3. Tục xăm mình
Là một tục lệ vừa mang tính tôn giáo vừa mang tính trang sức. Người Việt thời Hùng Vương có tục xăm mình nhằm tránh bị cá sấu ăn thịt. Tục lệ đó đến đời Trần còn thịnh hành, trong nhân dân ưa thích vẽ hình rồng ở bong, lưng và hai đùi, gọi là vẽ rồng. Đến đời vua Trần Anh Tông mới bỏ([1]), không phổ biến cho đến gần đây, mặc dù cũng thấy còn ở một số người, nhưng không còn mang tính cộng đồng, tính phổ quát. Với những người xăm mình, vì lẽ theo đạo Nho, đó là điều phạm tội bất kính vì thân thể người ta không thuộc về người đó, mà thuộc về cha mẹ. Thế nhưng tục lệ đó thấy ở người Lự, người Lào, thường xăm thân thể, chân tay, không thấy xăm mặt, nên ta có thể có căn cứ phản bác ý kiến gán cho cư dân Tú diện tức xăm mặt ở miền Nam Vân Nam là người thuộc ngôn ngữ Tày-Thái như các sách của các tác giả Trung Quốc thường viết([2]). Tục xăm mặt lại tồn tại cho đến ngày nay ở tộc người Mãng. Người Mãng xăm xung quanh miệng, gọi là o ăm. Họ xăm hình con rắn hàm ý xưa coi rắn là người thân thích, tuy chưa tìm ra vết tích tô tem giáo. Ai không xăm, trước khi tắt thở người nhà phải đốt quả bầu lấy than bôi vào mồm, nếu không hồn người chết không được lên môn phỉnh với tổ tiên, mà phải đeo cối đá cột bằng dây xác con rắn đi lên, nhưng cũng lại bị đẩy xuống trần đợi hồn người mới chết sau, theo họ lên môn phỉnh([3]). Người Giẻ Triêng cũng có tục lệ xăm mồm. Còn người Thái chỉ có tục xăm hình chạc cây ở cổ tay để khỏi khi đã mất, có chạc đỡ kho thóc của Trời, không tự mình phải lấy vai đỡ. Kỹ thuật xăm đơn giản. Người ta lấy kim trích theo hình đã vẽ, thoa nước chàm đặc nhiều lần. Tục lấy than vẽ lên mặt thành hình chồn của người Khơ Mú khi đưa tang người thân không phải là xăm mặt, mà chỉ nhằm làm cho giống con vật mà dòng họ nhận làm tô tem.
VI. KẾT LUẬN
Cũng như nhà cửa, xống áo các tộc người Việt Nam phản ánh tính cách của một khu vực lịch sử - văn hóa, nơi vắng bóng chăn nuôi gia súc theo đàn, thiếu đồ bằng da, chỉ dùng nguyên liệu ban đầu bằng vỏ cây, sau bằng sợi gai, đay, bông dệt thành vải, nên trong kỹ thuật may cắt, cho dù có miếng cổ áo, đệm vai, thì vẫn không có đường nối vai. Ở những vùng ít chịu ảnh hưởng văn hóa Trung - Ấn, như vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, ta thấy phổ biến nam giới có bộ khăn chít đầu, tấm áo khoác (tấm dồ) và tấm khố, chiếc áo ngắn che thân hoặc chui đầu (poncho) hay xẻ ngực. Ở phụ nữ, tấm khố còn sót lại ở nhiều nơi được thay bằng chiếc váy tấm (hay váy cuốn). Không có chiếc áo xẻ sườn và chiếc quần. Vùng Tây Bắc nổi tiếng với chiếc khăn piêu, chiếc áo ngắn xẻ ngực nẹp nạm cúc bạc và chiếc áo choàng cổ kính. Vùng Đông Bắc nổi tiếng chiếc áo ngắn xẻ ngực với đường viền hò bên phải đơn giản mà duyên dáng. Vùng rẻo cao được chú ý với chiếc khăn đội đầu, chiếc áo với những hoa văn chói sáng, đồ trang sức cầu kỳ duyên dáng nhưng nặng nề. Cư dân Việt ở miền Bắc nổi tiếng với chiếc khăn mỏ quạ, chiếc áo tứ thân xẻ ngực để lộ chiếc yếm hấp dẫn, ở miền Nam với chiếc khăn rằn, chiếc áo bà ba, chiếc quần lá tọa. Chiếc săm pốt nửa váy - nửa quần của người Khmer cho thấy sự kế thừa của chiếc khố, chuyển dần sang chiếc quần không đũng, cũng như vang bóng của việc mặc xà rông còn thấy ở nam giới người Chăm.
Mỗi tộc người ưa dùng màu sắc, hoa văn thích hợp, tạo nên một vẻ đẹp thân thương góp phần làm cho xống áo Việt Nam đa sắc. Xống áo của mỗi tộc người tự nó thay đổi, tính tiếp biến văn hóa của các tộc người ở nước ta rất mạnh mẽ. Với việc lựa chọn một cách thông minh những yếu tố du nhập, trên cơ sở của truyền thống, các tộc người có khả năng thay đổi xống áo của bản thân. Bộ nữ phục với chiếc nón bài thơ kiểu nón chóp, chiếc áo dài xẻ sườn, chiếc quần trắng của người Việt là một ví dụ. Yếu tố gì lỗi thời tự đời sống sẽ loại bỏ, yếu tố gì hợp với tâm thức tộc người cho dù là ngoại lai, đều được tiếp nhận. Tuy nhiên, cần giữ gìn tất cả những sáng tạo xống áo, đồ trang sức của cha ông, chí ít trong các bảo tàng, ghi lại trên sách, tạp chí.
Thường ngày, trong lao động, con người có thể ăn, ở, mặc tùy ý sao cho thích hợp với hoàn cảnh công việc. Nhưng một tộc người, một quốc gia dân tộc chắc chắn muốn có một kiểu nhà riêng, một bộ xống áo riêng, một bữa ăn đậm đà mầu sắc dân tộc. Đó là điều cần chú ý hiện nay trong thời kỳ toàn cầu hóa để giải quyết một mâu thuẫn thống nhất giữa cái dân tộc và cái phổ quát, cái truyền thống và cái cách tân.
Chương Ba: ĂN UỐNG
I. KHÁI QUÁT
1. Với các sinh vật nói chung và với con người nói riêng, có thể khẳng định, ăn uống là một nhu cầu quan trọng bậc nhất và không thể thiếu được. Ph. Ăngghen đã khẳng định một sự thật đơn giản là "Con người trước hết cần phải ăn, uống, ở, mặc đã, rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật tôn giáo và v.v... được"([4]). Nhu cầu đó bức thiết đối với từng cá nhân cũng như cộng đồng, không phân biệt. A. Richards đã khẳng định nhu cầu ăn uống hay nhu cầu dinh dưỡng giống với nhu cầu tình dục là một nhu cầu mang tính sinh học, nhưng lại khác ở chỗ con người có thể sống không được thỏa mãn nhu cầu tình dục, nhưng không thể sống mà nhịn ăn, nhịn uống. Ông viết: "Về phương diện sinh học, nhu cầu dinh dưỡng đóng vai trò cơ bản hơn nhu cầu tình dục"(2).
Con người xuất hiện cách đây 3-4 triệu năm, có thể lâu hơn nữa, đã phải ăn uống, cách ăn uống vẫn không khác gì các động vật khác, chỉ biết ăn sống nuốt tươi. Cho đến khi con người biết sáng tạo ra lửa, giữ được lửa và sử dụng được lửa một cách chủ động, mới là lúc con người bắt đầu thực sự tách khỏi con vật. Đó cũng là lúc đánh dấu một bước ngoặt lớn, một cuộc cách mạng trong ăn uống, mở đầu cho nấu nướng thức ăn (cuisine) chấm dứt thời kỳ ăn sống nuốt tươi. Tuy nhiên, những vết tích của việc chế biến thức ăn không qua lửa vẫn tồn tại đến ngày nay với những cải tiến đáng kể. Ở Việt Nam, thói quen ăn rau sống, ăn "gỏi", thậm chí cá sống, thịt sống, muối dưa, ủ "rượu" (rượu cần, rượu nếp, thực ra là một loại bia), ăn mắm... tức là cách để lên men thức ăn, vừa dễ tiêu, tăng lượng protid, vừa ngon miệng, vẫn phổ biến và được ưa chuộng.
Cách lấy lửa và giữ lửa nguyên sơ, được một số tộc người, nhóm địa phương ở miền núi giữ lại được, còn hiện diện trong những thập niên gần đây, đã thể hiện nhiều cách lấy lửa theo kiểu va chạm khác nhau. Có kiểu va chạm nghiêng-vung (tay) (percussion oblique-lancée) như đánh một loại kim khí vào một hòn đá; kiểu va chạm nghiêng tì (p.oblique posée); kiểu va chạm vòng xoay (p.circulaire)([6]). Như ở người Rục có các cách lấy lửa sau: 1/ Người lấy lửa một tay cầm cục đá (óc la tá trách) kẹp một nhúm bùi nhùi (dêm), một tay cầm miếng sắt dài bằng ngón tay (cơ lắt) đánh mạnh vào cục đá làm tóe lửa bén vào bùi nhùi (va chạm nghiêng - vung). Cách đánh lửa này còn thấy cả ở người H’mông-Dao, Tạng - Miến. 2/ Dùng sợi mây song (chạc chooing) kéo qua kéo lại quanh ống giang (kơl đang) cho nóng lên, đặt bùi nhùi làm bằng sợi vỏ cây xế (puinh) xé nhỏ, mịn, trộn với tro lá cây có dầu (tacul) thành một hợp chất (paluc) dễ bắt lửa, tiếp tục kéo qua, kéo lại, lửa bén (va chạm vòng xoay)([7]). Hai cách trên còn phổ biến ở các tộc người vùng cao dọc Tây Bắc và Trường Sơn - Tây Nguyên. 3/ Bổ đôi một ống nứa hay giang, trong để mồi dễ bắt lửa, lấy thanh giang cọ sát theo ngang ống nứa, lửa bắt (va chạm nghiêng tì). Cách thứ ba thấy ở tộc người Xơ Đăng và nhiều tộc người khác. Người Việt trong các hội thi nấu cơm cũng hay buộc các thí sinh lấy lửa bằng cách này. Baflour còn thấy có loại lấy lửa thứ tư, lấy bằng cách nén khí (briquet pneumatique). Có một ống, trong có một pit-tông, dồn khí rồi kéo bật ra tóe lửa vào cái bùi nhùi. Cách này thấy ở Trung Trung Bộ([8]).
Cách giữ lửa phổ biến dùng bùi nhùi bằng rơm hay ủ trấu. Người Việt trước cũng dùng. Ở miền núi, có tập quán để lửa cháy suốt ngày đêm, vì nếu sợ để tắt lửa là điềm không lành. Nếu chủ nhà để tắt lửa là có lỗi với bên ngoại, phải làm lại từ đầu thủ tục xin lại lửa với nhiều nghi lễ (Thái).
Với sự xuất hiện lửa, đồ ăn, thức uống được nấu chín cho phép con người mở rộng lượng thức ăn với tác động ngày càng nhiều lên các sản phẩm săn bẫy, hái bắt, đánh bắt, trồng trọt, chăn nuôi theo ý thích. Tùy theo khẩu vị của từng cộng đồng, từng cá nhân, họ mở rộng lượng sản phẩm mà trước đây nếu không có lửa thì không thể ăn được vì tanh hôi (các loài thủy sản, côn trùng, ấu trùng, một số lá cây...). Nhờ lửa, họ có thể bảo quản thức ăn: sấy khô, làm chúng lên men (fermentation)... Qua đó, họ tạo nên những món ăn chế biến theo nhiều cách khác nhau, tạo nên những món ăn tổng hợp: canh, xào nấu, nộm... Việc bảo quản, làm lên men theo E. Neirink và J.P. Poulain được coi như một cuộc cách mạng trong tập quán ăn uống([9]). Con người hạn chế việc để hư mốc, ôi thiu thức ăn. Từ nhiều cách chế biến thức ăn, đồ uống, con người có nhu cầu sáng tạo ra những dụng cụ nấu nướng, cách bày đặt thức ăn, định ra giờ giấc và cách ứng xử trong ăn uống thích hợp với từng xã hội. Nghệ thuật ẩm thực ra đời và phát triển. Ăn uống trở thành một thứ văn hóa không chỉ mang tính sinh học đơn thuần, mà mang tính sinh học - xã hội (biosociologique).
Với người Việt Nam, có lẽ đồ dùng để nấu nướng đầu tiên chưa phải là da thú như ở các vùng ôn, hàn đới, mà là các bộ phận tự nhiên của thực vật: lá, mo nang, vỏ cây([10]) (vỏ quả như quả bầu), các ống bương, tre, nứa. Việc xuất hiện đồ gốm đã đẩy lùi các thứ đồ dùng trên. Gần đây với các loại đồ nhôm, đồ gang, đồ điện..., lại càng làm cho bộ công cụ nấu bếp thêm phong phú và tiện lợi. Tuy nhiên, một số đồ dùng thường gọi là "nguyên thủy" không hề biến mất, thậm chí còn thu hút các khách du lịch: cơm lam, thịt nướng trên lửa. Những món ăn này có khi được dùng để chế biến các đồ cúng dâng cho tổ tiên với quan niệm "các cụ" chưa quen với thức ăn được chế biến bằng đồ dùng sau này.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
([6]) A. Leroi Gourhan: L’home et la matière, Albin Michel, Paris, 1972, tr.60 – 70.
|