NOBEL Văn học 1951: PAER FABIAN LAGERKVIST (1891-1974)
Paer Fabian Lagerkvist là nhà văn ,nhà thơ và nhà viết kịch Thụy Điển .Ông là con một nhân viên đường sắt. Ông học ngữ văn và lịch sử nghệ thuật ở Uppsala và Paris. Mới đầu ông viết báo thuộc khuynh hướng cải lương của phong trào công nhân. Những sáng tác của ông luôn miêu tả hiện thực gắn liền với biểu tượng. Tập truyện ngắn Sắt và người (Jaern och maenniskor,1915 ) kể về sự tàn bạo của chiến tranh thế giới I. Tập thơ Lo âu (Angest,1916) phản ánh tâm trạng lo âu, hoang mang,cô đơn và bất lực của con người trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa ở đầu thế kỷ XX . Ta thấy ông chuyển sang chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần quan điểm tôn giáo luôn luôn tìm câu trả lời tích cực cho những câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời trong cuốn tiểu thuyết tự truyện Vị khách của thực tại (Gaest hos verkligheten,1925) .Các tác phẩm khác của Lagerkvist là tập tiểu luận Sân khấu (Teater,1918) ,tập thơ Hỗn loạn (Kaos,1919) ,truyện dài Nụ cười vĩnh cửu (Det eviga bendet,1920),tập thơ Con đường của người hạnh phúc (1921) và kịch Người vô hình (Den osynlige,1923), kịch Tên đao phủ (Boedeln,1933),tiểu thuyết Thằng lùn (Dvaergen,1944). Tiểu thuyết Barabbas (1950) đề cập đến những vấn đề lịch sử tôn giáo trong kinh Phúc Am.Tiểu thuyết này được dịch sang 9 thứ tiếng, được dựng thành phim. Nó mang lại cho Lagerkvist sự nổi tiếng và vinh quang. Ông được trao giải thưởng Nobel văn học năm 1951,vì tiểu thuyết Barabbas nói về nỗ lực của con người trong việc tìm kiếm niềm tin
NOBEL Văn học 1952: FRANCOIS MAURIAC (1885-1970)
Francois Mauriac sinh trong một gia đình buôn rượu vang giầu có theo Công giáo. Ông là nhà văn, nhà thơ Pháp, Viện sĩ Hàn Lâm Pháp (1933). Bố mất khi cậu bé Francois chưa đầy hai tuổi, cậu lớn lên ở trang trại của ông bà ngoại. Phong cảnh miền quê đã để lại ấn tượng mạnh nơi nhà thơ Mauriac. Ông học văn học ở Đại học Bordeau, ở Paris, học xong ông làm báo. Mauriac chịu ảnh hưởng Rimbaud, Gide, Barrès. Tập thơ đầu tay Những bàn tay gắn kết ( Les mains Joibntes ) in năm 1909. Ông nổi tiếng với tiểu thuyết Nụ hôn cho người hủi ( Le baiser au Lépreux, 1922) . Tiểu thuyết Sa mạc tình yêu (Le désert de l’amour,1925) mang lại cho Mauriac giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp. Tiểu thuyết Thèrèse Desqueyroux được giới phê bình coi là tiểu thuyết Pháp hay nhất đầu thế kỷ XX . Trong đại chiến thế giới II, Mauriac tham gia kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng Pháp và ủng hộ De Gaulle. Sau 1945, ông là đại diện Pháp ở tổ chức UNESCO (văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên hợp quốc ) . Tiểu thuyết của Mauriac miêu tả một cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ac, giữa xác thịt và tinh hồn ,thương thì Ac thắng Đạo đức,tội lỗi làm chủ các tâm hồn yếu đuối hay xấu xa, tình yêu không trong sạch, không được thỏa mãn, gia đình bịchìm đắm trong giông tố, chỉ nhờ An Chúa các tâm hồn mới tự cứu vớt được bằng ăn năn tội lỗi ; Các tác phẩm tiêu biểu khác của Mauriac là tiểu thuyết Ổ rắn độc (Le noeud de vipères,1932) (Asmodée,1938) ; tiểu luận Đời chúa Giê-su (La vie de Jésus,1936) ;kịch Asmodée (1938) ; hồi ký Nhật ký (Journal,1934-1950) ; luận văn Hồi ký nội tâm (Mé moires intérieurs,1959) ,hồi ký Điều tôi tin ( Ce que je crois,1962) .Francois Mauriac nhận giải Nobel văn học năm 1952 vì chủ đề chính trong sáng tác của ông là cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ac, giữa Xác thị và Linh hồn, nó phản ánh cái bi-hài của con người với một nghệ thuật đầy thuyết phục .
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|