Sài Gòn, vào một ngày xuân, nếu muốn tận hưởng một chén trà trong sự tri âm, để nhớ về Thăng Long, không gì thú bằng được ngắm và trò chuyện bất tận về những kiệt tác mộc mạc mà thẳm sâu của gốm hoa nâu trong ngôi nhà ấm của anh Nguyễn Văn Dòng, giám đốc công ty in Trần Phú. Những lá, hoa, chim muông hiện lên thân thuộc, đầy sức sống, được vẽ bằng cả tâm hồn, sự linh cảm, gần như những ám hoạ, mềm mại và u uẩn…
Nằm ẩn mình trong một con hẻm nhỏ, nơi đây cất giữ nhiều tác phẩm quý giá của người xưa. Theo “giang hồ” đồn đại, và qua lời mách bảo của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và hoạ sĩ Lê Thiết Cương, thì Hà Nội có một hoạ sĩ tên Linh và Sài Gòn có một doanh nhân tên Dòng đang sở hữu những tiêu bản gốm hoa nâu từng làm say đắm bao nhà sưu tập trong và ngoài nước. Đã có khá nhiều nhà sưu tập nước ngoài gạ gẫm, nhưng anh Dòng một mực giữ riết. Quyết tâm của anh là chỉ lưu truyền trong nước, chứ nhất định không để “chảy máu” ra ngoài. Đến với gốm cổ chưa lâu, nhưng cách tìm hiểu, sưu tập, khảo cứu của anh Dòng khá chuyên nghiệp. Mỗi một tác phẩm anh chọn lựa đều có sự đối chiếu với nhiều bản sách gốc của các nhà sưu tập trong và ngoài nước, và sưu tập có hệ thống. Anh nói: “Từng đi các bảo tàng nước ngoài, xem những sản phẩm gốm cổ Việt Nam được trưng bày và đánh giá rất cao. Là người đi sau, tôi đau lòng lắm khi thấy đa số các di vật cổ của Việt Nam đã theo chân ra nước ngoài, và chúng ta phải cất công mang nó trở về Việt Nam với cái giá cao hơn xưa rất nhiều. Từ đó tôi bắt đầu tìm mọi cách sở hữu, gìn giữ để bảo vệ di sản cho đời sau”.
Trong các di sản vật thể mang tính bản địa thuần Việt nhất, tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước, không tìm thấy ở bất kỳ nước nào khác, chắc chắn phải kể đến gốm hoa nâu thời Lý – Trần, thế kỷ 11 – 14, thời kỳ mà Phật giáo phát triển rực rỡ, con người sống thanh thản, an hoà với trời đất… Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là thời kỳ “Phục hưng” sau đêm trường Bắc thuộc của văn hoá Đại Việt. Các học giả nước ngoài từng khen ngợi Việt Nam như một “cường quốc gốm sứ trong lịch sử”, mà tiêu biểu là gốm hoa nâu, thể hiện sự riêng biệt từ chất liệu, kỹ thuật, hoa văn trang trí, tài nghệ kiến trúc.
Có lẽ vì thế anh đã theo đuổi bền bỉ để tìm được những thạp, những bình, những liễn, âu, với kích thước khá lớn. Anh Dòng cho biết: “Theo những tài liệu tôi đọc được, gốm hoa nâu có thể được sản xuất từ hai điểm chính là Phủ Thiên Trường, Nam Định, quê hương nhà Trần, và Hoàng Thành Thăng Long. Khai quật Hoàng Thành Thăng Long, người ta đã phát hiện dấu vết các lò gốm cổ, với những bao nung, những dụng cụ sản xuất gốm như con kê để đặt gốm vào lò nung, cùng số lượng lớn các tiêu bản gốm hoa nâu rất đẹp như chiếc thạp lớn có nắp trang trí hoa sen và chiếc chậu trang trí hình bốn con chim đang đi kiếm mồi trong bốn tư thế khác nhau, xen giữa là cành lá sen và hoa sen nhỏ. Điều đó minh chứng gốm hoa nâu như một nghệ thuật đẹp, tinh tế, một nền nghệ thuật Phật giáo lấp lánh tinh thần Đại Việt với sức sống tự thân và hội nhập, ý thức tự cường dân tộc của người Việt”.
Màu nâu trầm và hoa sen là biểu tượng chủ đạo của Phật giáo, và cũng là biểu tượng của gốm hoa nâu. Men nâu có rất nhiều sắc, từ nâu nhạt đến nâu đậm gần như đen. Đặc biệt quyến rũ trong bộ sưu tập của anh là những chiếc bình có hoạ tiết hoa sen nâu uốn lượn trên sóng nước, hoa sen mọc nghiêng, được kết lại với nhau thành từng dây phóng khoáng, mềm mại, nổi bật trên nền trắng ngà của gốm. Ngay trên cùng một món, men nâu cũng pha nhiều sắc. Có những bát, chén men nâu có gờ miệng không nhẵn mà lại gãy cạnh như hình hoa cúc, trong lòng bát là những ám hoạ hoa cúc khác, rõ ràng là chén bát dùng trên bàn thờ chứ không phải để dùng trong đời sống hàng ngày. Bình ấm men nâu rất đặc sắc, có nhiều bình men nhoè. Xương gốm xốp, dày, nặng, có độ rỗng, nhờ được nung dưới độ nung cao trong bao nung. Anh Dòng giải thích: “Ngay từ khi mới ra đời ở Thăng Long, gốm hoa nâu đã xuất trình một kỹ thuật riêng: cạo xương gốm khi mới phủ men nền để tạo đồ án trang trí, sau đó người thợ gốm dùng bút lông vẽ hoa văn màu nâu trên phần được cạo ấy. Điều đó đưa đến một khoảng chênh sắc, giữa men nền – màu trắng ngà với hoa văn màu nâu đỏ”.
Đam mê những tác phẩm mang tính thẩm mỹ cao, nhất là những độc bản, quá trình phát hiện, theo đuổi và nghiên cứu để có khả năng tiếp cận mỗi tác phẩm với anh như thể chinh phục một người tình. Chỉ vào kho sách về gốm đầy ắp, anh kể: “Nghề này đòi hỏi thời gian, đam mê dữ dội, và cả sự hy sinh nữa. Nhưng cái được lớn nhất là giúp mình cảm nhận cả một dòng chảy ngầm của văn hoá, tinh thần, vẻ đẹp lịch sử của dân tộc. Chính vì vậy mà tôi luôn có ý thức sưu tầm xuyên suốt cả một quá trình. Gốm cổ có hồn lắm, khi đã chơi là nhập tâm. Sự mộc mạc và tính ngẫu hứng vừa là thế mạnh và thế yếu của gốm cổ Việt Nam. Nhưng tôi yêu cái dị biệt, cái xô lệch, cái bay bổng ấy. Nó như thơ tự do vậy. Khác hẳn với gốm Trung Quốc niêm luật chặt chẽ như thơ Đường. Có những cổ vật mình mê mẩn đến nằm mơ còn bị ám ảnh cả năm trời, chẳng bao giờ dám nghĩ mình sở hữu được. Thế rồi bất chợt một ngày đẹp trời nó tự tìm đến với mình, như thể nhân duyên vậy. Có những niềm tin nhiều khi không giải thích được”.
Chơi gốm không thể không có bạn, để giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm. Với anh, bạn chính là thầy. Anh đã học được rất nhiều từ tình bạn với nhà khảo cổ Bùi Minh Trí, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, hoạ sĩ Lê Thiết Cương.
Phan cẩm Thượng:
“Đặt một chiếc bát gốm ngày nay bên cạnh một chiếc bát gốm thời Lý Trần, người ta không khỏi băn khoăn sao lại có lúc con người sống đẹp và khoẻ mạnh như vậy, không khỏi nghi ngờ về văn minh hiện tại như là sự tụt hậu của phẩm chất nhân tính. Chiếc bát Trần chân cao, vẽ hoa văn lam loáng thoáng như cây cỏ, dáng giản đơn, đặt khít tay những tráng sĩ đánh quân Nguyên. Chiếc bát Lý thì thanh nhã, mỏng và lượn vành, như bông hoa trên tay. Kiểu dáng đồ vật nói lên cái đời sống sinh ra nó, người sử dụng nó. Chắc hẳn Lý Trần là thời kỳ người Đại Việt sống rất thanh thản trong tinh thần Phật giáo. Việc trang trí hoa văn chân chim được làm tinh xảo tới mức, người ta có cảm giác một con chim nào đó vừa đi qua, dẫm lên chiếc bát và để lại những dấu chân. Ta hình dung con người thời đó mạnh mẽ cương trực, lại có độ khoan dung của những Phật tử, họ dùng những bát gốm đen lớn để uống rượu, ăn cơm và rau bằng những chiếc bát men ngọc thanh nhã. Bát đũa tuy là đồ dùng thường nhật nhỏ mọn, nhưng cái thường nhật lại thể hiện mức độ văn hoá rõ nhất. Nhìn vào đồ gốm Lý Trần thấy rõ đây là thời võ công thịnh trị, thời mà văn minh Việt có được sự tập trung, dưới ánh sáng của tinh thần Phật giáo, có được cái mà vua Trần Thái Tông đã viết trong Khoá hư lục: Chớ có cắm cổ nhai cơm, mà uổng phí cả đời người”.
Kim Yến
sgtt.com.vn
|