tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
22.02.2010
Tư liệu
Lỗ Tấn và hai người đàn bà

Lỗ Tấn - George Orwell của Trung Quốc


Jeffrey Wasserstrom


Lối viết tự nhiên, giản dị, tầm tư tưởng sâu rộng và lập trường tiến bộ của Lỗ Tấn đã tạo nên một bước ngoặt cho nền văn học Trung Quốc hiện đại. Dưới đây là bài viết của tác giả Jeffrey Wasserstrom trên tạp chí Time.


Năm 2005, tập đoàn Penguin chi ra 100,000 USD (hơn 1,7 tỷ đồng) để mua bản quyền chuyển thể sang tiếng Anh cuốn tiểu thuyết Tôtem sói của Khương Nhung - một kiệt tác hiện đại, lấy bối cảnh Cao nguyên Nội Mông. Đó là con số chuyển nhượng bản quyền kỷ lục với một tác phẩm tiếng Trung từ trước tới nay.


Năm 2008, nhà xuất bản này cũng ra mắt bản tiếng Anh cuốn I Love Dollars của Chu Văn (Zhu Wen) - một cuốn sách ghi lại sống động mặt trái của xã hội Trung Quốc thời bùng nổ kinh tế. Penguin cũng thông báo sẽ tiếp tục giới thiệu đến độc giả quốc tế nhiều sáng tác của các nhà văn Trung Quốc với việc mở rộng chi nhánh tập đoàn này tại Bắc Kinh.


Rõ ràng, Penguin đang "đầu tư" vào nền văn học Trung Quốc. Sự lớn mạnh của một quốc gia trên thế giới cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó sẽ thu hút sự chú ý lớn của độc giả quốc tế về văn hóa, văn học. Nhưng với tôi, tin tốt nhất trong số những sự kiện xuất bản gần đây là việc ấn hành bản tiếng Anh cuốn The Real Story of Ah-Q and Other Tales of China (AQ chính truyện và những truyện khác của Trung Quốc). Nó không phải là cuốn sách giới thiệu những nhà văn Trung Quốc mới mà là tác phẩm tìm kiếm sự khẳng định tầm ảnh hưởng sâu rộng của Lỗ Tấn - bút danh của Chu Thụ Nhân - nhà văn đã qua đời năm 1936, ở tuổi 55, vì căn bệnh lao phổi.


Lỗ Tấn là nhân vật vĩ đại của nên văn học Trung Quốc - một nhà văn xứng đáng được đọc rộng rãi trên thế giới. Ngoài việc giới thiệu các truyện ngắn nổi tiếng của Lỗ Tấn như Tết Đoan Ngọ, AQ chính truyện, Nhật ký người điên… cuốn sách còn có bài viết về danh tiếng và những ảnh hưởng của Lỗ Tấn với nền văn học Trung Quốc ngày nay. Được xếp vào tủ sách kinh điển của Penguin, theo tôi, đây là ấn bản giá trị nhất của Penguin được xuất bản gần đây.


Dưới đây là những lý do vì sao tôi đánh giá cao nhà văn này. Lỗ Tấn được coi là nhà văn hiện đại quan trọng nhất ở một đất nước dân số đông nhất thế giới. Tìm hiểu tác phẩm của ông là điều rất hữu ích để độc giả có được những hiểu biết nhất định về thế giới con người. Ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, ông còn sáng tác thơ, viết sử, viết chính luận. Truyện của ông đa dạng về chủ đề và phong cách, từ những áng văn hoài cổ qua Cố hương đến những tác phẩm tái hiện hiện thực khốc liệt như Nhật ký người điên. Trên tất cả, Lỗ Tấn không chỉ là một nhà văn vĩ đại. Ông là nhà văn thiết yếu - một mẫu hình nhà văn mà qua họ, người nước ngoài sẽ đọc được mã văn hóa, sẽ nhận biết được DNA của quốc gia đó. Ví như, Herman Melville và Mark Twain đều là những nhà văn vĩ đại của Mỹ. Nhưng chỉ Mark Twain mới là nhà văn thiết yếu. Người ngoài nước Mỹ có thể thấy câu chuyện về Ahab và cá voi trắng rất hữu ích với họ, nhưng nếu muốn hiểu nước Mỹ và con người Mỹ, họ buộc phải biết Huck Finn và những bí mật của dòng sông Mississippi.


George Orwell cũng là một nhà văn thiết yếu của Anh. Giữa hai tác giả này cũng có nhiều điểm chung. Nhân vật AQ đi cùng với chủ nghĩa AQ của Lỗ Tấn thường được so sánh với Big Brother của George Orwell. Cả hai tác giả đều là những nhà tư tưởng lớn, dành phần lớn cuộc đời mình chỉ trích chủ nghĩa giáo điều, đạo đức giả xuất hiện trong các thể chế chính trị. Họ đều là những nhà vô địch trong thể loại văn xuôi. Họ đều là những cây bút hiện thực với những trang viết mỉa mai những cuộc cách mạng tự rêu rao là sẽ làm thay đổi mọi thứ nhưng cuối cùng đã kết thúc bằng những đổi thay ngớ ngẩn.


Ngày nay, Lỗ Tấn vẫn có ảnh hưởng lớn đến các nhà văn Trung Quốc hiện đại. Nhà văn Khương Nhung từng thừa nhận, Tôtem sói được gợi hứng một phần từ các tác phẩm của Lỗ Tấn. Còn Chu Văn, dù phủ nhận mối liên hệ giữa ông và Lỗ Tấn thì theo dịch giả những truyện ngắn về Trung Quốc thập niên 90 của Chu Văn Zhu, ta thấy "ám ảnh bởi một xã hội nghẹt cứng sự nhẫn tâm, vô cảm dường như là bị ảnh hưởng từ Lỗ Tấn".


Thanh Huyền


 


Hai người phụ nữ trong đời Lỗ Tấn


Phạm Tú Châu


Trong những truyện ký về cuộc đời Lỗ Tấn, có một số cuốn viết những điều mà ai cũng đã biết, chỉ riêng cuốn "Tam nhân hành Lỗ Tấn, Hứa Quảng Bình và Chu An" của Tăng Trí Trung là có ý mới về đời tư của ông, từ đó cho thấy tia sáng rực rỡ không những toát lên từ Lỗ Tấn mà còn từ hai người vợ của ông.


 


Ba người ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau làm nên tình cảm rất đặc thù giữa những người trong gia đình Lỗ Tấn. Trước kia tình cảm này là khu cấm, không được viết nhưng bây giờ cuốn truyện ký nói trên có thể cho thấy tình cảm đặc thù ấy đã góp phần bồi dưỡng nhân tính của cả ba người.


Riêng về danh phận của Hứa Quảng Bình và Chu An, theo cách nhìn của người đời, Chu An mới làm lễ cưới với Lỗ Tấn, bà là người vợ “kết tóc xe tơ”, có cưới treo chính thức của ông. Thế thì danh phận của Hứa Quảng Bình là gì? Ba tháng sau khi Lỗ Tấn qua đời, một số bạn của ông trong giới văn hóa Thượng Hải định in một cuốn sách để kỷ niệm ông. Trong sách đó không thể thiếu một bản Niên biểu về Lỗ Tấn. Họ quyết định phần năm Dân quốc trở về trước do em ruột của ông là Chu Tác Nhân viết, phần ở Thượng Hải do Hứa Quảng Bình viết, cuối cùng Hứa Thọ Trường biên tập chung. Hứa Thọ Trường cho rằng nên viết đúng sự thực về cuộc hôn nhân và tình yêu trong đời Lỗ Tấn, ông đã gửi cho Hứa Quảng Bình một bức thư, trong đó viết: “Trong Niên biểu không thể không ghi việc Lỗ Tấn kết hôn với nữ sĩ Chu An, mong chị thông cảm”.


Trong bản thảo đầu tiên, Niên biểu viết: “Tháng 6 năm thứ sáu trước Dân quốc về nhà kết hôn với nữ sĩ Chu An người Sơn Âm. Dân quốc năm 16, kết đôi với nữ sĩ Hứa Quảng Bình bằng tình yêu, trở thành bạn đời”.


Nhận bản thảo Niên biểu đầu tiên ấy, Hứa Quảng Bình gửi ngay bản viết của mình kèm theo bức thư gửi ông Hứa Thọ Trường lúc ấy đang ở Bắc Kinh: “Hứa tiên sinh cho thanh minh mấy lần về việc nữ sĩ Chu An được viết chân thực trong Niên biểu. Thực ra tôi không đến nỗi nhỏ nhen như thế. Lẽ nào ánh mắt của nhà sử học lại có thể bỏ qua dấu vết cũ ấy? Vế mối quan hệ giữa tôi và tiên sĩ Lỗ Tấn, chúng tôi cho rằng giữa chúng tôi tình đầu ý hợp, đối xử vơi nhau như đồng chí, tương thân tương kính, tin cậy lẫn nhau, bởi vậy không cần đến bất kỳ một thói tục nào. Chẳng phải chúng tôi đều chủ trương đả phá mọi lễ giáo cũ đó sao?”.


Hứa Quảng Bình không bao giờ quên điều đó, vì thế bà khuyên ông thày mình là Hứa Thọ Trường không cần dùng hai câu đầy ý tốt “kết đôi bằng tình yêu, trở thành bạn đời”. Trong bản thảo của mình, bà viết thẳng ra là: “Năm Dân quốc 1, sống chung với Hứa Quảng Bình”. Nhận được thư, Hứa Thọ Trường vui vẻ đồng ý ngay, nhưng vì để nhất trí với thể lệ chung của cuốn sách, ông đổi thành: “Năm Dân quốc 16, sống chung với Hứa Quảng Bình người Phiên Ngung”.


Chúng ta hẳn còn nhớ, ở thời đại đặc định đó, Chu An và Lỗ Tấn đều là “vật hy sinh”cho lễ giáo phong kiến. Hứa Quảng Bình vì phản kháng xã hội cũ, muốn cùng Lỗ Tấn đứng chung trên một chiến tuyến dể cùng chiến đấu nên mới kết đôi với ông. Chính vì có nhận thức ấy, Hứa Quảng Bình mới dám dùng ánh mắt của nhà sử học để nhận định về đoạn đời này, dũng cảm và phóng khoáng hơn hẳn ông thày Hứa Thọ Trường. Đồng thời, nhìn từ một góc độ khác, chính vì bà rất yêu Lỗ Tấn, yêu rất chân thành nên bà không cần so đo một chút nào.


Năm 1947 Chu An ốm (rồi mất) ở Bắc Kinh. Bà đã từ chối nhận tiền trợ cấp của Chu Tác Nhân mà bằng lòng nhận tiền trợ cấp của Hứa Quảng Bình, bà nói: “Bà Hứa đối với tôi rất tốt, bà ấy hiểu được tôi đang nghĩ gì. Bà ấy nhận việc duy trì cuộc sống cho tôi, thường xuyên gửi tiền đến. Bà Hứa quả là người tốt”.


Còn Hứa Quảng Bình thì chẳng những giúp đỡ bà Chu về mặt kinh tế mà còn rất thông cảm với cảnh ngộ của bà Chu. Tròn một năm ngày mất của bà Chu An, trong một bài tản văn, Hứa Quảng Bình viết: “Lỗ Tấn vốn có bà phu nhân họ Chu… Bà tên là An, các bậc bề trên về đằng mẫu thân bà thường gọi bà là An Cô”. Câu cuối cùng này chứa đầy tình cảm và là một nét bút rất tế nhị trong cả bài tản văn.


Lúc này là sau ngày Lỗ Tấn mất đã hơn mười năm. Ông đã để lại hai “vị vong nhân”. Thời buổi chiến tranh ly loạn, người trên miền Bắc, người dưới miền Nam song đều quan tâm tới nhau là điều hiếm có. Người đọc không thể không đồng ý với lời ghi nhận của tác giả cuốn Tam nhân hành:


“Sự đời dằng dặc, đời người bể dâu, người đầu tiên ghi lại họ tên của nữ sĩ Chu An trong tác phẩm của mình lại chính là bà Hứa Quảng Bình”. Câu đó cũng còn để nói, trong những ngày hiu quạnh của Chu An, người đầu tiên dành cho Chu An niềm thương yêu và lòng tôn trọng chính là Hứa Quảng Bình, người dường như là về danh phận có mối xung đột khó có thể ai nhường cho ai theo thói thường.


Nhà Văn số 4/2007.


 


Con sên rơi xuống đất


Cảng Mạch


Tháng 10-1927, khi Lỗ Tấn cuối cùng đã dũng cảm hô vang “Ta đã yêu được rồi” ở Thượng Hải và sống chung với Hứa Quảng Bình thì Chu An, người phụ nữ hiền lành và đáng thương ấy, mới ý thức được rằng con sên trên tường kia không bao giờ có thể bò lên tới đầu tường được nữa.


1. Lần này tới Thiệu Hưng, mục đích chính của tôi là muốn đến thăm nhà cũ của Lỗ Tấn, bậc Đại sư văn học hiện đại mà tôi mong mỏi đã lâu. Hồi còn bé, những thú vị con trẻ và vẻ thần bí trong bài Từ vườn Bách thảo đến nhà sách Tam Muội đã in sâu trong tâm trí tôi. Cho đến thời thanh niên, khí phách lớn lao “Ta lấy máu ta dâng lên hoàng đế” của ông càng khích lệ tôi dũng cảm tiến lên trên con đường khám phá đời người, đó là việc nghĩa không thể quay đầu lại.


Nhưng sau một ngày tham quan và tìm kiếm, sau khi lẳng lặng suy nghĩ và gạn hỏi, cuối cùng tôi phát hiện ra sức chú ý của mình thực ra đã lặng lẽ chuyển khỏi vị chủ tướng của phong trào văn hóa mới Ngũ tứ từ lâu. Ở ngôi nhà lớn màu xám đen không hề gây chú ý ấy, ở một góc nhỏ từ lâu đã bị người ta bỏ qua hoặc quên lãng, tôi đã nhìn thấy một người phụ nữ, một phụ nữ bó chân, cài trâm, cuộn mình trong chiếc áo bông màu xám thẫm ngồi trước bàn trang điểm năm 1906, ngây người nhìn chữ Hỷ đỏ chói nhưng đã rách ở trên tường, thẫn thờ.


buồn bã.










"Tôi như một con sên, từ chân tường leo lên từng tý một. Tuy bò rất chậm, nhưng thế nào cũng có một ngày leo tới đầu tường".




(Lời bà Chu An, vợ cả nhà văn Lỗ Tấn)


Người phụ nữ ấy là vợ cả của Lỗ Tấn, tên là Chu An. Từ tấm ảnh cầm trong tay, tôi thấy bà vầng trán rộng, cặp lông mày đẹp duỗi dài, đôi mắt buồn buồn nhưng bình tĩnh, dường như bấy lâu nay vẫn lẳng lặng truyền cho những ai nhìn thấy đôi mắt ấy nỗi cô đơn, thanh vắng cùng sự cam chịu và đau khổ mà không ai biết cho. Bà lúc này đã bị gió cát tháng năm mài giũa cho trơn láng và khô khốc, bình thản và khiêm nhường.


Mỗi khi lo liệu xong cơm nước cho cả nhà, bận rộn và làm xong công việc gia đình cả một ngày, niềm vui lớn nhất và duy nhất của bà là được yên tĩnh ngồi bên mẹ chồng, sòng sọc hút mấy điếu thuốc. Thuốc hút bằng điếu ống là một thứ rất hay, chẳng những có thể làm tê dại thần kinh của bà, giúp bà quên đi nỗi bất hạnh của mình trong chốc lát, mà điều quan trọng hơn là nó có thể đưa bà trở lại thời thiếu nữ ngọt ngào, đầy ắp tình cảm êm đềm. Chỉ có trong hồi ức, bà mới dường như thực sự tìm thấy một chút gì đó thuộc về mình.


Năm 1906, cô gái gần ba mươi tuổi ấy cuối cùng đã có được lễ cưới mà cô khổ sở trông đợi trong bảy năm trời. Từ nhà mẹ đẻ ở ngõ Đinh Gia trong thành Thiệu Hưng, ngồi kiệu hoa trong tiếng đàn vui tai, trong tiếng chúc mừng của họ hàng bè bạn, theo tiếng pháo nổ đì đùng, cô từng bước vào cổng lớn bằng đá có hai cánh cửa sơn đen số 19 phường Đông Xương. Ngay giây phút bước qua cổng lớn ấy, cô vô cùng sung sướng và xúc động, bất giác mặt cô đỏ bừng lên bởi vì từ khi cô đi qua cánh cổng ấy, cô đã thực sự trở thành dâu nhà họ Lỗ [1], một phần tử không thể thiếu trong gia tộc sĩ đại phu phong kiến đã suy vi. Nhưng cô dâu hiền lành không hề biết chú rể đứng bên kiệu lúc này đang nghĩ gì. Nét mặt thoáng lo âu và thái độ nghiêm trang, thận trọng khi nói cười của chú rể dường như dự báo cuộc hôn nhân này là bất đắc dĩ và bất hạnh. Ngày thứ hai sau khi cưới, người ta không thấy cử chỉ thân mật như keo sơn của hai vợ chồng mới cưới như mong đợi. Ngược lại, bà Lỗ đã tinh ý kinh sợ khi thấy mắt con trai sưng mọng, mặt xám ngoét. Rõ ràng là nếu không khóc suốt đêm thì chú rể đã không phải ở vào trạng thái đó.


Cô dâu im lặng ngây người ngồi một bên. Bây giờ cô đã biết, cái gọi là đám cưới mà cô ngày đêm tơ tưởng không hề đem lại niềm vui bất ngờ cho cô, càng không đem lại niềm hạnh phúc mà cô mong đợi. Một phụ nữ, nhất là một phụ nữ chín chắn thì hạnh phúc lớn của người ấy hẳn phải là có được người chồng của riêng mình, nhưng người đàn ông trước mắt, người đàn ông vừa kết hôn với cô rốt cuộc có thuộc về cô hay không đây? Lần đầu tiên tự đáy lòng cô nảy ra một chút nghi vấn như vậy. Cô dâu lúc này đã có dự cảm không tốt lành song cô vẫn có tâm lý chờ mong sự may mắn.


Chu An một chữ bẻ đôi cũng không biết, chẳng hề nghĩ và cũng không thể nghĩ được rằng tình cảm giữa cô và Lỗ Tấn đã tan tành như xác pháo trong lễ cưới, hoặc nói cho đúng hơn, giữa họ với nhau chưa hề có tình cảm gì gọi là tình yêu. Đám cưới của họ không hề là kết tinh của tình yêu thương mà chỉ là sự hiểu lầm nho nhỏ của lịch sử. Ở gia đình một đại gia phong kiến thường có sự tổ hợp quái dị như vậy.


3. Người gây nên sự tổ hợp quái dị ấy là bà mẹ Lỗ Tấn tên là Lỗ Thụy. Ở nhà họ Lỗ, kể từ ông nội của Lỗ Tấn là Chu Phúc Thanh mắc vào vụ án ở trường thi thì gia đình gặp nhiều tai họa. Bà Lỗ Thụy ở góa vào tuổi trung niên, cuối đời thì con chết trước, nhưng một loạt nỗi không may đó không khuất phục nổi người phụ nữ ra khỏi An Kiều Đầu, một vùng nông thôn ở Thiệu Hưng. Bà một mìmh nuôi dạy ba anh em Lỗ Tấn, đảm đương gánh nặng gia đình bên chồng. Chịu ảnh hưởng của bà và được bà nâng đỡ, nhà họ Chu cuối cùng đã làm xuất hiện một “linh hồn dân tộc Trung Hoa” là Lỗ Tấn, đồng thời còn sản sinh ra “Chu gia tam kiệt” về mặt lịch sử hiện đại Trung Quốc như giới sử học đặt tên cho.


Tôi dừng lại trước phòng ngủ của bà Lỗ Thụy rất lâu. Tôi cố sức hình dung ra nhất cử nhất động năm ấy của người mẹ vĩ đại trong gian phòng đơn sơ, thô kệch này. Trên giường bằng gỗ về phía nam, đến nay vẫn còn trưng bày giỏ kim chỉ mà bà dùng để vá may hồi ấy, trong đó có kéo, túi đựng phấn vẽ, túi kim, bàn là… Ở đây, từng mũi chỉ một, bà đã khâu nên một cuộc sống và tương lai cho nhà họ Chu, chuẩn bị cho hạnh phúc và niềm vui của con trai.


Năm 1899, Lỗ Tấn mười tám tuổi, học trường Thủy sư (hàng hải) Giang Nam ở Nam Kinh. Bà Lỗ Thụy bắt đầu lo liệu hôn nhân cho Lỗ Tấn. Bà cảm thấy con trai đến tuổi 18 cũng nên có gia đình riêng cho mình. Người xưa nói “thành gia, lập nghiệp, trị quốc, bình thiên hạ”, việc có gia đình bao giờ cũng đặt ở đầu mọi sự. Nàng dâu tương lai chính là Chu An. Chu An tuy chưa từng giáo dục nhà trường nhưng cô hiền hậu và thông minh, nết na, tính rất ôn hòa, lại giỏi giang chăm chỉ, nên được bà Lỗ Thụy rất yêu mến. Bà thường tự lấy làm may mắn, không ngờ mình lại chọn được vợ tương lai cho con trai tốt như thế.


Việc cưới xin vốn định vào năm 1901, như năm đó vừa hay ông nội Chu Phúc Thanh của Lỗ Tấn bất ngờ được tha. Bà Lỗ Thụy định cưới vợ cho con, sau đó đón bố chồng, hoàn thành ước mong là “song hỉ lâm môn”. Nhưng cuối năm ấy, nhờ có thành tích học tập xuất sắc, Lỗ Tấn đã tốt nghiệp loại ưu và được cử sang Nhật học tiếp. Lễ cưới đành phải lùi lại.


Năm 1906, Lỗ Tấn 26 tuổi, còn Chu An đã là gái gần 30. Bà Lỗ cảm thấy việc cưới xin không thể trì hoãn được nữa bèn nói dối là ốm, giục Lỗ Tấn đang ở Nhật phải về ngay. Tất nhiên Lỗ Tấn không biết đó là sự lừa dối tốt bụng, vội vàng trở về nhà. Đối với cuộc hôn nhân này, ngay từ đầu ông đã tỏ thái độ phản đối. Là một thanh niên tiến bộ, nhiều năm học tập xa nhà, không ngừng được tư tưởng mới hun đúc, ông không muốn tiếp nhận cuộc hôn nhân bao biện, nhưng từ nhỏ đến lớn, ông đều rất yêu quý mẹ. Nhiều năm sau, ông thổ lộ tâm lý về cuộc hôn nhân đó: “Tôi có một bà mẹ rất yêu tôi. Vì cảm kích tình yêu đó của bà, tôi đành phải làm việc mà tôi không hề tự nguyện”. Hôn nhân có thể gán ghép nhưng tình yêu thì chưa bao giờ có thể miễn cưỡng. Lỗ Tấn và Chu An là hai người xa lạ rất ít khi tiếp xúc và không có tiếng nói chung, nhưng một ngày của năm 1906 đã cùng bước vào động phòng được bà mẹ kỳ công bố trí. Từ ngày bước vào động phòng, họ bắt đầu thành vợ chồng, nhưng thực chất của cuộc hôn nhân này là đến ngày thứ tư sau ngày cưới, Lỗ Tấn đã lên đường trở lại Nhật. Liền trong ba năm sau đó, giữa hai vợ chồng không hề có một mẩu tin cho nhau. Cho tới năm 1919, trước khi đón mẹ và Chu An đến Bắc Kinh, hai vợ chồng mỗi người đều ở mỗi nơi, sống cuộc sống độc cư của nhà tu khổ hạnh. Lỗ Tấn từng thử kêu gọi trái tim mình thích Chu An nhưng mỗi lần cố gắng là một lần đổ công, đổ sức ra sông, ra biển, bởi vì tình yêu xưa nay đều phải nhờ có sự giao lưu tâm linh mới có thể nhen nhóm được đốm lửa. Nhưng hai người lại ở hai cực của lĩnh vực tinh thần thì làm thế nào mà thực hiện được sự giao lưu về mặt tâm linh?


4. Tháng 10-1927, khi Lỗ Tấn cuối cùng đã dũng cảm hô vang “Ta đã yêu được rồi” ở Thượng Hải và sống chung với Hứa Quảng Bình thì Chu An, người phụ nữ hiền lành và đáng thương ấy mới ý thức được rằng con sên trên tường kia không bao giờ có thể bò lên tới đầu tường được nữa. Sau khi cố gắng đến sức mòn, lực kiệt, con sên rơi xuống đất nằm bẹp ở đó, không còn tinh thần và không có ai giúp đỡ, chỉ vô vọng ngước nhìn tường cao vòi vọi.


Về cuộc hôn nhân bất hạnh giữa Lỗ Tấn và Chu An, không ít người quy lỗi cho lễ giáo phong kiến, còn bất kể Lỗ Tấn hay Chu An, cả hai đều là nạn nhân. Giữa họ không có tình yêu nhưng số phận lại ghép họ thành chồng vợ. Vì là vợ chồng nên giữa họ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ và hai người đã không hề thoái thác. Lỗ Tấn làm tròn nghĩa vụ chu cấp cho Chu An và rất tôn trọng nhân cách độc lập cùng địa vị của bà trong gia đình. Chu An ngoài việc hết sức làm tròn mọi công việc của người vợ thảo hiền, còn bầu bạn với mẹ chồng, không một lời oán thán trong suốt già nửa đời, tới lúc mẹ chồng mất ở Bắc Kinh mới thôi.


Phạm Tú Châu dịch từ Trung Hoa văn học tuyển san số 6/2006.


Nguồn: Nhà văn


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »