tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
29.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (37)

Bỏ làng ra đi là vạn bất đắc dĩ. Có làng là một vinh dự ngay với những người đã ra tỉnh ở. Già ai cũng muốn về làng, chết ai cũng muốn được chôn nơi "chôn nhau cắt rốn". Không ai muốn sống cảnh ngụ cư ở rìa làng. ở miền núi, người bị đuổi ra khỏi làng nặng hơn tội chết. Chết còn được chôn trong "mường ma" cạnh "mường người", còn được về với tổ tiên hoặc còn hy vọng được tái sinh thành người (Tây Nguyên). Nên bằng mọi giá họ xin xuất ruộng công, dù chỉ là vài thước, một sào, để cam chịu những lao dịch nặng nề, để hầu hạ lũ cường hào với mong ước theo lệ làng đến một ngày nào đó cố chiếm được một chỗ ở đình làng. "Một miếng giữa làng còn hơn một sàng xó bếp". Đọc Phan Kế Bính ta thấy được cái hủ tục của nông thôn. Đọc Ngô Tất Tố, Nam Cao, ta ngán ngẩm với những tệ nạn làng quê, hiểu được bao cảnh trớ trêu mà người dân phải cắn răng mà chịu. Cùng thời cận đại, tổ tiên ta làm gì được như những người nông dân châu Âu có thể bỏ làng bỏ xứ sang các thuộc địa dễ dàng kiếm việc làm. Làng với người châu Âu chỉ là chỗ trú chân, tuy có nặng tình hơn, nhưng cũng chưa phải là nơi gắn bó. Còn ở nước ta thời ấy, bỏ làng ra đi, họa có chăng lại kiếm được miếng đất, khai hoang lập làng, rồi lại là một anh thợ cày trên nơi mới được tái lập nguyên xi như trước. Tư tưởng thanh niên hiện nay có khác. Xóm làng không ràng buộc họ để họ bay nhảy và họ còn có chỗ bay nhảy, mặc dù họ vẫn tha thiết với những cái hay của làng quê cũ hoặc chí ít cũng còn có lúc còn mơ tưởng lại những kỷ niệm tuổi ấu thơ khi còn ở làng.


Làng tồn tại như một đơn vị xã hội, cố kết nhau một cách tự giác, là nhờ ruộng công người dân có quyền được hưởng một xuất ruộng công, từ đó thấy trách nhiệm và quyền lợi với cái làng nhỏ bé, cho dù là ở cương vị thấp kém nhất vẫn có cảm giác bản thân được làm chủ. Quyền tư hữu ra đời, nhất là tư hữu về ruộng đất, đã làm thay đổi bản chất của sự thống nhất đó, một sự gượng ép cố kết không bình đẳng giữa người chủ đất và người làm thuê, làm biến chất cái làng thành một đơn vị đơn thuần được hành chính hóa. Thật ra chính quyền trung ương cũng không muốn tước đoạt của người nông dân chút ruộng công nhỏ bé đó. Họ cũng hiểu làng ngả nghiêng, thì nước cũng nghiêng ngả, làng tan thì nước mất. Với lại có ruộng công, việc điều động nhân lực, thu thuế cũng được dễ dàng.


Nhưng để nuôi bộ máy quan liêu của triều đình, với một bộ máy hành chính từ trên xuống dưới, với những hoàng thân quốc thích v.v... nhà vua buộc phải lấy ruộng công của làng xã phong cho người trong họ và các quần thần như một thứ lương bổng, bỏ qua cho bọn cường hào ở thôn xã biến công vi tư. Rồi chiến tranh, loạn lạc thời Lê mạt, cộng với thiên tai, địch họa làm cho các làng phiêu tán. Những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra. Kết quả là nhà Tây Sơn lên nắm quyền bính đặt nền móng cho nhà Nguyễn thống nhất đất nước. Những cố gắng của Minh Mạng thực hiện chế độ quân điền cũng không ngăn cản xu thế trao đổi buôn bán qua việc sử dụng tiền tệ và việc lũng đoạn của các chức dịch. Chính sách khai hoang như muối bỏ bể, không ngăn nổi diện tích công điền công thổ chỉ còn chiếm khoảng từ 20 - 25% diện tích, nhiều làng đã biến thành làng tư điền hoặc nửa công điền, nửa tư điền.


Đến thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân qua nhiều lần cải cách nông thôn vẫn muốn giữ bộ mặt như trước để dễ bề cai trị. Ban đầu, đánh giá lầm vai trò của các dòng họ (tông tộc) - do ảnh hưởng quan điểm của các học giả thực dân khi nghiên cứu tình hình làng xã Trung Hoa và đồng nhất Việt Nam là một Trung Hoa thu nhỏ - thực dân Pháp lập ra Hội đồng tộc biểu thay thế thiết chế cổ truyền – Hội đồng kì mục. Cuộc cải cách thất bại, sáu năm sau, qua uốn nắm lại, hội đồng kỳ mục được tái lập tức là chấp nhận mô hình cũ trong quan hệ làng xã Việt Nam – quan hệ giữa những người cùng cư trú. Tiếp theo, đến năm 1941, Hội đồng kỳ mục bị bãi bỏ, được thay vào đó một Hội đồng thân hào duy nhất gồm những người trong làng có bằng cấp, phẩm hàm, chức dịch nhà nước, các chánh, phó tổng và lý tưởng hay phó lý, ít nhất là ba năm. Cuộc cải cách năm 1941 chưa kịp triển khai thì Nhật đảo chính, và sau đó Cách mạng tháng Tám thành công.


Lại thêm vấn đề đất chật người đông. Nếu ta thấy ở thời Trần, Lê, tầng lớp quan lại có công với triều đình, các quý tộc thường được phong cấp hàng trăm, ngàn mẫu, thực phong cũng hàng trăm, thời đến thời Nguyễn, số lượng đó chỉ còn hàng chục, hàng trăm, tức thua kém nhiều lần. Điều đó cũng dễ hiểu, dân số thời Nguyễn lớn hơn hẳn thời Lê. Làng xã miền Bắc, vắng những địa chủ có số ruộng trên trăm mẫu. Trong một xã hội tiểu nông manh mún, đã phân hóa giai cấp, trong làng có chăng có một số gia đình có máu mặt, còn đa phần là dân cày giàu nghèo, không chênh lệch bao nhiêu. Nếu theo số liệu của Y. Henry, thì địa chủ và ruộng đất ở ba kỳ chiếm tỷ lệ như sau:


Ruộng lúa       Bắc kỳ         Trung kỳ       Nam kỳ


   Địa chủ        Diện tích      Địa chủ        Diện tích     Địa chủ        Diện tích


50 ha trở lên   0,10%          20%   0.13%          10%   2.46%          45%


5 ha trở lên đến 50 ha         1.35%          20%   6%     15%   25.77%        37%


5 ha trở xuống          90.88%        40%   93.8%          50%   71.73%        15%


Công điền                20%             25%            3%


Nếu lấy gia đình làm đơn vị, tổng số số hộ gia đình là 4.000.000, số có ruộng là 1.876.000, không có ruộng là 2.123.000 hộ. Trong số có ruộng, gia đình có dưới 5 ha ruộng là 1.776.000 gia đình; 44.150 gia đình có từ 5-50 ha và 6.520 có trên 50 ha. Một số địa chủ ruộng nhiều, thường ở tỉnh, nuôi tá điền, một thứ gia nô được coi như người trong nhà, giao cho những chân tay tin cẩn quản lý. Còn số đông là các tiểu địa chủ, cùng với phú nông, số đông là các chức dịch trong làng. Số ít là các quan lại cấp huyện, cấp tỉnh, cho nhân dân cấy rẽ, thu tô. Số này không nhiều, giỏi lắm là 5-7 đến 8-10 hộ, phần lớn lại lấy người trong họ nội, họ ngoại xa gần, tất nhiên được coi như người trong họ, xử sự với nhau lấy ân làm chính. Có chăng những loại như Nghị Hách,


Bá Kiến tức là bọn quan lại, chức dịch, cường hào mới đã làm đảo lộn cái làng êm ả ngày trước, nhưng nào được là bao. Cùng với các lý dịch tức các chức việc hàng xã được cấp trên cử ra đốc thúc thuế má, phu phen... làng còn hội đồng kỳ mục trên danh nghĩa là dân làng xã cử ra, nhưng thực chất là những người có điền sản, có chức vụ, có phẩm hàm, những người già, rồi lại còn những cuộc họp của dân làng xã, những vết tích của chế độ dân chủ mà ta còn thấy gần như nguyên vẹn ở xã hội Trường Sơn – Tây Nguyên, cũng còn có phát huy tác dụng nhất định. Việc làng nói chung là khó nhọc, lương bổng ít nên thường ít người muốn làm, với các làng tốt bổng, thì con cái các nhà có thế lực tranh nhau làm, ít khi lọt vào tay người dân. Cụ Phan Kế Bính – một học giả am hiểu tình hình làng xã ngày xưa, đã viết:


"Vả lại tổng lý của ta, tiếng là thay mặt dân mà làm việc với quan, phần khó nhọc thì nhiều mà lương bổng thì không có. Chánh phó tổng chẳng qua cũng trông về dân làng, trông về việc phu phen đê điều, trông về mấy đám đánh nhau, hoặc ăn trộm nhỏ nhặt, chúng nó đem nhau đến cậy phân xử, trông về mấy người làm việc của làng lấy chủ hiệp cử, hoặc đôi khi tết nhất, họ có hảo tâm mà quý dĩ ít nhiều. Cái bổng nhỏ chẳng qua mươi lăm quả cau, một vài bao chè, hoặc đến năm ba đồng bạc, cái bổng lớn chẳng qua khoét được vài chục, cho chí một trăm bạc là cùng, mà khoét như thế thì khó quá, có xảo quyệt lắm mới được. Về phần lý trưởng trong làng, nhờ về cái mộc triện mà đôi khi kiếm được bao chè, dăm ba đồng bạc... còn đều trông vào dân. Dân làng nào hảo tâm thì mỗi năm cũng cấp cho lý trưởng được dăm bảy chục bạc, nhưng bạc ấy có đâu mà đưa, chẳng qua cho lý trưởng tự tiện lấy được ở món tiền công nào ra thì lấy... Còn như phó lý ăn chia tay với lý trưởng được ít nào thì được, không được thì thôi. Khán thủ, trương tuần khéo lắm mới xẻo xén được đám dân phu dăm


ba đồng, dân xã nào có ruộng nương, có thóc lúa, thì mỗi vụ gặt, công tuần phòng cũng được mươi lăm thúng thóc.


Cho nên, người làm việc ở nơi tốt bổng thì còn khá, ở về nơi đồng trắng nước trong thì có khi phải bán cả nhà. Mà họ không bòn khoét thì lấy đâu họ ăn, mà làm việc cho làng. Cái thói đục dân thì cũng đáng ghét, mà cái tình họ thì cũng đáng thương. Vả lại, họ tranh ra làm vì họ muốn chiếm cái ngôi thứ, lấy cái sỹ diện về sau thì nhiều, chớ mấy ai cầu cái lợi trước mặt mà ra".


Giữa các quan chức thường không thiếu gì mâu thuẫn, như Từ Chi nhận xét, thường chỉ là những mâu thuẫn lặt vặt, buộc họ phải luôn sống trong cảnh "bằng mặt mà không bằng lòng", sau lưng thì nói nhau chẳng ra gì, trước mặt lại cười cười nói nói như không. Cũng có khi mâu thuẫn đó bùng lên, phe nọ chèn lấn phe kia thật đáng sợ.


Còn dân làng, cái lớn hơn cả là họ được coi là một thành viên của cái làng bé nhỏ kia, được hưởng một chút ruộng công, cho dù là một sào hay vài thước, miễn là có. Vì có ruộng, họ mới được nhận là dân đinh, được vào phe vào giáp, có quyền được ra vào sân đình, được tham dự việc làng với mong ước duy nhất là sao mua được chức nhiêu chức xã, chứ không như những người ngụ cư. Đó là điều vinh dự, là lẽ sống của người dân. Đình là linh hồn của làng, nơi bàn bạc và quyết định việc công, nơi tế lễ, thờ cúng, nơi mở hội làng.


Đối với người nông dân, ngày ngày họ yên phận làm ăn, công việc làng nước mặc cho các đàn anh trong làng thu xếp. Họ chỉ mong đóng góp sao khỏi bị thắc mắc gì, bảo sao hay vậy. Họ không phải không thấy thiệt thòi, bất công không đáng có, nhưng thiệt một chút không sao. Với tâm lý "sông có khúc, người có lúc", họ chỉ mong làm sao khi về già hoặc đến đời con, đời cháu được khấm khá lên, vì họ hiểu trong cái làng nhỏ bé này đâu có "ai giàu ba họ, ai khó ba đời". Tư tưởng yên phận, tiểu nông đè nặng lên họ. Nhưng "con giun xéo lắm cũng quằn", đến khi những tầng áp bức đè nặng trên vai họ không chịu nổi nữa, đặc biệt là khi không chỉ quyền lợi của cá nhân mà là của cả dân tộc bị đe dọa thì những cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ thật dữ dội.


4. Nói đến làng là phải nói đến giáp. Từ khi vấn đề giáp được Từ Chi nêu lên đã được nhiều tác giả lưu ý. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tùng, Bùi Xuân Đính, Bùi Thiết... không phủ nhận sự có mặt của giáp, nay chỉ muốn bàn về tầm quan trọng của nó hoặc về nguồn gốc của giáp. Về phương diện dân tộc học, tôi nghiêng về ý kiến của Từ Chi. Vẫn biết nhiều khái niệm rơi rớt lại từ xã hội nguyên thủy qua các chế độ, thường phải thay đổi để thích nghi, nhiều khi bị thay thế, bị biến dạng, khóac một nội dung mới khó đoán định. Giáp cũng là một hiện tượng như vậy.


Trước hết, chúng ta cần biết, trong quan hệ xã hội, con người thường bị chi phối bởi quan hệ cùng cư trú tức quan hệ làng xóm, ngõ, quan hệ huyết thống, tức quan hệ dòng họ, gia đình bên nội bên ngoại, bên vợ. Một quan hệ không kém phần quan trọng là quan hệ lứa tuổi với những nghi thức chuyển tiếp (rites de passage). Quan hệ này xuất hiện rất sớm nhằm phân biệt thái độ của xã hội đối với từng cá nhân con người thông qua ba thời kỳ: tuổi ấu thơ, tuổi thành niên, tuổi lên lão, có phân biệt theo giới. Tuổi ấu thơ là tuổi được giáo dục để trở thành một tráng đinh, được đánh dấu bằng lễ thành đinh (rites d’initiation). Công việc của cộng đồng thường được giới này gánh vác, tuỳ theo sự phân công theo giới, thường là nam nặng hơn nữ, dưới sự điều khiển hướng dẫn của các lão niên, tuổi già, sức yếu, nhưng có nhiều kinh nghiệm và uy tín điều khiển để xây dựng và bảo vệ buôn làng. Tư tưởng của cộng đồng xưa là trọng lão (trọng xỉ), trọng những người đã cống hiến suốt đời cho xã hội, được hưởng mọi sự kính trọng trong xã hội. Các vị già làng này điều khiển mọi công việc trong làng, tráng đinh là người thực hiện.


ở người Việt, đời người chia làm ba giai đoạn: 1. Đến 6-7 tuổi, người con trai được ghi tên vào sổ hương ẩm, kiếm cơi trầu, đồ lễ trước trình Thành hoàng làng, sau trình các quan viên. Làng nhận lễ, biên tên vào sổ, người đó được dự việc làng, cũng phải đóng góp như người lớn. Đến tuổi 18, lại phải có lễ trình làng để được công nhận là dân đinh, được chia ruộng công, được ngồi một chỗ ở chiếu đình làng. Những người đến tuổi 49-50, lại phải sắm mâm cỗ khao làng để chuẩn bị lên lão. Đến khi đến tuổi 60, các cụ được miễn trừ sưu dịch, lại cũng phải bỏ không được hưởng ruộng công, được gọi là lão nhiêu hay bô lão. Nếu được đứng trong 4 cụ nhiều tuổi nhất làng, gọi là tứ trụ, ông cả, ông hai, ông ba, ông tư, các cụ phải khao làng, thậm chí khao xã. Các cụ bô lão hay tứ trụ được dân trọng được ngồi ngang với quan viên, có quyền ăn nói.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »