NOBEL Văn học 1975: EUGENIO MONTALE (1890-1981)
Eugenio Montale là nhà thơ Italia. Ông sinh trưởng trong một gia đình đông con ở Genove, Italia. Khi còn niên thiếu, cậu bé Eugenio ham đọc sách văn học, triết học, âm nhạc, hội họa của nền văn hóa châu Âu thế kỷ XIX. Montale có ý định trở thành nghệ sĩ opera, nhưng ông bỏ ý định này năm 20 tuổi. Năm 1917 ông nhập ngũ và tham gia chiến đấu 2 năm trong đại chiến thế giới I. Từ 1928 tới 1938 ông là giám đốc thư viện Gabrinetto Viesseux ở Florenz. 1938-1948 bọn phát xít cách chức Monntale, cho ông nghỉ việc. Ông sống bằng dịch các tác phẩm văn học Anh, Mỹ sang tiếng Italia. Sau giải phóng, ông tiếp tục viết báo , viết phê bình văn học và âm nhạc ở Milan. Tác phẩm đầu tay của ông là tập thơ Mai cá mực (Oss di seppia, 1925). Những tập thơ tố cáo hiểm họa phát xít của Montale là Cơ hội (Le Occasioni, 1939); Cuối đất (Finis terre, 1943). Tập thơ Bão táp và những bài thơ khác (La bufera e altro, 1956) biểu thị một nỗi khắc khoải sâu sắc đối diện với thế giới và cảm giác “chỉ sự hủy diệt là tồn tại“. Những tập thơ khác là Hợp âm và phấn mầu (Accordi e pastelli, 1962); Thơ mới (New poem, 1976. Thơ Montale biểu thị chủ nghĩa bi quan tuyệt đối. Thơ ông mang đậm vẻ đẹp của nền văn hóa Italia. Montale là đại biểu tiêu biểu nhất của thơ siêu thực hiện đại kiểu Italia (Italienischae Art des modernen Surrealismus). Eugenio Montale nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1975 vì thơ ông nêu cao tinh thần chống phát xít, ẩn chứa những cảm xúc lớn lao, những tia lửa của niềm tin.
Thơ còn tồn tại được không?
Trong buổi lễ trao giải thưởng Nobel văn học, Eugeno Montale cho rằng:
- Thơ là một sản phẩm hoàn toàn không phục vụ cho mục đích hữu ích nào, nhưng chẳng có hại gì. Thơ ca là một sự sáng tạo hay một căn bệnh tuyệt đối riêng tư và không cứu chữa được. Khi thời thế thay đổi có tính bước ngoặt thì thơ phải có một hình thức mới để đủ sức chuyển tải thông điệp của thời đại, vì thế vào cuối thế kỷ XIX những hình thức thơ cố định không còn thỏa mãn cặp mắt và đôi tai nữa. Có thể nhận xét tương tự về thơ không vần Anh và một hình thức thơ tương đương, endecacillabo sciolto (thơ mười một âm không vần của Italia).
Rồi Montale đặt câu hỏi:
- Thơ còn tồn tại được hay không trong vũ trụ truyền thông đại chúng? Vận mệnh của thơ ca sẽ ra sao?
Rồi ông khẳng định:
- Cần phải nói rằng không thể có cái chết nào xảy ra được với thơ.
Ông nêu những trào lưu thơ trong lịch sử văn học thế giới như trào lưu Pléiade của Pháp thời kỳ Phục hưng (thi phái đi sâu vào các nội dung mang tính nhân văn của thơ). Trào lưu Dolce stil nouvo của Italia ở thế kỷ XIII-XIV (Phong cách mới ngọt ngào). Ông cho rằng đó chỉ là việc thay đổi khẩu vị:
- Thơ trữ tình lớn có thể chết, tái sinh và lại chết, nhưng mãi mãi sẽ là một trong những sáng tạo nổi bật nhất của tâm hồn con người.
Montale cho ta thấy dù sự sàng lọc của thời gian có khắc nghiệt
đến đâu chăng nữa thì tinh hoa thơ vẫn tồn tại với thời gian:
- Ngọn lửa thiêu trụi thư viện Alexandria đã thiêu hủy ba phần tư văn chương Hy Lạp. Ngày nay, dù toàn cầu bốc cháy, thì cũng không tiêu hủy nổi nền sản xuất thơ ca ồ ạt của thời đại chúng ta. Khu vườn của nàng thơ bị bão tố tàn phá là điều có thể xảy ra, nhưng nhiều tập thơ sẽ đương đầu được với thời gian.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |