tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
20.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (32)

Sự thể hiện của chế độ sở hữu của nhà vua không dừng lại ở chỗ phong ấp, phong hộ, mà còn lấy ruộng đất ban cấp cho các chùa chiền, các công thần, quan lại, họ hàng. Nhà Lý lấy đất cấp cho các chùa đúc chuông, ban thưởng cho người có công bằng hình thức thác đao điền như Lê Phụng Hiểu được cấp. Tất cả các ruộng từ thực phong, thực ấp cho đến thác đao điền, ruộng cấp cho các chùa đều lấy ra từ ruộng công làng hay do khẩn hoang mà có. Đến đầu thế kỷ XIV, do ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, mặc dù Trần Hưng Đạo kêu gọi "khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước" các đời vua cuối triều Trần đâu có lưu ý. Người dân bị kiệt sức vì đói kém mất mùa. Trong khi đó nhà vua, các quan văn, quan võ lại ít lưu ý đến dân. Người dân phải bán ruộng đất, bán con cái giá một quan tiền, mà đong được 3 thăng gạo. Giai cấp quý tộc lợi dụng chủ trương cho phép bán đất công, lập điền trang ra sức mua ruộng với giá rẻ, mua dân làm nô tỳ. Nhiều quý tộc trở thành các chủ điền trang lớn có hàng ngàn nông nô. Những cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên. Hồ Quý Ly chèo chống, nắm lấy chính quyền, cương quyết thi hành một số cải cách cơ bản nhằm cứu vãn tình thế. Ông buộc các sư tăng hoàn tục, ban hành chế độ hạn điền, hạn nô. Toàn thư ghi: "Các đại vương, trưởng công chúa không bị hạn định số ruộng, cho đến thứ dân, ruộng không quá 10 mẫu... Phần ruộng thừa ra phải dâng nộp cho nhà nước", ra lệnh cho các quan phủ, châu, huyện phải cùng nhau đi đo, khám và lập sổ sách. Năm 1401, Hồ Quý Ly ban hành phép hạn nô "chiểu theo phẩm cấp mà được nuôi nhiều ít khác nhau". Số thừa ra nộp lên nhà vua và quy định thích dấu vào trán: "Nô tỳ công thì thích kiểu hỏa châu (ngọc có tia sáng tỏa ra) và sung làm quân điện tiền. Nô tỳ của công chúa thì thích kiểu dương đường; nô tỳ của đại vương thì thích khuyên đỏ, nô tỳ của quan nhất, nhị phẩm thì thích khuyên đen, nô tỳ của các quan từ tam phẩm trở xuống thì thích hai khuyên đen". Chính sách hạn điền hạn nô tuy không được thi hành triệt để, nhưng cũng có tác dụng nhất định.


2. Thời Lê sơ (1428 - 1527)


Đến cuối thời Trần, mặc dù nhà nước đã can thiệp vào ruộng công làng xã, nhưng ruộng công của xã nào, dân xã đó vẫn được dùng. Các thái ấp của quý tộc vẫn duy trì cho đến thời nhà Hồ. Sau khi thắng quân Minh, chính quyền nhà Lê viện cớ nắm trong tay nhiều ruộng đất tịch thu từ các điền trang thời Trần, Hồ, nên đưa ra nhiều chủ trương được định vào luật nhằm can thiệp sâu vào ruộng công của công xã và phát triển ruộng tư. Để khắc phục nạn bỏ ruộng hoang, nhà vua thành lập các sở đồn điền, lực lượng lao động chủ yếu là các tù binh, các tội đồ và số quân lính đồn trú ở các địa phương theo nguyên tắc dĩ nông vi binh. Đến năm 1451, cả nước đã có 43 sở đồn điền trong đó có 6 sở nằm quanh thành Thăng Long, do các chánh phó điền sứ trông coi, lập thành các làng xã. Các đồn điền nhằm cung cấp lương thực cho bộ máy cai trị, dân ở đó làm lao dịch hay được coi là dân công xã không thấy nói đến.


Đối với nông dân, nhà Lê chủ trương khai hoang những đất hoang hóa, đặc biệt ở những vùng ven biển và trung du. Người dân ở cùng xã, cùng làng sau khi báo quan, được phép cày cấy hưởng hoa lợi. Đó là ruộng thông cáo. Người khai phá được truyền lại cho con cháu, song không được coi là ruộng tư và vẫn thuộc quyền công hữu. Khác với ruộng thông cáo, ai thấy đất hoang đến khai phá được coi là ruộng chiếm xạ, hoặc là tư điền. Một ví dụ được Trương Hữu Quýnh nêu là trường hợp anh em Hà Thọ, Hà Thiệu thấy đất thôn Biểu Nộn, xã Thủy Khê (Nông Cống) hoang hóa xin đến khai khẩn, mộ thêm 15 người, sau một thời gian khai phá được 270 mẫu ruộng tư dựng thành xã Lan Khê (sau là Phương Khê). Ruộng này khác với ruộng tư, thông thường có thể nhà nước công hữu hóa. Đến năm 1486, nhà Lê lại hạ lệnh đẩy mạnh khai hoang ở nhiều nơi, thu được kết quả khả quan. Công việc được tiếp tục thực hiện ở miền núi như đối với các chủ đất người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An. ở Thuận Hóa, Quảng Nam, vua xuống chiếu cho dân khai phá. Lịch sử các làng ven biển ngày nay thường được thành lập vào thế kỷ XV-XVI là vì thế. Người đứng chiêu dân lập ấp, lấn biển được tôn làm tiên công, được phong là Thành hoàng.


Do trong tay có được số lớn ruộng, nhà Lê sử dụng một số làm lộc điền ban phát cho những công thần có công theo Lê Lợi từ buổi đầu khởi nghĩa, đồng thời coi đó là một đặc quyền ban phát cho các quý tộc tôn thất, các hoàng tử, công chúa, các tướng lĩnh, các quan văn từ tứ phẩm trở lên. Ruộng được ban cấp có phần vĩnh viễn, như ruộng thế nghiệp, còn phần lớn chỉ được "ăn" sức dân, sau khi chết 3 năm thì phải hoàn lại. Theo số liệu năm 1471, tổng số quan lại trong diện được phong là 5370, nếu tính cả các hoàng tử, các công chúa, các phi tần và con cái, thì số ruộng cũng chiếm bốn, năm chục vạn mẫu trong số một triệu mẫu hiện có. Lộc điền được phong nhiều hơn đời Trần nhưng phân tán rải rác nhiều vùng, không quy một nơi, một làng xã. Như một thân vương được cấp 2.000 mẫu, chỉ được 640 mẫu thế tập. Rất ít người được cấp hộ dân, chỉ được cấp ruộng như một thứ lương bổng của triều đình, lấy tô thuế là chính. Nhiều người được chia, do ý tốt, đánh mức tô thuế thấp hơn triều đình, được dân mang ơn và tôn thờ. Có người cũng thâu nạp được một số dân làm nô tỳ. Đó là trường hợp hiếm có vì đến triều Lê không chủ trương duy trì chế độ nô tỳ.


Ban đầu lộc điền lấy từ đất bỏ hoang, sau đã lấy vào số ruộng công của làng xã. Thậm chí, do số ruộng bỏ hoang nhiều, năm 1430 có điều luật "xã nào nhiều ruộng đất, dân ít, phải bỏ hoang, thì cho phép các quan (phủ, huyện, châu) bảo quản cho người xã khác không có ruộng đến cày cấy. Người điền chủ bản xã không được chấp chiếm mà bỏ hoang, ai trái thì xử tội cưỡng chiếm". Như vậy là quyền công hữu ruộng đất của công xã đã bị vi phạm.


Đối với ruộng công các làng xã, nhà nước thực hiện chính sách quân điền. Cứ 6 năm định kỳ một lần, ruộng được chia lại cho dân và các quan chức từ tứ phẩm trở xuống. Như vậy, nhà nước đã nhận quyền phân định lại ruộng công nếu làng nào có, tức sử dụng quyền sở hữu tối cao về ruộng đất. Việc này đã can thiệp sâu vào quyền sở hữu công cộng của làng xã tuy có chiếu cố đến quyền chiếm hữu, sử dụng ruộng đất của người dân, nhưng vẫn đem lại nhiều lợi ích cho quan lại. Điều này được quy định trong Thiên nam dư hạ tập: "Các xã công điền cứ 6 năm định kỳ... tùy theo số ruộng nhiều ít, tốt xấu chia làm 3 hạng, nhất, nhị, tam, rồi thống kê các hạng quan viên kể cả người có tang, dưỡng bệnh, ở nhàn, đến vợ con những người bị đồ, lưu trong xã là bao nhiêu người, tính ra mỗi hạng người được bao nhiêu, ruộng nhiều thì chia theo mẫu, ruộng ít thì chia theo sào, thước, tấc theo hạng chia đều, trưng tô theo lệ. Nếu quan viên đã được cấp quân điền ở xứ khác rồi, đã đủ phần, mà ruộng bản xã cũng vừa đủ thì đình cấp. Các quan viên nhàn tản, người ở nhàn, thì chỉ cấp hai phần bớt một. Quan tứ phẩm trở lên được ruộng cấp tứ thì miễn trưng tô, còn thì theo lệ. Nếu có các hạng thăng, giáng, sung, bãi, thì phải kịp thời cấp thêm hay lấy lại, không câu nệ thời hạn, năm tháng. Người chết thì chờ hết tang.


Các xã tư điền có các hạng ruộng quan, cũng 6 năm một lần đo cấp cho người không có hoặc ít ruộng đất trong xã, theo lệ trưng tô. Người đã có ruộng, phần của vợ hay phần của mình thì không cấp. Nếu như đến kỳ hạn mà không cấp và đảo điên không theo phép thì quan ở đấy bị trị tội theo luật".


Theo phép phân chia, thì nếu hàng tam phẩm được 11 phần, hàng cửu phẩm được 7,5 phần, thì người tàn phế, mồ côi, đàn bà góa, vợ những người tù tội đồ, lưu, người nước ngoài quy thuận cũng được hưởng 3 phần. Lệ chia đất chiếu cố cho các quan chức, các binh lính đảm nhiệm bảo vệ triều đình không được hưởng lương theo chế độ ngụ binh ư nông, cho vợ các quan chức là điều đáng lưu ý. Cấp ruộng cho người già cả, mồ côi... có ý nghĩa


nhân đạo.


Chính sách đồn điền, lộc điền và quân điền là một bước khuyến khích việc mua bán ruộng đất, phát triển ruộng tư; việc chia lại ruộng theo định kỳ cùng việc khai báo ruộng ẩn lậu làm cớ để các cường hào có dịp chiếm công vi tư, đã làm tan vỡ chế độ ruộng công của công xã. Ruộng công bị thu hẹp thậm chí không còn ở các xã tư điền do số ruộng bị lấy phong cho các quan chức, các binh lính số lượng càng gia tăng do loạn lạc, chiến tranh triền miên, do số ruộng tư điền tăng gấp bội lần. Nên ở đây ta thấy Lê Thánh Tông đã chấm dứt một bước chế độ bóc lột bằng cống nạp. Với việc ban hành thuế định hàng năm 8 tiền, với việc tăng mức thu tô, thực chất phương thức sản xuất cống nạp chỉ còn là hình thức. Tuy nhiên luật Hồng Đức chưa dám đụng đến phần ruộng công của xã qua ruộng hậu, ruộng họ, ruộng dân; vẫn chấp nhận ruộng công của làng nào chia cho làng ấy, trừ trường hợp đặc biệt thừa ruộng, ít dân, bỏ hoang, và không cho phép ai được mua bán, chuyển nhượng ruộng công. Người dân công xã biến thành một đơn vị kinh tế lệ thuộc vào nhà nước, vừa cung cấp thóc gạo, thực phẩm, vừa cung cấp nhân lực: lao dịch, binh dịch... vừa cung cấp đất đai cho các quan chức, binh lính, vừa đảm bảo mức sống tối thiểu với tính nhân đạo qua việc cấp đất cho người vợ góa, người già, con côi...


      3. Thời Lê mạt (giữa thế kỷ XVI đến trước nhà Tây Sơn)


a) Đàng ngoài


Đó là thời kỳ nội chiến kéo dài, từ chiến tranh Nam - Bắc triều đến chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Ngoài ra còn nạn cát cứ của các thủ lĩnh địa phương càng làm cho xã hội mất ổn định nghiêm trọng. Đó là thời kỳ tầng lớp thống trị bạc nhược, sống xa hoa trụy lạc, tô thuế tăng cao, chỉ riêng thuế đinh tăng gấp rưỡi, ngân sách cần bao nhiêu, bổ đầu dân bấy nhiêu. Đó là thời kỳ lũ lụt, hạn hán, mất mùa "người đói ăn thịt lẫn nhau". Đó là thời kỳ phá sản của chính sách quân điền tạo điều kiện ruộng đất của công xã, bị quyền sở hữu ruộng đất của nhà vua và quyền sở hữu của tư nhân lũng đoạn. ở thời kỳ này, sự mua bán ruộng đất được tiến hành song song với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dẫn đến sự chiếm đoạt không hạn chế của địa chủ và người dân bị bần cùng phá sản.


Ruộng đất công của nhà nước gồm các ruộng của đồn điền, quốc khố, nội điện. Nhà nước rút bớt ruộng lộc điền ban cấp cho các công thần thời Lê sơ, ưu đãi cho tầng lớp công thần mới, nhưng số ruộng thế nghiệp của các công thần cũng còn đến hàng chục vạn mẫu không đủ sức lấy ruộng công của nhà nước, phải xén lạm vào đất công xã. Người được cấp ruộng chỉ được thu tô không được quyền tư hữu trọn vẹn, nên xảy ra tình trạng có làng không hoặc còn rất ít ruộng công. Lại thêm vì chiến tranh triền miên, số binh lính tăng lên đến bốn, năm vạn, số ruộng lại ưu tiên cung cấp cho binh lính mỗi người từ 5 đến 7 mẫu, đặc biệt những người chết trận, ruộng không bị thu hồi, không phải nộp tô cho nhà nước. Nạn mua bán ruộng đất và ẩn lậu ruộng đất đẩy nhanh việc tập trung ruộng vào tay bọn giàu có và cường hào. Nên có thể nói đến thế kỷ XVII quan hệ địa chủ-nông nô đã vững chắc ở nông thôn. Có điều những quan hệ đó còn được che đậy dưới cái vỏ sở hữu công xã hay nhà nước.


Sang đến thế kỷ XVIII, do sự phát triển ruộng tư, Trịnh Cương chủ trương kê khai và đánh thuế ruộng tư, nhằm kiểm soát và thu thuế, đồng thời huỷ bỏ các trang trại, tàn dư của chế độ điền trang có từ thời kỳ Lê sơ. Đó là những điểm tiến bộ, nhưng việc thực hiện được hay không còn là vấn đề. Sau chiến tranh Nam-Bắc triều, nhà Mạc thua chạy, tình hình ruộng đất ổn định được một thời gian, bọn cầm đầu mặc sức ăn chơi, tăng cường thuế khóa, mở rộng nguồn bóc lột cho nhà nước. Tình trạng thuế khóa thay đổi luôn, cuối cùng được định hình "Ruộng công hạng nhất đẳng mỗi mẫu nộp 1 quan tiền, được nộp 2/3 bằng thóc; hạng nhị đẳng mỗi mẫu nộp 8 quan tiền, 1/2 bằng thóc; hạng tam đẳng mỗi mẫu 6 tiền, 1/3 bằng thóc. Ruộng chân núi, cao khô, ruộng đồng chua nước mặn và ruộng sâu lấy mỗi mẫu 4 tiền, miễn nộp thóc. Phàm thóc thì mỗi thúng định giá 6 tiền quý (7 bát là 1 thăng, 10 thăng là một thúng). Nếu đường xa không tiện vận tải cho nộp thay bằng tiền. Đất công trừ chỗ ở ra, mỗi mẫu nộp 4 tiền quý. Ruộng tư nhất đẳng mỗi mẫu 3 tiền, nhị đẳng mỗi mẫu 2 tiền, tam đẳng mỗi mẫu 1 tiền. Đất tư trừ chỗ ở ra, mỗi mẫu nộp 2 tiền, nhị đẳng mỗi mẫu 2 tiền, tam đẳng mỗi mẫu 1 tiền. Đất công bãi trồng dâu 1 mẫu 1 quan 2 tiền, trồng khoai đậu mỗi mẫu 6 tiền, bãi cát trắng mỗi mẫu 4 tiền, ruộng cỗi mỗi mẫu 8 tiền, bãi cấy lúa mỗi mẫu 9 tiền, đầm ao công mỗi mẫu 4 tiền. Ruộng tam bảo mỗi chùa ở xã thôn được trừ thuế 1 mẫu hương đèn, mỗi chùa đại danh lam trừ 24 mẫu, mỗi chùa danh lam được trừ 12 mẫu. Ngoài ra những ruộng hậu thần, hậu phật, tế điền, kỵ điền đều theo mức thuế mỗi mẫu nộp 2 tiền".


Phan Huy Chú có nhận xét: "Phép tô thuế trải qua hai lần xét định như thế thì một tấc đất cũng không sót, không có chỗ nào là không đóng thuế. Cái chính sách vét hết lợi hình như quá cay nghiệt, nhưng cái ý lập pháp ấy là chỉ muốn cho đất không còn chỗ bỏ hoang, dân không người nào du đãng, để cho tài dụng của nhà nước được đầy đủ, hay không phải là chế độ trung chính của tiên vương, nhưng có lẽ cũng là cái thuật phú quốc của kẻ bá giả chăng?".


Sau năm 1741 lại bổ thêm tô thuế ruộng công tư mỗi mẫu 2 tiền quý.


Ngoài ra, họ Trịnh còn ban hành thuế thân hay thuế đinh. Thuế rất nặng. Nếu thời Lê Thánh Tông, thuế đinh một suất 8 tiền, thì nay (1625) quy định hạng lính không tòng chinh mỗi người nộp 3 quan 5 tiền, hạng quân mỗi người 1 quan 5 tiền, hạng dân mỗi người 1 quan 2 tiền 30 đồng; sinh đồ, cựu tướng thần, xã trưởng, hạng lão, hạng tiểu 18 tuổi, lệnh sử, điền lại, thông lại đang làm việc và nhà sư, đạo sĩ, giải phường (tức phường hát) mỗi người nộp 1 quan tiền; người tàn tật bất kể nộp 8 tiền. Tiền quý mỗi hạng nói trên mỗi năm chỉ thu 7 phần, miễn cho ba phần... để tỏ ý rộng rãi thương dân. Năm 1649, họ Trịnh giảm còn 1/2. Riêng vùng Thanh - Nghệ được miễn hoàn toàn vì là nơi cung ứng lính thường trực. Năm 1719, Trịnh Cương phải nhận xét dân nhiều nơi phải chịu quá nặng, dần bị bần cùng và phiêu bạt. Năm 1722, thuế thân thì "dân khẩu từ 17 đến 19 tuổi gọi là hoàng đinh, 20 tuổi trở lên là chính đinh, 30 tuổi trở lên là tráng hạng, 50 tuổi trở lên là lão hạng, 60 tuổi là lão nhiêu. Thuế thân của 4 hạng mỗi năm mỗi người nộp 1 quan 2 tiền và 4 bát gạo; những sinh đồ, lão hạng và hoàng đinh chỉ phải nộp một nửa".


Ngoài ra, do khắp nơi nông dân rục rịch nổi dậy, nhà Trịnh cho lấy ruộng công làm ruộng lính, lệ cấp từ 4 đến 6 mẫu cho ưu binh đóng ở 4 trấn. Dân đói lớn, nguồn thu để cấp lương bổng cho quan giảm, phủ chúa buộc dùng ruộng cấp cho những người đi sứ, cho các quan về hưu, gọi là ruộng huệ dưỡng, cho các quan văn, cả các quan đỗ đạt cao, các hoàng tử, hoàng thân, các cung tần cũng được cấp huệ lộc và ngụ lộc khi đương chức hay về hưu, ruộng học cho các trường, số lượng rất lớn.


Ruộng công bị thu hẹp. Chúa Trịnh ban lệnh quan điền (1711) nhằm cột chặt dân vào ruộng công quy định 6 năm phân định kỳ, chia làm hai loại xã: loại nộp thuế trực tiếp cho nhà nước và loại nộp thẳng cho các quan ngụ lộc, chế lộc hay tự sự. Số ruộng được chia rất ít, chỉ một vài sào, thậm chí vài thước, rồi để phải gánh mọi sưu dịch đối với nhà nước, mọi lệ tục bịp bợm của bọn cường hào, cày thuê, cuốc mướn cho bọn ăn không hưởng ruộng. Tuy nhiên số ruộng công vẫn còn nhờ ruộng hậu, ruộng họ, ruộng


phe giáp, ruộng các hội tư văn... nhưng thường bị bọn cường hào lũng đoạn.


Nhân dân các làng sống không nổi, lưu tán đi khắp nơi. Riêng ở đồng bằng đã có 3691 làng tức 40% làng bị phiêu tán trong các nạn đói những năm 20, 30 của thế kỷ XVIII, lại liên tiếp trong những năm 1774, 1775, 1777, và 1778, toàn vùng "đầy đường những thây chết đói". Năm 1786, lại mất mùa, dân trong kinh kỳ và bốn trấn đói to, "thây chết nằm liền nhau". Những cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên từ xuôi đến ngược, kết quả là họ Trịnh thất bại, sụp đổ khi Tây Sơn ra Bắc.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »