tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
21.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (33)

b) Đàng Trong


Tương truyền được Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân", Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, đã cùng con cháu về sau mở rộng đất từ Quảng Nam đến mũi Cà Mau. Lúc đầu, họ Nguyễn còn thần phục nhà Lê, đến năm 1600, Nguyễn Phúc Khoát bỏ tước công, tự xưng vương, từ đấy nước ta chính thức bị chia cắt. Chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra suốt thế kỷ XVII làm đất nước lâm vào cảnh nồi da nấu thịt. Nhà Nguyễn dần dần tiến xuống phía Nam, đến năm 1757, đất miền trong được hình thành gồm 12 dinh tới Hà Tiên. Do cần khai phá đất đai, lợi dụng những dân phiêu tán di cư từ trước, những tội đồ, tù binh, chính sách của nhà Nguyễn tập trung trong việc khuyến nông, lập đồn điền, tổ chức chiêu dân lập ấp.


Đối với việc khai phá ruộng đất, nhà Nguyễn tổ chức các làng xã ổn định nên chủ trương có khác với Đàng Ngoài.


Đối với các công xã: Nhà Nguyễn chủ trương đo đạc ruộng đất đang cày cấy đặt làm ruộng công giao cho xã "chia đều mà cày cấy và nộp thuế, tức là lấy ruộng công làng xã làm ruộng công của Nhà nước". Ruộng chia đều mỗi người 5-6 sào ruộng công, riêng lính được gấp ba số đó (từ 1 mẫu 5 sào đến 1 mẫu tám sào). Nếu ai khai phá được thêm thì được coi là tư điền.


Đối với nhà nước: Nhà Nguyễn chủ trương lập quan đồn điền và quan điền trang. Đây là số ruộng "nhà Nguyễn coi là ruộng tư, cho dân cày cấy, thuê người cày cấy mỗi kỳ sai người coi gặt, cho thuyền chở về để sung vào kho của chúa, cấp ngụ lộc cho người trong họ và bề tôi bên dưới đều lấy cả ở đấy". Số đó bằng gần 1/3 tổng diện tích ruộng đất. ở Gia Định và các nơi khác đều có.


Việc phong cấp đất cũng hạn chế về số lượng và người được phong. Theo Lê Quý Đôn, người được phong là mẹ chúa: 10 mẫu; chưởng cơ: 5 mẫu; cai cơ: 4 mẫu; cai đội: 3 mẫu 5 sào; nội đội trưởng: 3 mẫu, ngoại đội trưởng 2 mẫu rưỡi. Tất cả đều lấy ở quan đồn điền và quan điền trang không lấy của dân. Việc ban ruộng tư cho người có công cũng hạn chế. ở Đàng Trong, ruộng công và ruộng tư nộp thuế như nhau.


Điều quan trọng nhất là việc khai hoang. Nhà nước chủ trương phát triển chế độ tư hữu về ruộng đất. Ruộng đất được xem là dân điền, không phải nộp thuế, không khai hộ tịch. Người di dân vào đây làm ăn càng nhiều. Ruộng tư bao trùm bên cạnh một số quan đồn điền và binh đồn điền. Nhà nước cho phép chiêu dân lập ấp, sử dụng các dân tộc thiểu số bằng cách mua bán nô lệ "sai bắt lấy con trai, con gái của những người Thượng ở đầu nguồn đến bán với giá "người đen tóc quăn là người Mọi thực thì 20 quan/người, người hơi trắng thì hơn 10 quan/người" rồi "tự cho lấy nhau, nuôi nấng thành người, lấy việc cày ruộng làm nghề nghiệp"... Vì vậy có câu: Thứ nhất buôn trâu, thứ nhì buôn Mọi.


Ngoài các dân tộc thiểu số, có thể còn có tổ tiên người Chăm, người Mạ, người Chơ Ro, những tù binh do chiến tranh Trịnh - Nguyễn, những tội đồ, những dân phiêu tán được huy động vào khai hoang, lập làng. Chưa biết những người này là dân lệ thuộc hay dân tự do, nên ta thấy càng vào phía Nam, càng xuất hiện nhiều ruộng tư, nhiều đại địa chủ bóc lột nhân dân vô hạn độ. Theo Lê Quý Đôn: "Bấy giờ nhà giàu ở mỗi địa phương có hoặc 40, 50 nhà hoặc 20-30 nhà, mỗi nhà đều nuôi 5-60 điền nô. Trâu bò 300-400 con cày bừa, gặt hái cày bừa rộn ràng không lúc nào rảnh rỗi".


Quá trình chiếm công vi tư và thuế khóa nặng nề làm cho đời sống người nông dân càng về sau càng khó khăn, bức bối, và đã bùng nổ thành cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, chấm dứt sự thống trị của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.


4. Thời Tây Sơn (1789 - 1801)


Triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, nhất là vua Quang Trung chỉ ở ngôi vua được 3 năm rồi mất, nên vấn đề ruộng đất tuy được chú ý và đã có nhiều chủ trương hay nhưng chưa mang lại kết quả. Đáng chú ý nhất là Chiếu khuyến nông (1789). Chiếu khuyến nông được ban hành chung cho cả vùng đất từ Thuận Hóa ra Bắc, buộc kê khai lại tổng diện tích trong nước trừ những nơi đặc biệt chưa kịp làm sổ mới; tạm sử dụng loại địa bạ năm Nhâm Dần tức năm 1772 thời Lê. Trên cơ sở diện tích ruộng đất, nhà vua lệnh phục hồi dân lưu tán, cưỡng bức khẩn hóa, khôi phục nhanh chóng sản xuất nông nghiệp. Để nới sức dân, Nhà nước quy định về chính sách thuế (1790) đã thu ở những bộ phận đã cày cấy, miễn thuế cho dân lưu tán, xá thuế trong năm 1790 bị mất mùa, cả nước được xá 2/10 số thuế. Nhà vua khuyếnh khích phát triển ruộng tư, hạn chế tối đa các đặc quyền của quan lại, địa chủ. Yêu cầu ổn định có lẽ làm cho một số xã chuyển hóa thành làng tiểu nông tư hữu được phản ánh trong các sử liệu đương thời. Số ruộng công cũ của nhà nước được chiếm làm quan trại, ngự lộc, lúa thóc dùng làm lương bổng cho quan chức và các tướng sĩ. Một số đê điều, đập cống được sửa sang.


Tuy nhiên, công việc dang dở, chế độ ruộng đất chưa có gì chuyển biến lớn. Cái được rõ nhất là việc xóa bỏ đặc quyền được miễn giảm của các quan lại, thực sự có ý nghĩa cách mạng là nhân tố quan trọng trong việc nhanh chóng khôi phục sản xuất nông nghiệp, điều mà các nhà nghiên cứu Tây Sơn lâu nay đã nhiều lần nhắc đến.


5. Thời Nguyễn (thế kỷ XIX)


Ngay sau khi đánh thắng quân Tây Sơn, Gia Long đã chú ý đến việc bảo vệ công điền công thổ, nên ra lệnh cấm bán ruộng đất công và cầm cố loại ruộng đất này, coi đó là cơ sở để duy trì chế độ nước - vua và dân - làng, cơ sở của xã hội Việt Nam. Nhưng do quan hệ mua bán ruộng đất cùng với việc trao đổi hàng hóa, qua việc sử dụng tiền tệ phát triển, nên cho dù có lưu ý, ruộng công trong từng làng cũng chiếm số rất ít. Tỷ lệ ruộng công chỉ còn hơn 20%. Chế độ quân điền được sửa đổi thời hạn xuống còn định kỳ 3 năm, đối tượng chia ruộng lại nhằm ưu đãi binh lính và quan lại. Quan nhất phẩm được chia từ 14,5 đến 18 phần, còn dân thường chỉ được từ 3 đến 6,5 phần. Ngoài phần ruộng được chia, quân lính còn được cấp từ 7 sào đến 1 mẫu. Người dân lại phải nộp tô thuế, đi lao dịch, thật vất vả. Chính vì chia 3 năm một kỳ, bọn cường hào lợi dụng chiếm công vi tư, buộc nhà nước phải hạn chế tập trung ruộng của địa chủ, nhưng chủ trương đó bị thất bại. Kinh tế nông nghiệp sa sút. Dân lưu tán đông, nhà Nguyễn phải thực hiện chính sách khai hoang với nhiều hình thức đồn điền và doanh điền. Việc đắp đê ngăn nước mặn được Nguyễn Công Trứ tiến hành thành công ở hai huyện Tiên Sơn, Tiền Hải. Việc chiêu mộ tù binh, tội đồ, dân lưu tán mở đồn điền ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, ở vùng Đồng Nai, Gia Định, Kiên Giang, Hà Tiên... cũng như ở vùng đất bỏ hoang đã thấy kết quả. Đời Tự Đức, Nguyễn Tri Phương được cử làm kinh lược sứ đôn đốc việc lập đồn điền ở Nam Kỳ. Năm 1854, ông lập thành 21 cơ, nơi đã cấy thành ruộng thì lập thành 124 ấp. Sau khoảng 6-10 năm những đồn điền bị xóa bỏ, cư dân thành lập các thôn ấp thống nhất vào các khu vực hành chính thành kiểu dĩ nông vi binh. Tuy nhiên đồng ruộng bị bỏ hoang, số người phiêu bạt lại không giảm mãi đến năm 1854 vẫn còn 395.488 mẫu ruộng bỏ hoang và 85.545 suất đinh phiêu tán.


Để duy trì công điền công thổ, Minh Mệnh chủ trương ai khai hoang đất thành ruộng thì 1/2 sẽ sung công, nên ở Kim Sơn xuất hiện loại "tư điền quan cấp" loại ruộng của người khai khẩn ra nó, nhưng không được bán nhượng cho ai và sau khi chết đi, ruộng lại sung công. Đối với vùng ít ruộng công như ở Nam Bộ, Minh Mệnh chủ trương, các quan điền hay quan trại đều dần trả cho dân lập làng ấp, sung làm công điền. Sau khi thi hành đo đạc xong, Minh Mệnh đã cho thi hành ở Nam Bộ 14 điều khoản về ruộng đất trong đó có 6 điểm quy định ruộng như thế nào thì bị sung công. Ví dụ: do toàn thôn cày cấy, đất đồn điền bị bỏ hoang, đất thừa sau khi làm thành Phiên An hay châu thành Định Tường, đất ruộng hoang công tư, số tư điền ghi quá số trong sổ, số dư cho dân làm công điền (điều 11). Tiếp theo năm 1840, theo đạo dụ của Minh Mệnh, nhà vua ra lệnh cho tất cả nhà giàu phải hiến 3/10 số ruộng tư của mình để làm ruộng công chia cấp cho dân. Đồng thời còn cưỡng bức trưng thu đối với nơi có nhiều ruộng công như ở Bình Định lấy 5 phần 10 làm công điền, không bồi thường cho chủ ruộng. Trước sự phản ứng của tầng lớp quan lại, địa chủ, ý định tốt đẹp đó không thành. Số ruộng công không vượt được ruộng tư, thuế lại nặng hơn ruộng tư. Theo Vũ Đức Phúc, nhà Nguyễn chia đất nước thành 4 khu vực đánh thuế khác nhau. Thuế ruộng nộp bằng hiện vật lạc hậu hơn so với thuế ruộng nộp bằng tiền trừ trường hợp phải vận chuyển. Mức thuế ruộng đất công thường cao hơn ruộng đất tư từ 1,5 đến 3 lần. ở những nơi ruộng tư nhiều hơn ruộng công, thuế ruộng công ngang với ruộng tư. Ngoài ra mọi dân đinh đều phải đóng thuế thân rất nặng, người có công điền phải đóng 1 quan 4 tiền nếu là tráng đinh, còn dân đinh già yếu là 7 tiền. Ngoài ra còn thêm tiền đầu lõi là 1 tiền hay 30 đồng một suất đinh.


Bảo vệ chính sách công điền thực chất là bảo vệ quyền lợi của ông vua-thần, nhưng đi ngược với quyền lợi của quan lại địa chủ, một lực lượng hậu thuẫn của nhà vua. Mặc dù Minh Mệnh đã có những quyết định mạnh mẽ, nhưng xu thế ruộng tư vẫn tiếp tục thắng thế với việc mua bán ruộng đất, biến ruộng công thành ruộng tư để ẩn lậu thuế với sự hậu thuẫn của đồng tiền – kết quả của việc trao đổi hàng hóa đang mạnh lên ở các đô thị. Theo như số liệu của Y. Henry, tình hình ruộng công vào thập niên 30 thế kỷ trước, chỉ còn chiếm 20% số ruộng. Sự thống trị của thực dân Pháp đã đẩy nhanh sự sụp đổ của triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trên đất nước ta và nước ta rơi vào cảnh nô lệ kéo dài.


Để kết luận qua hình thái kinh tế xã hội cổ truyền, ta thấy có nhiều phương thức sản xuất đồng thời. Phương thức sản xuất cống nạp với sự hiện diện của các làng xã, của các nô tỳ nổi trội lên từ ban đầu thời kỳ độc lập – tự chủ cho đến thời kỳ Lê sơ. Phương thức sản xuất đó đến thời Lê Mạt bị thay thế bằng phương thức sản xuất phong kiến kiểu phương Đông với sự xuất hiện hình thức cấy rẽ trên các mảnh ruộng tư nhân chiếm gần 80% diện tích. Chế độ ruộng công công xã chỉ còn ở một số nơi, với diện tích bị thu hẹp đã trở thành một phương thức thứ yếu, tuy nhiên nó còn giữ nguyên ở vùng Tây và Tây Bắc Tổ quốc với chế độ phìa tạo, lang đạo, thổ ty và chủ đất. ở Trường Sơn - Tây Nguyên, phương thức sản xuất nguyên thủy đang chuyển mình với những ưu thế chuyển đổi từ chế độ nương rẫy sang các hình thức theo phương thức công nghiệp hiện đại với điều kiện phải chuyển đổi từ công xã nông thôn truyền thống sang buôn làng hiện đại, sang nông lâm trường với sự làm chủ của các tộc người bản địa và của người mới đến.



Nếu ta không xét đến sự phát triển ngành nghề thủ công và trao đổi hàng hóa diễn ra yếu kém của xã hội cổ truyền Việt Nam, thì ta có thể thấy bắt đầu từ thời kỳ Độc lập tự chủ cho đến thời Lý - Trần, xã hội ở miền trung tâm đất nước là xã hội theo phương thức sản xuất cống nạp, ở đấy quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về một con người:  ông vua - thần chồng lên và chi phối chế độ sở hữu công cộng của các làng xã. Nhà nước dường như tôn trọng chế độ ruộng công, ở đấy người dân thuộc làng nào, được phép cày cấy ruộng của làng đó, với điều kiện làm binh dịch và nộp tô thuế cho nhà nước, nên triều đình coi trọng việc kê khai sổ đinh các làng hơn là sổ ruộng. Nắm được dân đinh là nắm được sức lao động, còn số ruộng để nhường cho công xã quản lý và phân phối theo lệ làng. Với việc duy trì các loại ruộng tế lễ (sơn lăng và tịch điền), với việc mở rộng các đồn điền, nhà nước thu hút các dân lưu tán, các tội đồ, các tù binh, những người vốn vẫn được tổ chức làng tự quản, chỉ bị mất quyền công dân giống như côn hươn, cuông nhốc hay lục rườn trên miền ngược. Các làng quanh Hà Nội thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội vẫn duy trì đến đời Trần, đời Lê là những đồn điền của Nhà nước sau thấy đổi thành các thôn, xã như các làng bên. Những nô tỳ ở đấy phải làm lao dịch và nộp sản phẩm cho nhà nước. Đối với các quan lại, nhà Lý cấp ruộng thác đao để cày cấy, ban thưởng cho các quan trong triều, còn các quan ngoài cho ăn ruộng tính theo hộ. Đến đời Trần, do có chiến tranh chống Mông - Nguyên, nhà nước chủ trương chính sách lộc điền, phong thái ấp cho các công thần, bắt đầu can thiệp vào số ruộng công của công xã. Số diện tích dùng làm thái ấp nhiều gấp bội lần so với số đất thực phong. Các tướng lĩnh đều có thái ấp, trú ngụ tại đó, được phép lập quân đội riêng khi hữu sự. Những thành viên trong thái ấp được coi là các nô tỳ. Do số lượng các nô tỳ tăng mạnh, giảm sự lệ thuộc của các thái ấp với triều đình, nên cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đưa ra chính sách hạn điền, hạn nô, tránh việc lập các điền trang tư nhân thu nạp nô tỳ quá rộng.


Sang thời Lê, chế độ nô tỳ còn mạnh trong giai đoạn đầu. Trong bộ luật: Lê triều hình luật có đến 6% điều luật liên quan đến các nô tỳ. Tuy nhiên, chế độ nô tỳ bắt đầu suy giảm do số lượng tù binh trong chiến tranh không còn nhiều, do quyền tư hữu cá nhân về ruộng đất được khẳng định. Chế độ nô tỳ lại có dịp nổi lên ở Đàng Trong cùng với việc khuyến khích khẩn hoang của các chúa Nguyễn, mở các đồn điền chiêu tập tù binh, nhân dân lưu tán và tội đồ, đồng thời để mặc cho các chủ đất người Việt và người Hoa mua bán các dân tộc thiểu số. Việc tạo ra một tầng lớp đại địa chủ trong Nam dẫn đến việc nhà nước buộc các điền chủ trong Nam san sẻ ruộng tư thành ruộng công (30%), là việc khẳng định lại quyền công hữu ruộng đất của nhà vua, nhằm kiểm soát nhân khẩu, phục vụ cho binh dịch. Có thể nói, cho đến cuối nhà Lê, với sự tan rã của chế độ nô tỳ, của chế độ công hữu ruộng đất, phương thức sản xuất cống nạp nhường chỗ cho chế độ quân chủ hay như các tác giả thường gọi là chế độ phong kiến phương Đông.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »