩn hoang được 1 hécta đất canh tác phải đào 161 m3 đất, tức là gấp 12 lần so với thời kỳ 1880 - 1890. Do vậy, việc đào các hệ thống kênh chỉ có thể tiến hành ở những nơi điều kiện kinh tế - kỹ thuật dễ và rẻ, đáng kể có hệ thống thủy nông An Trường (1934), Gò Công (1937), Tiếp Nhật (1938), Bang Cung (1938), Long Vĩnh (1940), Ba Tri, Cầu An Hạ, một số còn dở dang vì chiến tranh.


Tuy vậy, cũng cần thấy rằng, dưới thời Pháp thuộc, việc làm thủy lợi đã đạt được một số kết quả. Về khách quan, thời ấy cũng đã khai phá được một vùng đất đai rộng lớn, tạo điều kiện cho người dân tụ cư thêm đông, diện tích canh tác được mở rộng, đường đi lại dễ dàng. Tuy nhiên, cả một vùng rộng lớn hơn 1 triệu hécta ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, U Minh Thượng, U Minh Hạ chưa được giải quyết. Nhưng do bản chất của chế độ thực dân là bóc lột, nên ruộng đất tập trung hầu hết vào các điền chủ. Y. Henry cho biết, đến năm 1930, 606.500 hecta đất nông nghiệp (20.6%) màu mỡ nhất rơi vào tay các điền chủ thực dân, khoảng 250.000 hécta (0.9%) cho Nhà thờ, trên 1 triệu hecta cho 2.5% điền chủ người Việt và người Hoa, 71.7% điền chủ vừa chia nhau khoảng 345.000 ha, 25.8% điền chủ nhỏ chia nhau số còn lại. Khoảng 50 - 60% nông dân hầu như không có ruộng, tỷ lệ cao hơn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.


Sau năm 1975, Đảng và Nhà nước lưu ý giải quyết vấn đề thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài việc thay đổi quan hệ sản xuất có lợi cho người lao động, Chính phủ chú tâm chinh phục vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau, quyết tâm giải quyết cải tạo đất phèn, đất mặn và chế độ nước của sông Mê Kông đổ vào châu thổ để tránh nạn thiếu nước mùa cạn và dư thừa nước gây ra lụt lội mùa mưa. Ngoài việc đưa khoa học - kỹ thuật vào đồng ruộng, đến năm 1995, Nhà nước đã đào được 5700 km kênh chính, 3000 km kênh cấp II, với 200 cống ngăn mặn, 15.530 km bờ bao ngăn lũ sớm. Đồng thời, diện tích lúa cũng tăng từ 2.062.000 hécta (1976) lên 2.313.800 hécta (1988) sản lượng từ 4.655.300 tấn (1976) lên 7.604.400 tấn (1988), năng suất bình quân từ 22,6 tạ/hécta (1976) lên 32,90 tạ/hécta (1988).


Những việc làm trên được nhân dân đồng tình và ủng hộ, nhưng còn nhiều vấn đề tồn tại đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa của Đảng và Nhà nước. Đó là các vấn đề: Lũ lụt, nước ngọt và nhiều vấn đề khác liên quan đến việc bảo vệ rừng, quan hệ trồng trọt và khai thác, chăn nuôi thủy sản, quan hệ giữa nông nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp, vấn đề độc canh cây lúa và giải quyết sao cho một số ít người nông dân đồng bằng sông Cửu Long tránh khỏi đói nghèo, nhất là đồng bào Khmer.


Bốn hệ thống thủy lợi truyền thống có những đặc tính riêng, nhưng trên thực tế chúng thường quyện lẫn vào nhau và có những vùng có cả hai hệ thống cùng chi phối như vùng Thanh Hóa, Nghệ An, vùng Trung và Nam Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ... Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, hệ thống tạo dựng hồ chứa nước kết hợp với thủy điện trở nên phổ biến, nhưng khi tiến hành không thể không xem xét đến đặc thù từng vùng.


b) Chiếc váy ống


Là chiếc váy cuốn được khâu lại như một cái ống phổ biến trước đây ở hầu hết các tộc người Việt Nam. Chiếc váy "xắn quai cồng" của người Việt, mà người bắc Trung Bộ gọi là nấm, thường trên hẹp dưới rộng, chỉ ngắn đến ống chân, khi lao động xắn váy cao lên trên đầu gối, rồi buộc túm gấu váy trước và sau vào nhau. Váy được giữ bằng chiếc thắt lưng một hay nhiều vòng ngoài cạp váy, thường quấn thành bao để những thứ lặt vặt. Các tộc người ở Đông Bắc cũng mặc váy kiểu này, có chăng khác ở người Tày – Thái gấu váy bên trong đáp thêm một miếng vải đỏ, lấp ló khi di chuyển. Đáng chú ý là chiếc xà rông, với nền đen, chàm và các hoa văn khác nhau, phổ biến ở tất cả các cư dân suốt từ miền Trung Á, Ấn Độ qua Tây Nam Trung Quốc xuống miền Đông Nam Á kể cả hải đảo. Có loại xà rông cuốn, nay được khâu thành kiểu váy ống, bó sát vào thân, thấy ở các tộc người từ Tây Bắc, suốt dọc Trường Sơn - Tây Nguyên vào đến đông Đông Nam Bộ, cạp và gấu dài bằng nhau. Có nơi váy không có cạp riêng (trừ người Mường và bộ phận Thái ở Mai Châu, Mộc Châu, Thanh Hóa, Nghệ An), có nơi có cạp hẹp màu trắng hoặc đỏ. Gấu váy bên trong thường có nẹp đỏ hoặc trắng, nên có khi lầm tưởng mặc hai váy. Bên ngoài váy, có nơi để trơn, có nơi ở gấu váy có thêu hoa văn. Váy của người Lào là Lự khâu hoa văn toàn thân.


Cách mặc váy có khác nhau, có nơi gập hai mép váy vào giữa thành hai nếp, có nơi vắt sang một bên rồi cài mép vào phía trong, sau đó thắt dây lưng ra ngoài và phủ lên trên cả mép áo, hoặc vì áo ngắn có một kẻ hở giữa bụng. Riêng người Nùng ở Lào Cai,
Hà Giang có kiểu váy gấp nếp bắt chéo hai đầu váy ra đằng sau để thừa mép trông giống như một cái túi trễ xuống bên mông phải. Loại trừ một số người Nùng – Dao, phụ nữ các tộc người mặc váy sớm hơn quần. Nhiều tộc người ít chịu ảnh hưởng phương Bắc còn chưa biết mặc quần. Phụ nữ H’mông trắng có tấm váy gấp, khi xoè ra bằng chiếc nong, một loại váy chỉ thấy ở tộc người láng giềng phương Bắc.


c) Chiếc săm pốt: được nam giới Khmer hay mặc. Phải chăng là kiểu trung gian giữa chiếc váy cuốn và chiếc quần. Nếu xét về kỹ thuật may, thời săm pốt chỉ là một mảnh vải hình chữ nhật cạnh một cạnh 2 m, một cạnh 0,80 m hoặc không khâu (váy cuốn) hoặc khâu (váy ống), màu đen, dài đến mắt cá chân (săm pốt chor phum). Nhưng cạnh chiếc săm pốt đó, còn chiếc săm pốt châng khen cổ truyền hay săm pốt hol hay chôn kpal([1]). Chiếc săm pốt này có khổ rộng bằng hai chiếc váy; khi mặc vào thì cuốn ngang hông, gấp từ phía trước, chỗ thửa hai đầu vải được cuốn lại rồi đưa luồn qua háng, giắt ra phía sau lưng, trông bề ngoài như một chiếc quần, phồng to, ngắn ngang đầu gối. So sánh ta thấy, kiểu cuốn săm pốt gần giống cách cuốn khố, nên nói săm pốt là chiếc váy hay chiếc quần đều đúng. Ở đây, không nên lẫn chiếc săm pốt với chiếc xà rông([2]), thuật ngữ chỉ váy cuốn hay váy ống.


Chiếc săm pốt nay vẫn được người dân Khmer ưa thích, tuy ít thấy dùng hằng ngày ở các thị trấn, trừ các cụ bô lão.











 


 


 


 


 


 


 


 


 




d) Chiếc khố


Khố là loại choàng quấn xuất hiện sớm nhất. Vua đời Trần còn đóng khố, người đánh dặm ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ cách đây không lâu còn đóng khố. Phụ nữ Stiêng, M’nông, vào hồi đầu thế kỷ còn đóng khố. Nếu J. Boulbet ví chiếc khố của nhóm Budeh, nhóm giữa Mạ và Stiêng, như tấm che thân của các apsaras ở Angkor Vát là đúng, thì càng minh chứng xưa phổ biến một vùng rộng hơn đàn bà đóng khố([3]). Hiện nay khố vẫn là tấm vải che thân phổ biến ở đàn ông Trường Sơn - Tây Nguyên. Ban đầu khố dây, khố rợ là dải dây lưng là phương tiện để giữ ban đầu là một tấm mo, tấm vỏ cây, tấm bẹ chuối, nay phổ biến là mảnh vải che hạ bộ. Theo Chu Thái Sơn, chiếc váy của phụ nữ Ba Na có trang trí như một mảnh vải hình chữ nhật giữa thân sau, có lẽ là lưu ảnh của chiếc khố khi xưa([4]).


Khố có nhiều loại, loại dùng hằng ngày thường đơn giản, ngắn, bằng vải mộc, sợi gai, đay hay bông nhuộm chàm sẫm, không có hoa văn. Loại khố ngày lễ hội, khố của các tù trưởng, các dũng sĩ được dệt bằng sợi bông hay đay trồng, trắng mịn nhuộm chàm, dài đến hàng sải tay, hai đầu khố có hoa văn, đính thêm các tua dài 20-25 cm. Trên khố ở phần bụng còn cuốn các mảnh thép mỏng giát bạc, giắt thêm các lục lạc, các dây hạt cườm... rất đẹp. Cách quấn khố, mỗi tộc người một khác, nói chung nếu là khố loại sang, giắt buông hai đầu một ra đằng trước, một ra đằng sau, còn đối với loại khố thường ngày có thể giắt phía sau, hoặc về phía sườn bên phải.


e) Chiếc quần


 


Thông dụng trong các cư dân may cắt theo kiểu cắt (coupés) phổ biến ban đầu từ suốt châu Âu, Bắc Phi, Tiểu Á, các tộc người theo đạo Hồi ở Á châu, ở cư dân Eskimo và thổ dân châu Mỹ, sau mới thấy ở Trung Quốc, Nhật Bản và miền Viễn Đông, trong đó có Việt Nam. Rõ ràng đây là một sản phẩm cổ truyền của châu Âu, Bắc Á, không quan hệ đến du mục, mà chủ yếu đến khí hậu. Đàn ông Scotland mặc váy, nhưng có quần lót và tất. Ở nước ta, nam giới chuyển từ chiếc khố sang chiếc quần khá sớm, có thể là từ khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, nhưng quá trình phổ biến thì lại khá chậm.


Ngoài chiếc quần lá tọa, cạp được vắt trùm lên dây thắt lưng, quần của các tộc người thường cắt theo kiểu chân què, đũng quần rộng tiện cho tục đái đứng trước đây của phụ nữ. Ống quần thường rộng không hẹp. Thông thường quần khi lao động hay sinh hoạt bình thường không dài, gấu chỉ đến bụng chân, ít khi đến mắt cá chân. Quần mùa lễ hội hay khi có khách, đi dạo chơi mới dài đến mắt cá. Cạp quần thường rộng được thắt nút trước bụng hay được giữ bằng chiếc dải rút.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 







([1]) J. Delvert: Le paysan cambodgien, Sđd, 1961, tr. 143-144, giới thiệu chiếc săm pốt châng khan của Campuchia và vùng An Giang Việt Nam; Phan Thị Yến Tuyết: Sđd, 1993. tr.153, giới thiệu săm pốt chor phum của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long.




([2]) G. Groslier: Recherches sur les Cambodgiens d'après les textes et les documents, Paris, 1921, trích theo J. Delvert, Sđd. 1961 và Nguyễn Công Bình và tập thể: Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Khoa học xã hội, 1990, tr.356.




([3]) J. Boulbet: De la femme Bu Deh aux apsaras d' Angkor, Arts asiatiques, 1968, tr.109-119.




([4]) Chu Thái Sơn: Bđd, 1912, tr.12.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »