3. Mầu sắc, hoa văn
Những cư dân ở đồng bằng thường dùng ít màu sắc trên xống áo. Người Việt có thể trồng chàm nhưng lại thích mua củ nâu (Dioscorea cirrhosa Prain và Burk) thuộc họ củ nâu Dioscoreaceae) ở miền núi để nhuộm xống áo. Có thể họ là tộc người duy nhất dùng đồ nâu. Củ nâu mua về, cạo vỏ, mài hoặc giã nát hòa một lượng nước gấp 5 - 6 lần, gạn lấy nước trong, nhúng vải khoảng một buổi, phơi khô. Vải được nhúng rồi phơi nhiều lần cho đến khi được màu như ý. Lần cuối, muốn cho bóng mượt, nhúng vải vào nước củ nâu đun sôi. Nhuộm đen có tính chuyên môn hơn vì phải nhấn bùn đòi hỏi một kỹ thuật phức tạp, nên có làng chuyên nhuộm như làng Đông Ngàn, Đình Bảng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, làng Đông Ngạc, Võng Thị, Văn Chuông, huyện Hoàn Long v.v...([1]) Người Việt Nam Bộ mặc đồ đen theo ảnh hưởng của người Khmer, vả lại hiếm củ nâu và có nhiều cây mác nưa (Diospiros mollis thuộc họ Thị Ebenaceae) mọc tại chỗ. Ban đầu, vải được nhúng trong nước tro của bột vỏ ốc và quả bông gòn, được nhúng 4 - 5 lần vào chum nước quả mác nưa, sau đó vắt kiệt, phơi khoảng nửa tháng trong thời tiết bình thường. Có thể hòa thêm các thứ lá, rễ, củ có hương thơm. Ở Campuchia và Nam Bộ, trước đã có làng chuyên nhuộm vải để bán([2]). Người Chăm tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ưa mặc đồ màu đen hay sẫm, đàn ông mặc đồ màu trắng.
Ở miền núi, cư dân thường mặc xống áo màu chàm (Indigofera tinctoria L. thuộc họ Cánh bướm Papilionaceae, nay thường xếp vào họ tên là Fabaceae). Chàm được hái về tuốt lá hay để cả cành vào thùng gỗ hay hố xây gạch ngâm 2 - 3 ngày, nếu trời râm 4 - 5 ngày để chàm lên men. Sau gạn nước trong, cho vôi cục vào để kiềm hóa; cứ 10 phần chàm, thì một phần vôi. Dùng cành cây quấy đều, rồi để khoảng 4 - 6 giờ cho ôxy hóa hết. Tiếp đó, nhúng vải vào nhuộm, phơi dăm bảy lần cho đến khi được màu ưng ý. Người Hà Nhì vùng Bát Xát có lệ giặt quần áo xong, để ngâm vào nước chàm, nên lúc nào cũng như mới.
Đối với màu đỏ, đồng bào thường dùng cánh kiến đỏ (Laciferlacca Kerr thuộc họ Sâu cánh kiến Lacciferidae). Màu vàng dùng cây bàng (Termilia catappa L. thuộc họ Bàng Combrataceae), cây nghệ (Curcuma longa L. hay C.domestica Val) thuộc họ Gừng (Zinzéberaceae). Có rất nhiều loại vỏ, rễ, lá cây rừng dùng để nhuộm được ghi ở các sách, tạp chí bằng thuật ngữ của tộc người địa phương có khi thiếu chính xác, vì thiếu thuật ngữ tiếng Việt kèm theo, nên không xác minh được. Màu nhuộm các cây tại chỗ rất bền.
Một số cư dân ở vùng đồng bằng, ở miền núi ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa thường dùng xống áo một hay hai màu, người Việt màu nâu, màu đen, người Tày, Nùng, màu chàm. Ngoài các đồ trang sức, họ chỉ biết dùng trên xống áo những màu khác nhau qua đường hò, qua khăn, yếm hoặc như người Mường qua hoa văn trên chiếc cạp váy. Một số tộc người khác như người Thái, Lào Lự, những cư dân Trường Sơn - Tây Nguyên, người Khmer... có chăng, thêm chiếc khăn, chiếc áo, chiếc thắt lưng, chiếc khố làm bộ xống áo đẹp lên. Khác hẳn với các tộc người nói trên, những phụ nữ trên rẻo cao ưa bộ xống áo sặc sỡ, nhuộm bằng các màu chói sáng đỏ, vàng, xanh với nhiều đồ trang sức, ngược lại nam giới lại ăn mặc giản dị. Nguyên nhân vì sao? Đó là điều khó giải thích.
Để tạo nên hoa văn và mầu sắc trên xống áo có nhiều cách, thường thấy ở các tộc người các cách như: 1. Dệt bằng khung cửi; 2. Thêu; 3. Lắp ghép những mảnh vải màu khác nhau hình vuông, chữ nhật, tam giác thành một dải tạo thành một đường viền trên xống áo, thường thấy ở các tộc người Dao, Nùng, Giáy, Sán Chay v.v... 4. Đặc biệt ở người Nùng, người Khmer phổ biến loại in sáp, loại batik nổi tiếng của người Inđônêxia. Thuật ngữ batik gốc Java, dân không biết, nhưng cách làm thì giống. Các điểm chấm đều đặn hình tròn (Nùng) hay các hoa văn (H’mông), các hình vẽ phủ lên mảnh vải, được bảo vệ bằng một lớp sáp ong. Mảnh vải được nhúng vào nước nhuộm, nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần. Lớp sáp ong mất đi hòa vào nước sau lần nhúng cuối cùng vào nước sôi và được gạn giữ lại cho lần nhuộm sau. Kỹ thuật batik của người Khmer nổi trội hơn người H’mông, người Nùng. Nhưng một câu hỏi được đặt ra, tại sao người H’mông, người Nùng lại "bắt chước" được cách in sáp này của người Inđônêxia, tin chắc rằng trước đây chưa bao giờ được gặp, có lẽ là sáng kiến của cả hai nhóm tộc người chăng.
IV. CHÂN, TAY
Một đặc điểm nổi trội là tập quán đi chân đất phổ biến của các tộc người ở Việt Nam. Ở nông thôn, nhất là miền núi, họ thường đi theo hàng một, người trước kẻ sau. Ở đồng bằng, đường rộng còn thấy đi sóng đôi, sóng ba. Người ngoại quốc lấy làm lạ khái niệm găng đeo tay hay bít tất tay cũng như bít tất chân là thứ bảo vệ cho bàn chân và bàn tay lại quá xa lạ với người Việt Nam bình dân thuở xưa. Nếu loại trừ bộ phận ống tay của chiếc áo, ống quần của chiếc quần, ta chỉ còn thấy có bộ đồ vòng bằng đồng đeo ở cánh tay phải người dũng sĩ (tnú) Tây Nguyên khi xung trận và chiếc sà cạp quấn vào chân, cũng chỉ thấy ở một số tộc người ảnh hưởng văn hóa phương Bắc. Riêng nhóm Ba Noong, thuộc tộc người Giẻ Triêng, là người duy nhất gọi người Khmer không là Kur mà là Khume lại có tập tục cuốn sà cạp để che hai ống chân khi lao động. Rõ ràng nhóm này không có ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc.
Nếu theo sự phân loại của A. Leroi Gourhan, ngoại trừ các loại hài, hia, giày của các bậc vương giả, ở tầng lớp bình dân phổ biến chỉ có guốc, dép. Đôi guốc dạng cổ nhất mang tính bản địa còn thấy các cụ già Việt Bắc trong thời kỳ chống Pháp là đôi guốc đẽo bằng gỗ với chiếc quai dọc bằng lạt hay bện thừng, trẽ một ngón chân cái, cài vào cạnh thân phần gót, giống như chiếc dép bình dân làm bằng lốp xe đạp của các cu-li kéo xe ở thành phố ngày trước. Có một dạng dép tương tự với chiếc quai ngang. Guốc thường là gỗ mộc hay được phủ một lớp sơn ta, dép cũng có loại bằng vải, lạ nhất là ít khi hoặc không bịt gót. Chiếc dép cao su, một sản phẩm độc đáo thời kháng chiến được từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dân thường đều dùng. Đó là chiếc dép hai quai chéo, thêm một chiếc quai đỡ gót đằng sau.
Ở miền núi giáp biên giới Việt - Trung, phổ biến loại hài sảo bện bằng gai và đôi giày vải Tàu được mọi người ưa thích. Loại dép Gia Định ra đời chắc muộn hơn, chỉ sớm hơn các loại săng đan và giày tây. Không thấy có loại bốt ngắn hay cao cổ. Cần lưu ý chiếc cà-kheo dùng để di chuyển từ nhà sàn này sang nhà sàn khác khi đường lầy lội ở miền núi hay dùng đi lại trên biển để súc tôm, cá cũng được xem là một phương tiện đi lại.
V. TRANG SỨC
Gồm các đồ trang sức, kể thêm tục nhuộm răng, xăm mình.
1. Đồ trang sức
Tộc người nào cũng ưa dùng đồ trang sức không ít thì nhiều. Nếu nhìn một cách đại quát, có thể thấy nữ giới dùng nhiều hơn nam giới, các tộc người miền núi phía Bắc, nhất là các tộc người H’mông - Dao, Tạng - Miến, Nùng dùng nhiều hơn các tộc người dọc Trường Sơn - Tây Nguyên. Các tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer, kể cả Tày, Thái đồ trang sức càng đơn giản hơn. Đồ trang phục ngày lễ hội lộng lẫy hơn ngày thường. Thường nhìn vào số lượng và giá trị đồ trang sức đeo trên người, ta có thể đánh giá được người đó thuộc tầng lớp xã hội nào và hiểu được sự giàu có của gia đình họ. Đối với các tộc người đã phát triển, giá trị đồ trang sức được tính theo giá trị nguyên liệu như ngọc, đá quý, vàng, ngà, v.v... hay theo kỹ thuật chế tác. Nhưng đối với số đông tộc người, thì được tính theo số lượng được đeo trên người. Ở các phiên chợ miền núi miền Bắc hay các dịp hội hè đình đám, nhiều phụ nữ đeo nhiều đồ trang sức quá nặng. Một phụ nữ Nùng, Pa Dí, H’mông, Dao... đeo nhiều vòng cổ, vòng tay, đính trên áo nhiều đồ bằng bạc... M. Abadie đã thấy một cô dâu Nùng đeo đến 3,780 kg đồ trang sức([3]). Bản thân tác giả đã cầm một bộ đồ trang sức của một phụ nữ Pa Dí đeo trên người nặng đến hơn 2 kg ở phiên chợ Mường Khương, Lào Cai, năm 1960.
Đồ trang sức từng vùng thường giống nhau, chỉ khác ở cách sắp đặt, bố trí. Đó là điều dễ hiểu vì các tộc người ít tự làm được, tuy có thể sửa cho vừa ý, còn phải mua của một số tộc người nhất định như H’mông, Nùng, Việt, Hoa, Chăm, Khmer. Đồ trang sức ưa thích gồm trâm cài đầu, hoa tai, vòng cổ, vòng tay (có khi cả chân), nhẫn, xà tích... và những thứ đính trên nẹp áo trước ngực. Hình thức thật phong phú, hoa văn nhiều loại, thường làm bằng đồng, bạc, sừng thú, ngà voi, móng hổ, hạt cườm, vỏ ốc. Điều hơi lạ là trước đây, ở các tộc người miền núi rất ít thấy các đồ trang sức bằng vàng. Có một số đồ trang sức đặc thù cho từng tộc người, tất nhiên sau các tộc người khác cũng bắt chước dùng, như hàng cúc bạc hình bướm của người Thái, chiếc hoa tai xoắn ốc và vạt hò áo trước ngực của người Pa Dí, những chiếc trâm cài khác nhau của các tộc người, vòng cổ, vòng chân, vòng tay của người Khmer, bộ vòng hạt cườm, miếng ngà voi căng tai của cư dân Trường Sơn - Tây Nguyên, vòng vỏ ốc Cauris Moneta thắt ngang lưng hay đính theo dọc nẹp áo của người Khơ Mú, bộ trang sức che đầy hai vạt áo trước ngực của người Tạng - Miến, bộ đồ chiến trận của các dũng sĩ Trường Sơn - Tây Nguyên v.v...
Bộ đồ trang sức của nữ giới thường là của hồi môn đem về nhà chồng, là vật làm tôn vẻ đẹp của chủ nhân bằng cách phối hợp hài hòa với màu sắc, hoa văn của xống áo. Những dụng cụ thường đeo theo mình hằng ngày cũng giúp thêm, nếu không nói tự bản thân cũng là một thứ trang sức như chiếc túi thêu cầu kỳ, chiếc giỏ đan thêu hay giỏ đựng rau xinh xắn, chiếc gùi sau lưng, con dao với chiếc vỏ trạm trổ tinh vi... Đó cũng thường là quà tặng của trai gái khi đính hôn.
2. Tục nhuộm răng
Là tục lệ phổ biến ở vùng Đông Nam Á trên một vùng rộng từ Nam Trung Quốc, Nhật Bản qua Đông Nam Á, Nam Ấn Độ, khác hẳn phương Bắc. Các tộc người gần đây còn gắn liền việc nhuộm răng với việc công nhận là người lớn có thể dựng vợ, gả chồng. Người Khơ Mú khi trai gái tỏ tình thường nhuộm răng cho nhau. Có nhiều cách nhuộm răng tùy theo từng tộc người. Thông thường là dùng một dung dịch gần rượu gạo pha lẫn cánh kiến và nước chanh hãm khoảng năm bảy ngày cho răng có một màu đỏ sẫm. Sau đó người ta bôi một hợp chất ferro-tanic (tanin + sufat sắt không tinh khiết) ướp hương thơm bằng quế, đinh hương và hồi để cho răng đen bóng([4]). Ngoài cánh kiến, ở miền núi còn dùng bồ hóng và nhựa nhiều thứ cây rừng không xác định được.
Liên quan đến tục nhuộm răng, cư dân Trường Sơn - Tây Nguyên gần đây còn phổ biến tục cà răng, được tiến hành cùng với lễ thành đinh. Răng được cà bằng đá mài, một số nơi bằng dao nhíp, có tộc người cà một hàm, có tộc người cả hai hàm răng cửa. Tương truyền, họ muốn mình giống như trâu. Tục lệ này sau năm 1945 mới được bãi bỏ. Đi đôi với tục cà răng, phụ nữ Trường Sơn - Tây Nguyên còn có lệ căng tai, dái tai càng trễ xuống, nếu đến tận vai thì càng đẹp. Lúc đầu, người ta xỏ lỗ tai, sau cứ nống dần nhiều năm bằng những khuyên tai bằng lồ ô, bàng gỗ, bằng sừng hay ngà voi. Tục cà răng, căng tai là tục lệ cổ nhất còn tồn tại trong vùng.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|