tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
16.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (29)

Đến thời Pháp thuộc, được sự dung túng của thực dân, chúa đất thường chuyển ruộng công thành ruộng tư bằng cách giấu bớt ruộng công (nhất là sau năm 1935, Pháp lập sở địa bạ, đo đạc ruộng đất miền núi) chiếm số ruộng toàn mường (nà háng mương) và ruộng chung được chia thành ruộng tư. Chúng còn dựa vào lệ tục cướp ruộng của gia đình tuyệt tự (thu lụt - luych), của người dân rời khỏi công xã hoặc có tội... khôn khéo chiếm hữu các ruộng dân khai phá thêm, tăng thêm phần đóng góp của dân páy (con mọl) (Mường) cộng thêm phải đóng thuế đinh, làm nhiều người phải bỏ ruộng làm rẫy hay tự nguyện xin làm lệ nông (nhốc) cho nhà chúa. Số ruộng gọi là tư này ở Đông Bắc lên đến 50% kể cả của chúa lẫn của dân; ở Mường Lay, Quỳnh Nhai, Mường La chỉ mới có 2% là ruộng tư, nên nảy sinh ra các phương thức sản xuất dựa trên mối quan hệ sở hữu tư nhân: nông dân, nông nô, thậm chí cả hình thức cấy rẽ... với những biến dạng của nó.


Trong một mường ở thời kỳ chế độ phìa tạo, lang đạo... thời thịnh vượng nhất, điển hình nhất, có ba loại ruộng.


- Loại ruộng thứ nhất là loại trực tiếp thuộc chúa đất và gia đình nhà chúa bao gồm lúc ban đầu là ruộng của toàn mường (nà nả hay háng mương tức ruộng toàn mường phải làm) và ruộng tạo được hưởng (nà bớt tạo), sau vì tạo là mường, mường là tạo, nên nhập làm một thành nà háng mương: ruộng toàn mường (Thái), na lang (Mường), nà quằng hay ruộng thổ ty. Số lượng này nhiều ít tùy từng địa phương tương ứng với khoảng từ 1/4 đến 2/5 tổng diện tích đất canh tác, lại thuộc loại thượng đẳng.


Theo tục lệ còn rớt lại, như ý kiến của Cầm Trọng, Trần Từ, Nguyễn Tuấn Liêu, đều thống nhất ban đầu là những thửa ruộng nằm ở nơi trung tâm của một mường, dành cho việc phục vụ các công việc liên quan đến mường: binh dịch, nghi lễ, đối ngoại, sửa sang xây dựng, các việc công ích... trao cho chúa đất phụ trách. Lúa thóc thu họach được đổ vào kho chung người Thái gọi là día khẩu háng mương do một ông quan nà phụ trách hay đụn, một loại kho lúa nhà lang (Mường). Thửa ruộng đó là ruộng gốc của mường về phương diện tôn giáo, coi là ruộng chủ hồn (nà chẩu xửa) được đánh dấu bằng một chiếc cột (lắc nà). Hàng năm, dân toàn mường đến cày, cấy, gặt... tập thể. Cách làm tập thể chủ yếu là nhằm biểu trưng tính thống nhất của cộng đồng, đề cao uy tín của chúa đất khẳng định chủ quyền của bản mường thông qua các thửa ruộng chủ hồn của toàn dân. Vì vậy trong hai dịp cày cấy và thu họach có kèm theo những nghi lễ, phải mổ trâu, do chúa đất chủ trì, thường được làm vào dịp "xuống đồng", mở đầu thời kỳ sản xuất trong năm và dịp mừng cơm mới. Cung cách làm tập thể, ào ạt, đông người tất nhiên năng suất không cao, nhưng là lệ khó bỏ, lại là vinh dự của chúa đất lớn. ở người Mường, đó là hình thức làm xâu (la xâu). ở vùng Thái Đen, vì đi lại khó khăn, các mường nhỏ, ở xa được thay việc tới cày cấy ruộng hàng mường, bằng việc nộp một lượng thóc quy định, gọi là thóc lười (khẩu chạn), tức dân lười không đến làm, phải nộp thóc thay thế.


Cung cách làm ăn tập thể ít hiệu quả đó, sau dần thu hẹp


lại chỉ làm tượng trưng một, hai buổi, được thay thế bằng cách phân công cụ thể cho từng bản phải hoàn thành hoặc theo diện tích hoặc theo từng công đoạn việc. Ví dụ: phân công cho từng bản làm mương phai, cọn nước, cày bừa, cấy, trông nom lúa suốt quá trình đến khi gặt hái, thu họach: gặt và đưa lúa vào kho, trông kho... Công việc đó được người Mường gọi là làm nõ (la no) theo định suất.


Việc được tham gia canh tác trên mảnh ruộng đó là một trách nhiệm và cũng là một quyền lợi của người dân được thấy mình là dân của bản mường, khác với dân cuông nhốc và côn hươn. Nếu một mường lớn mạnh kho thóc hàng mường phải đầy đặn và to lớn. Một khi nước ngấm làm cho rầm kho thóc đổ (nặm khẩu khang día hắc), thì báo hiệu tập đoàn thống trị bản mường


sụp đổ.


- Loại ruộng thứ hai là loại ruộng "nà bớt" (Thái), rút ra từ số ruộng của mường, của bản (nà côông hay nà dân) để chúa đất cấp cho bản thân và gia đình cũng như các chức dịch kèm theo hay không kèm theo một số dân cuông, nhốc, thín hay lục rườn coi như lương bổng, phần lương bổng chính đáng và cố định. Nên còn gọi là nà cuông (Thái Đen). Một khi còn chức, số lương bổng này còn, trừ trường hợp nhà tạo. Đây không gọi là ruộng gánh vác tuy rằng lương bổng dành cho chúa và quan chức cũng là do công sức gánh vác công việc bản mường, vì thuật ngữ ruộng gánh vác đã dành cho những dân đen pu háp me bé (Thái), các nhà noóc (Mường) được hưởng ruộng công đổi lấy việc bảo vệ (quân dịch) và phục dịch bộ máy thống trị dưới danh nghĩa việc công. Số ruộng này tính theo đầu người thì lớn, với bốn ông đứng đầu hội đồng kì mục hàng mường có khi còn lớn hơn cả phìa dòng tạo hàng xã. Tuy nhiên với các hàng chức dịch nhỏ, lại không được phân kèm cuông nhốc, phải tự lao động sản xuất, thì diện tích cũng chỉ gấp hai, ba đầu ruộng của dân thường. Số chức dịch ở vùng Đông Bắc không nhiều như ở Tây Bắc, vì ở đây có nhiều cấp hàng bản, hàng xã, hàng châu. Xin kèm theo ở Phụ lục I một bản quy định cụ thể quyền lợi kinh tế được hưởng của châu Mường Muổi, nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, trong thời kỳ thuộc Pháp ghi chép vào khoảng những năm cuối thập niên 20 thế kỷ XX để tham khảo. Loại ruộng này chức dịch ở bản nào "ăn" ruộng ở bản đó. Nên mới có thuật ngữ kin nà hay kin héng páy (ăn sức của dân).


- Loại ruộng thứ ba là ruộng chung của dân (nà háp bé) (Thái) hay nà dân, nà côông (Mường). Loại ruộng công ở các bản là do công khai phá ban đầu của toàn dân theo chúa, cộng với do công của từng hộ dân sau đó mở rộng thêm, khai hoang các vạt ruộng trong các khe ở chân đồi, núi, nên gọi là nà tí (ruộng vụn) được miễn gánh vác một số năm, sau sung làm của công. Ngoài một số dành cho các chức dịch, gia đình nhà chúa, ruộng được phân cho người dân gánh vác việc mường, việc bản, tự cày cấy để hưởng hoa lợi với điều kiện là phải làm binh dịch khi có chiến tranh, loạn lạc, phải đóng một thứ thuế bằng tô lao dịch hay tô hiện vật cụ thể là thực hiện làm xâu hay làm nõ, hoặc nộp sản vật dưới hình thức thóc lười (khẩu chan), phải hoàn thành các việc chung của bản mường: làm thủy lợi, đắp đường, phục dịch các ngày tế lễ hội hè toàn mường, bản, thay nhau đi phiên phục vụ nhà quan khi có việc: cưới xin, ma chay, tiếp khách ở trên xuống hay từ các mường bên đến. Thường chỉ có các người dân đồng tộc với chúa đất, những người dân đã cùng chúa xây dựng bản mường mới được hưởng quyền lợi này. ở Tây Bắc, thảng hoặc những cư dân Kháng, La Ha cũng được nhận là dân páy; ngược lại ở Thanh Hóa, Nghệ An, dân Thái ngụ cư cũng không được nhận. ở vùng Mường, một số dân thím, tứa roọng tức dân ăn nương, thậm chí dân trong quél, không có điều kiện nhận ruộng gánh vác, cũng không được nhận.


Người dân được nhận theo suất, ở vùng Thái gọi là háo nà, vùng Mường là một nõ. Tùy theo số ruộng công nhiều hay ít, mỗi suất ruộng cũng khác nhau. ở vùng Sơn La, mỗi háo nà là 80 đin ruộng tương đương với 8.000m2; ở Mường Thanh là một hécta, trong khi ở các nơi khác lại ít hơn. Phần việc gánh vác cũng vậy, phụ thuộc vào khối lượng công việc của mường, tất nhiên mường trung tâm nhiều hơn mường ngoài. Đến thời Pháp thuộc, do phải đóng thuế đinh (vì chỉ thống kê với nhà nước Pháp dân páy, còn dân cuông, côn hươn được coi là người của nhà chủ), lại thêm sự đòi hỏi của các chúa đất do tiếp cận với giới thường lưu, quan lại trong nước tốn kém nhiều và lại bổ vào đầu dân, nên nhiều gia đình dân páy chịu không nổi. Con đường tốt nhất là van xin chúa đất và các chức dịch chuyển xuống làm dân lệ thuộc (nhốc).


 ở Sơn La, người dân chiềng, thông thường là các gia đình nhà tạo hay các chức dịch được nhận ruộng, không phải gánh vác. Phải chăng họ thuộc những gia đình có chức có quyền, nương bóng được che chở mà xin cho được miễn. ở vùng Mường, những người nhà lang không quyền, không chức, không lao động được dân gọi là lang dai cũng thuộc loại này. ở vùng Thái đó là các con cái nhà tạo, rõ rệt nhất ở Thanh Hóa, Nghệ An, các con cái gia đình chức dịch cao cấp. Họ dựa vào số cuông nhốc hay gia nô làm thay, bản thân chơi dài ngày này qua ngày khác. Dân ở các mường trong, mường ngoài, mường trung tâm và các lộng, quén cũng có sự phân biệt trong phần việc phải đóng góp. Lấy Mường Muổi làm thí dụ. Qua Phụ lục I, theo Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu, ta thấy việc phân bổ phu, phiên, tiền, lương thực phải đóng góp giữa các đơn vị mường là không công bằng. Dân chiềng được miễn hoàn toàn. Mường Muổi (trừ Chiềng Đi) có 45.000 đin ruộng chịu 30 phần việc gánh vác (tỷ lệ 1 phần việc cho 1.500 đin ruộng), trong khi đó Mường Xại có 15.000 đin ruộng phải gánh vác 20 phần việc (tỷ lệ 1/750 đin), Mường Piềng có 6.000 đin ruộng phải gánh vác 17 phần (tỷ lệ 1/353 đin); Mường Lầm có 8.000 đin ruộng phải gánh 20 phần (tỷ lệ 1/400 đin) v.v... Giữa các xổng, lộng trong mường hay mường trung tâm có sự đối xử không công bằng. Với dân Chiềng Đi có 8.000 đin ruộng được miễn việc gánh vác. Bốn xổng tổng cộng có 37.000 đin đều phải đóng mỗi xổng 4-5 phần việc bằng nhau, tuy diện tích ruộng chênh lệch. Lộng Mường é, số ruộng dân có 3.000 đin phải đóng 4 phần, bốn lộng khác: Muồng Bám: 1.000 đin, Chiềng Sa: 1.000 đin, Mường Pịn: 1.200 đin, Bản Pán: 1.200 đin phải đóng 2 phần, tổng cộng có 30/100 phần của toàn châu.


"Theo điều tra ở một số xã điển hình của Khu tự trị Thái - Mèo cũ, Khu Lao Hà Yên, các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An có nêu một cách tổng hợp như sau: "Trước Cách mạng tháng Tám, số thổ ty, lang đạo, phía tạo, chủ đất có 2% số hộ, 3% số nhân khẩu nhưng chiếm trên dưới 20% ruộng đất... Tầng lớp chức dịch gồm 10-18% số hộ, 14-20% số nhân khẩu được sử dụng từ 20-30% ruộng đất... Nông dân lao động gồm 20% số hộ, 70 – 80% số nhân khẩu, trừ 9% số hộ và 6% số nhân khẩu gồm những người đi ở, làm nô lệ trong gia đình thổ ty, lang tạo... Hoàn toàn không có ruộng, thì còn chỉ được sử dụng dưới 50%, có nơi 30% ruộng đất, trong số đó số thiếu hay không có ruộng đất có đến 42% số hộ. Số thiếu đất chỉ có mỗi hộ một sào trở xuống.


Ruộng đất chiếm hữu bình quân của một nhân khẩu trong hộ thổ ty, lang đạo thường gấp 10 lần số ruộng đất bình quân của một nhân khẩu trong hộ nông dân đủ ruộng, 20 lần so với nông dân thiếu ruộng. Tỷ lệ đó là 3 -5 lần đối với hộ chức dịch và hộ nông dân".


Bản điều tra trên chưa phản ánh đúng thực tế vì chưa tính sản lượng cao thấp của một thửa ruộng, thường ruộng chúa-đất, chức dịch cho sản lượng cao hơn. lại thêm đơn vị đo lường ruộng lại tính khác nhau. Một đin ruộng chúa và quan có khi gấp rưỡi hay gấp hai ruộng nhà dân. Đó là không kể các trường hợp cá biệt. ở Mường Mụa, gia đình nhà chúa chiếm toàn bộ 32 mẫu ruộng ở chiềng; ở Nà Và, Yên Châu, 90 hộ dân chỉ còn được 1/15 mẫu ruộng, ở Sông Mã chúa đất và chức dịch chiếm 46/73 mẫu.


Nguyễn Tuấn Liêu cho biết, tên Nguyễn Thế Du, một quằng nhỏ ở xã Yên Phú, Vị Xuyên, Hà Giang có: 1.800 bó mạ tức 4,32 ha ruộng toàn mường.


- 1500 bó mạ tức 3,6 ha chia cho lục rườn: ruộng hầu khách, 150 bó mạ, ruộng đón dâu: 120 bó mạ, ruộng mắc màn: 300 bó mạ, ruộng làm cối giã gạo: 1000 bó mạ; ruộng làm hiếu: 240 bó mạ, ruộng cơm sáng: 300 bó mạ, ruộng giải chiếu: 300 bó mạ.


- Ruộng tư do chiếm đoạt 950 bó mạ tức khoảng 2 ha.


- 4 mẫu rừng lấy gỗ, vầu, cọ, các lâm sản quý.


Còn dòng họ nhà chúa ở Bảo Lạc chiếm tất cả hơn 2200 ha ruộng khoảnh tức ruộng nước, trong đó riêng hộ Nông Gia Lâm chiếm 200 ha. Các chức dịch và nông dân chỉ trồng trọt trên các thửa ruộng cao, ruộng chờ mưa, ruộng bậc thang. Số ruộng đó phân cho nông dân canh tác không công theo luật tục.


Loại ruộng của dân này còn được cấp cho các bản hay gia đình làm cuông nhốc lục rườn, pụa... Đó là ruộng của người dân đồng tộc ngụ cư hay lấy từ dân gánh vác (nhốc) hoặc của những bản khác tộc. Những cuông nhốc, lục rườn phải chịu thân phận làm dân lệ thuộc. Những hộ nào nhận loại ruộng này (nà cuông) được miễn gánh vác việc bản mường, không được coi là "công dân", không được bầu bán và được đề cử làm các chức dịch của bản, mường. Tất nhiên, ở Sơn La, người dân gánh vác (páy) cũng phải được một tước phong gọi là quàng, chưởng, hay xự, rồi mới được đề cử vào một chức to, nhỏ tùy theo năng lực và tiền tài. Những dân cuông, nhốc này lại phải làm lao dịch (tô lao dịch) trên đồng ruộng, phục vụ khi nhà chủ có việc, tùy theo ý muốn của chủ. Họ được coi là người trong nhà chịu sự sai phái, đóng góp không hạn độ. Có khi, vì ở những bản xa, ít thuận tiện đi lại, chủ lấy nguột - tức một số lương thực nhất định (tô hiện vật), một số lâm thổ sản, những sản phẩm đặc biệt của địa phương. ở Đông Bắc, việc nộp tô hiện vật là phổ biến, tô lao dịch thường được phân công từng việc cho từng bản hay từng gia đình như nhận ruộng phải chịu trách nhiệm lo liệu mọi thứ khi nhà chủ có khách, khi nhà chủ có việc hỉ, việc hiếu, phân công phục dịch nhà chúa hầu hạ các mế, các nàng...



Lấy huyện Bảo Lạc làm ví dụ: Chúa đất họ Nông lấy các xóm Bản Khuông, Nà Chùa, Nà Pằn, Phiếng Sinh, Chiềng Châu, Bản Pi, Khuổi Khen, Nà Lèn, Nà Tồng suốt từ xã Hưng Đạo hiện nay đến quá phố Bảo Lạc chạy dài hàng chục cây số với hàng trăm nóc nhà, cùng 30 nóc ở xã Đồng Mu chuyên cấy gặt hơn 200 ha ruộng chúa, phục dịch nhà chúa khi có đám, cưới xin, cúng bái, giỗ chạp, khách khứa, chăn nuôi trâu bò, lợn, gà...


 Tên Lang Văn Quế, một chúa đất nhỏ ở xã Cô Ba buộc 14 bản: Bản Giệu, Nà Hem, Nà Cầm, Nà Bốp, Lũng Nô, Phiêng Sáng, Ngầm Lồm, Phiêng Vằng, Nà Cụ, Lững Tạc, Đán Đeng, Nà Lù, Nà Đậu, Nà Cắp làm ruộng, hầu hạ gia đình chúng. Quế còn buộc 3 bản Nà Lèng (Dao), Lũng Nà (H’mông), nuôi trâu và bản Phiêng Môn (Tày) có khoảng 40 hộ, mỗi hộ nuôi 2 - 3 con lợn nặng hàng tạ nộp cho chúng.


Về phương diện pháp lý, hạng dân làm cuông nhốc không được coi trọng, thường khó đặt quan hệ hôn nhân với tầng lớp dân gánh vác, không được tham gia vào việc bản mường, nhưng lại không phải làm binh dịch hay phục dịch chúa đất hay các chức dịch cao cấp khi đi công cán. Họ cha truyền con nối làm tôi đòi cho chủ. Chủ có toàn quyền với họ, có quyền nhượng, bán, nhưng không có quyền với thân thể họ (vì là người nhà). Nếu người dân gánh vác muốn lấy con gái cuông nhốc thì phải trả giá đầu người (ca hua) có khi rất cao; nếu không thì sẽ phải làm cuông nhốc như vợ mình. Chủ không được lấy cuông, nhốc làm nàng hầu, tất nhiên nếu thấy ưng thích, thì bắt lên hầu cũng khó ngăn cản, nhưng nếu để chửa thì tội rất nặng. Có điều như luật mường đã định "nếu tạo mắc tội phải phạt, phải vạ, dân phải đóng góp cho tạo".


Tuy nhiên, các cuông nhốc vẫn được ở riêng thành từng bản trên đất của chủ. Họ vẫn có gia đình riêng, cơ ngơi riêng, công cụ sản xuất riêng, được làm nương rẫy tự do trong bản làng của mình. Họ cũng được hưởng các sản phẩm của núi rừng, được quyền săn bắt, đánh cá... được tiến hành những nghi lễ riêng của bản làng.


Họ cũng được cử người đại diện của mình (trưởng bản) để liên hệ với người đại diện cho chúa hay với quan chức, người chủ của họ để nhận việc lao dịch hay nộp sản vật không với tư cách cá nhân, mà với tư cách một cộng đồng, một bản. Như vậy không thể coi họ là những tá điền của một địa chủ, mặc dù luôn bị coi là người nhà của chủ, và người chủ, cũng không phải là một địa chủ, vì nếu mất chức, mất quyền, thì họ cũng lại theo một chủ khác, mà người đại diện của mường phân công.


 ở Đông Bắc, đặc biệt ở Bảo Lạc (Cao Bằng) và Chiêm Hóa (Tuyên Quang) rất khó phân biệt hai loại này vì các chức dịch thì ít, bản lục rườn thường thuộc chúa lớn hay chúa nhỏ, ít thuộc các chức dịch. ở Yên Minh (Hà Giang), ngoài việc đồng áng, tên thổ ty ở đây còn quy định 36 loại phục dịch rất cụ thể cho từng bản nhận ruộng để căng màn, rửa bát, lấy lá gói bánh, lấy rau ăn trong tháng giêng và tháng 7, lấy dây chằng quan tài, đánh trống, cầm đuốc đứng hầu, làm cơm sáng, mài dao, làm cối nước giã gạo, đẽo cối và chày giã gạo, hầu khách, lấy cỏ ngựa v.v...


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »