NOBEL Văn học 1939: FRANS EEMIL SILLANPAA (1888-1964)
Frans Eemil Sillanpaa là nhà văn Phần Lan. Ông sinh trong một gia đình nông dân nghèo xứ đạo Hãmeenkyrõ. Ba năm cuối ở trung học Sillanpaa phải tự kiếm tiền để học tiếp. Năm 1908 ông học sinh vật học ở Đại học Tổng hợp Helsinki. Ông chỉ học một thời gian ngắn, rồi về nhà mở cửa hàng văn phòng phẩm để kiếm sống. Tiểu thuyết đầu tay của ông Cuộc sống và mặt trời (Elama ja aurinko) xuất bản năm 1916. Trong những tác phẩm của mình, Sillanpaa luôn khẳng định sức mạnh của bản năng với tư tưởng thần bí , bi quan. Tiểu thuyết Cái nghèo thanh cao (Hurskas Kurjuus,1919 ) tả đời sống một người tá điền bị bắn trong nội chiến. Tiểu thuyết mang lại sự nổi tiếng cho Sillanpaa, ông được xếp vào những nhà văn danh tiếng, được một nhà xuất bản mời chuyên viết sách cho họ. Từ năm 1920, ông được chinh phủ Hà Lan trợ cấp trọn đời. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông Thiếu nữ chết trẻ (Nuorena nukkunut , 1931) kể về một thiếu nữ nghèo nhưng sống trong sạch , mặc dù gặp phải những cảnh éo le nhục nhã . Những tác phẩm khác của Sillanpaa là Tổ quốc yêu dấu (Rakas isanmaani, 1919); tiểu thuyết Hiltu và Ragmar (1923); tiểu thuyết Về chính tôi và cho chính tôi (Omistani ja omilleni, 1924); tiểu thuyết Ngọn đồi ổ chuột (Tollinmaki, 1925), tiểu thuyết Xưng tội (Rippi, 1928); tiểu thuyết Hạnh phúc và đau khổ của đời người (The loveliness and wretchedness of human life,1945) v.v. Ba tập hồi ký của Pillanpaa là Cậu bé đã sống cuộc đời mình (The boy lived his life,1953); Tôi kể chuyện và tôi mô tả (Kerron ja kuvailen, 1954); Ngày cực điểm (Day at its highest,1956).
Sillanpaa là nhà văn tiêu biểu nhất của văn học Phần Lan trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX. Tiểu thuyết và truyện ngắn của ông miêu tả cảnh sống nghèo khó ở nông thôn quê hương ông- vùng Tavasland. Ông được người dân Phần Lan quý trọng . Họ gọi ông với cái tên trìu mến Ông cụ.
Franz Sillanpaa chịu ảnh hưởng của Maeterlinck, Hamsun, Bergson. Trong tác phẩm của ông ta nhận ra tính nhân bản của nhân vật Ông nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1939 vì những tiểu thuyết viết về phong tục tập quán cùng cuộc sống gần gũi thiên nhiên của người nông dân Phần Lan với bút pháp trữ tình, tinh tế, phân tích tâm lý sâu sắc.
NOBEL Văn học 1944: JOHANNES JENSEN (1873-1950)
Nhà văn, nhà thơ Đan Mạch hiện đại Johannes Jensen sinhtrong một gia đình ở Farso miền Juetland. Cha ông là bác sĩ thú y. Ông học y, nhưng bỏ dở. Ông đi du lịch nhiều nước (hai lần đi vòng quanh thế giới). Sau một loạt tiểu thuyết, trong đó nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Người Đan Mạch (Dankskere, 1896) và Vương triều sụp đổ (Kongens fald, 1900), Jensen viết bộ tiểu thuyết lịch sử 6 tập Chuyến du lịch dài ngày ( Den lange reijse, 1908-1821). Tiểu thuyết nói về sự tiến triển của nhân loại theo thuyết tiến hóa của Darwin, từ thời tiền sử tới khi phát hiện ra châu Mỹ. Bộ tiểu thuyết 3 tập Những người vùng Himmerland (Himmerlandsfolk, 1898-1910) kể về cuộc sống của những người nông dân Đan Mạch.
Ngoài việc viết tiểu thuyết, Johannes Jensen còn làm thơ: Thơ (Digt, 1904-1943); Bốn mùa (Aarsti derne, 1923); viết tiểu luận: Phục hưng Gotic (Den Gotiske renaissance, 1901); Swift và Oehlenschlãger (1950). Số lượng tác phẩm của ông lên đến con số 60. Văn thơ ông súc tích, chuẩn mực, giài hình tượng. Người Đan Mạch vẫn so sánh ôngvới K. Hamsun, S. Undest, T. Mann. Các tác phẩm của ông phản ánh bản chất con người: tình thương đồng loại sâu sắc. Với văn phong độc đáo, đầy trí tuệ, sức tưởng tượng phong phú, Johannes Jensen được coi là một trong ngững nhà văn nổi tiếng của Bắc Âu. Ông được giải thưởng Nobel văn học năm 1944 vì ông biết kết hợp cái hiện đại với cái vĩnh cửu trong những sáng tác của mình.
Kế thừa và phát huy khả năng của mình
Trong diễn từ khi nhận giải Nobel văn học, Johannes Jensen nhắc tới sự kế thừa, bổ sung cho nhau giữa các dân tộc Thụy Điển và Anh:
- Cách phân loài của Linné là nền tảng được Darwin dần kế thừa và phát triển thành những kết luận về nguồn gốc các loài. Khả năng cảm thụ hiện thực mang tính Anglo-Thụy Điển này phát sinh từ nền móng Bắc Âu chung của chúng ta, đã giúp giải thích nguồn gốc của loài người trong tự nhiên. Nếu ai đó xác định cấp độ trưởng thành của một quốc gia dựa trên năng lực lý giải và lĩnh hội của nó, thì nước Anh là nước đứng đầu về khả năng hiểu biết thế giới hiện thực, và con người đã trình bày những ý tưởng đậm nét Anh này một cách giản dị và bình thản chính là Darwin.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|