NOBEL Văn học 1968: YASUNARI KAWABATA (1899-1972)
Yasunari Kawabata (âm Hán-Việt: Xuyên Đoan Khang Thành) là tiểu thuyết gia nổi tiếng của văn học Nhật Bản thế kỷ XX. Ông sinh ở một làng ngoại ô thành phố thương mại-công nghiệp Osaka. Cậu bé Kawabata mồ côi cả cha lẫn mẹ khi chưa đầy 4 tuổi. Năm cậu 8 tuổi thì bà nội và chị ruột mất. Nỗi bất hạnh, cô đơn lại đến với Kawabata năm 16 tuổi, khi người thân cuối cùng (ông nội) qua đời. Năm 20 tuổi Kawabata học văn học Anh, rồi chuyển sang học văn học Nhật ở Đại học tổng hợp Tokyo. Văn học Nhật Bản làm cho Kawabata gắn bó với nền văn học dân tộc. Văn học Anh như luồng sinh khí mới tiếp sức cho Kawabata trong việc dấn thân vực dậy nền văn học Nhật Bản khỏi áp lực ngoại lai. Ông sáng lập tạp chí “Văn nghệ thời đại”( Bungei Jidai), tạp chí “Tư tưởng mới” (Shinshicho), tạp chí “Biên niên sử văn học” (Bungei Shunju) và trở thành nhà văn đại diện cho phái “Tân cảm giác” (Shinkunkaku) với ý thức chống lại chủ nghĩa tự nhiên đang áp đảo văn chương Nhật từ sau thế chiền I. Tác phẩm của ông là sự hoà hợp giữa hiện thực và kỳ ảo. Ông suy ngẫm về nỗi đau khổ của cuộc đời và về cái chết. Những tiểu thuyết tiêu biểu của ông là Vũ nữ xứ Izu (1926); Xứ tuyết (1948); Đàn chim trắng bay mù trời (1949-1952); Tiếng gầm rú của núi đồi (1949-1954) v.v. Các tác phẩm của Kawabata được dịch ra nhiều thứ tiếng và rất nổi tiếng ở phương Tây. Kawabata nhận giải Nobel văn chương năm 1968 vì những tác phẩm xuất sắc đã kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống nghệ thuật Nhật Bản với những thủ pháp cách tân hiện đại của phương Tây để truyền tải bản chất của ý thức Nhật Bản, do đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông –Tây.
Nhân tình thế thái thời Kawabata
Với văn phong rất chau chuốt, với một thứ văn xuôi trữ tình, Kawabata viết tác phẩm “Vũ nữ xứ Izu”. Nhưng những tác phẩm ông viết sau thế chiến II thể hiện cái bi thảm, chiều sâu của cảm xúc con người Nhật Bản, thể hiện cái tất yếu cay đắng khi phải giã từ truyền thống. Cuộc sống vô nhân xưng, vô cảm của xã hội công nghiệp hiện đại tràn lấn, ngự trị đời sống Nhật Bản. Qua đó cho ta thấy ông gắn bó với truyền thong Nhat Bản. Cảnh đau lòng ấy giằng xé nội tâm nhà văn. Năm 1972, ông tự giải thoát mình bằng tự vẫn.
72% diện tích nước Nhật là núi. 67 ngọn núi lửa đang hay sẽ hoạt động truyền cho người Nhật tính kiên cường chịu đựng nghịch cảnh. Điều này ta thấy rõ ở tính cách của tiểu thuyết gia Kawabata. Cuộc đời Kawabata bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết, nhưng ông vẫn sống và làm việc hăng say. Giải thích lý do tại sao mình sống, ông nói:
Tình yêu là sợi dây duy nhất giữ tôi ở lại với đời.
Mishima Yukio gọi Kawabata là “ vĩnh viễn lữ nhân” (người lữ khách muôn đời).
Vẻ đẹp của thiên nhiên,vẻ đẹp của cảm xúc con người Nhật Bản
Giáo sư Iasiro Iukio rất am hiểu nghệ thuật của quá khứ và hiện tại của phương Đông và phương Tây nói:
- Có thể gói gọn đặc trưng của nghệ thuật Nhật Bản trong câu thơ
Không lúc nào nghĩ đến
Bạn bè thân thiết như
Khi ngắm tuyết,
trăng ,
hoa.
Nỗi nhớ bạn bè, khao khát chia sẻ niềm vui được đánh thức trong con người, khi ta đọc bài thơ Bản lai diện mục của thiền sư Dogen (âm Hán-Việt là Đạo Nguyên, 1200-1253):
Hoa thắm mùa xuân;
Cu gù tiết hạ;
Trăng thu óng ả;
Tuyết đông
Giá lạnh, tinh khôi.
Vẻ đẹp bốn mùa là những hiện tượng thiên nhiên thay nhau nối tiếp. Qua bài thơ Bản lai diện mục thiền sư thể hiện cái đẹp của cảm xúc con người Nhật Bản.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|